Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow DẠY TỪ HÁN VIỆT Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG (Nguyễn Thị Ly Kha)
DẠY TỪ HÁN VIỆT Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG (Nguyễn Thị Ly Kha) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/11/2008

DẠY TỪ HÁN VIỆT Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

* Nguyễn Thị Ly Kha

1.Đôi điều về thực trạng

Có thể nói, hiện nay không một ai xem nhẹ và càng không có ai phủ nhận sự tất yếu của việc phải đưa từ Hán Việt vào nội dung dạy học ngữ văn từ cấp học đầu tiên đén hết cấp học cuối cùng của bậc học phổ thông. Trong những năm gần đây vấn đề dạy học từ Hán Việt ngày càng được coi trọng. Nếu ở chương trình và sách giáo khoa (SGK) cải cách, việc dạy học từ Hán Việt hầu như chỉ được đề cập ở lớp 4, 5 bậc tiểu học và lớp 6, 7 bậc THCS, thì ở chương trình và SGK chỉnh lí,vấn dề từ Hán Việt được đưa vào cả ở bậc THPT. Và ở dự thảo chương trình sắp tới, ở bậc THCS nói riêng, học sinh sẽ được học và phải học từ Hán Việt trong suốt cả bốn năm chứ không phải chỉ học qua hai lớp 6, 7 thì coi như đã giải quyết những nội dung cần yếu về lớp từ này cho học sinh (như những chương trình và SGK trước đây).

Thế nhưng, cho đến nay, những năn mở đầu của thế kỉ XXI nhà nước các cấp nói riêng và ngành giáo dục nói chung vẫn chưa có nhiều thành tựu và kinh nghiệm dạy học lớp từ này. Đây đó, xung quanh việc giảng dạy từ Hán Việt vẫn không hiếm những chuyện thật mà như đùa, những chuyện cười ra nước mắt, những cách “giảng giải” kiểu như tranh họa đồ là loại tranh mà người ta vẽ rồi đồ lại tức tô lại; du lích cũng như du ngoạm, hiểu thị cũng như chỉ thị, ra lệnh, v.v. và v.v. còn trong bài làm của học sinh thì lỗi dùng từ Hán Việt chiếm một tỉ lệ thường chẳng “khiêm tốn” một tí nào.

Dạy và học lớp từ đạc biệt là như thế nào cho có hiệu quả để góp phần nói viết đúng tiếng Việt văn hóa vẫn còn là một bài toán nan giải đối với chúng ta, những người làm công tác dạy học bộ môn tiếng Việt ở nhà trường và cả những nhà nghiên cứu về ngôn ngữ,phương pháp dạy học (PPDH). Bởi thế, bài viết này của chúng tôi, không dám có tham vọng gì hơn ngoài việc mong muốn góp thêm một tiếng nói về phương pháp giảng nghĩa từ Hán Việt, dạy dọc yếu tố Hán Việt và tổ chức thực hành từ Hán Việt cho học sinh THCS.

2. Dạy từ Hán Việt

Như chúng ta điều biết , về bản chất, dạy học từ Hán Việt cũng không khác gì dạy học các đơn vị từ vựng khác. Tuy nhiên, do đăc thù của lớp từ Hán Việt trong các tài liệu về PPDH tiếng Việt, vấn đề dạy học từ Hán Việt vẫn được tách thành một mục riêng với những lưu ý thiết thực. Lâu nay, ở THCS, HS được cung cấp những kiến thức phổ thông cần yếu về từ Hán Việt thông qua kiểu bài “Mở rộng vốn yếu tố Hán Việt”, và “Mở rộng vốn từ”. (trong các giờ dạy học văn, việc giảng dạy từ Hán Việt, nếu có, cũng chỉ dừng lại ở những chú giải từ khó (đã nêu sẵn trong SGK) khi dạy học những tác phẩm văn học Việt Nam trung đại. Hầu như chưa thấy ai quan tâm đúng mức tới việc vẫn có thể dạy học lớp từ đặc biệt này qua những giờ học những tiết hoc của phân môn văn học và phân môn làm văn, đặt biệt là trong những tiết giảng văn, và trả bài làm văn).         2.1.Giảng dạy nghĩa của từ Hán Việt

Có thể sử dụng phối hợp hoặc sử dụng một trong các phương pháp giảng nghĩa từ nói chung: 1 dùng tranh ảnh, mẫu vật thực, 2 dùng từ điển, 3 định nghĩa khái niệm, 4 đối chiếu so sánh với những từ đồng nghĩa trái nghĩa, 5 đặt từ vào văn cảnh mà từ xuất hiện, 6 phân tích từ tố và giải nghĩa từ trên cơ sở giải nghĩa từng yếu tố cấu tạo từ.       

Nhìn chung ba phương pháp 4, 5, 6 vẫn thường được sử dụng nhiều hơn, nhất là phương pháp thứ 6. Điều này cũng dễ hiểu, do đặc điểm của từ Hán Việt, hầu hết là từ ghép (những từ đơn như phòng, ban, mục (hạng mục)… được Việt hóa cao độ, hầu như chẳng có ai nhầm lẫn khi sử dụng những kiểu từ này nên không cần đề cập tới ngoài ra, trong cảm thức của những người Việt đương đại, những từ này là từ “ thuần Việt”), thành thừ việc phân tích từ tố, giảng nghĩa từ tố trên cơ sở đó tiến hành giảng nghĩa từ là một cách làm hữu hiệu.

Khi giảng nghĩa từ Hán Việt theo phương pháp giải nghĩa từng thành tố (còn gọi là phương pháp chiếc tự), theo chúng tôi, chúng ta cần lưu ý các việc sau:

a.Tiến hành giải nghĩa từ theo trình tự thích hợp

a1. Phân tích từ (chỉ rõ từ đó gồm những yếu tố nào).

a2. Tiến hành giải nghĩa từng từ tố, theo quy trình: (1) xác định nghĩa gốc, (2) xác định nghĩa phái sinh, (3) xác định nghĩa được dùng trong từ đó. Ở bước này, thường sử dụng phương pháp thông báo – giải thích dưới hình thức diễn giảng.

a3. Giảng nghĩa từ.

a4. Chọn ngữ cảnh cho từ xuất hiện (đặc câu có sử dụng từ vừa được giải nghĩa).

a5. Hướng dẫn học sinh tìm các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, hoặc tìm những cách diễn đạt tương đương.

Chẳng hạn, giải nghĩa từ hiếu đễ. Ta có thể tiến hành các bước như sau:

* Phân tích: từ gồm hai yếu tố Hán Việt “hiếu” và “để”. 

* Giải nghĩa từng từ tố: “hiếu”: hết lòng với cha mẹ,- 1 nối được chí ông cha, - tang cha mẹ; “để”: thứ bậc – hòa thuận và kính trọng anh chị;

1 Mũi tên – dùng để biểu thị sự chuyển nghĩa (từ nghĩa gốc sang (các) nghĩa phái sinh).

* Chọn nghĩa được dùng để tạo từ “hiếu để”: nghĩa chính của từ tố “hiếu” và nghĩa phái sinh của từ tố “dễ”;

* Giải nghĩa từ “hiếu đễ”: có hiếu với cha mẹ và biết kính trọng anh chị.

* Chọn ngữ cảnh cho từ xuất hiện, ví dụ: Những tấm gương hiếu đễ như họ thời nào cũng có

* Hướng dẫn học sinh tìm các yếu tố đồng nghĩa, gần nghĩa, cách diễn đạt tương đương (khi thực hiện bước này, cần giải thích vấn tắt về nghĩa của những từ ngữ gần nghĩa). Ví dụ: Những từ gần nghĩa với “hiếu đễ”: hiếu thảo (có lòng yêu kính cha mẹ), hiếu thuận (có lòng kính yêu và biết nghe lời cha mẹ), hiếu hạnh (hết lòng với cha mẹ và có nhiều nết tốt), hiếu hữu (kính yêu cha mẹ và hòa thuận với anh em), hiếu tử (người con hết lòng yêu kính cha mẹ).v.v…

b. Lưu ý những trường hợp chuyển nghĩa, nhất là những trường hợp đồng âm (thường gặp đồng âm ở cấp từ tố). Ở phần này, tùy thời lượng, có thể giới thiệu sơ qua cho học sinh biết. Chẳng hạn, hiếu có từ tố đồng âm có nghĩa là ham thích, ví dụ, hiếu chiến, hiếu thắng, hiếu danh, hiếu học, hiếu sự,…

2.2. Dạy học kiểu bài :Mở rộng vốn yếu tố Hán Việt

a. Mục đích, yêu cầu của kiểu bài:

Cung cấp vốn yếu tố Hán Việt; Tích cực hóa vốn từ Hán Việt.

B. Tổ chức dạy học:

* Thông thường, vốn yếu tố Hán Việt cần cung cấp, được sắp xếp thành từng nhóm, dựa theo ngữ nghĩa, chẳng hạn, nhóm các yếu tố chỉ quan hệ xã hội…

* Thường được xếp vào phân môn từ ngữ, rải đều ở lớp 6,7 (chương trình sắp tới sẽ rải đều từ lớp 6 đến lớp 9 trong sự tích hợp giữa văn và ngữ, giữa từ ngữ với ngữ pháp và phong cách học, giữa việc dạy sử dụng từ, vận dụng quy tắc ngữ pháp và chữa lỗi dùng từ, lỡi ngữ pháp).

c. Cách thức dạy học

Thông thường, hầu hết giáo viên  “bám chắc SGK”, lần lượt theo từng bước: giới thiệu ý nghĩa chung của toàn nhóm – giải nghĩa từng yếu tố Hán Việt (hầu hết chỉ nêu nghĩa chính), - nêu các từ có chứa yếu tố Hán Việt đó, lần lược hết yếu tố này sang yếu tố khác và – cuối cùng thực hành (hầu hết theo bài tập đã cho trong SGK).

d. Một vài đề xuất

Cách tiến hành trên không sai nhưng khó đạt hiệu quả cao, vì học sinh chủ yếu dừng lại ở mức độ nhớ theo SGK và theo bài giảng của giáo viên, khó có thể chuyển sang các mức độ cao hơn (và cần đạt được) như hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá về những yếu tố được đọc. Theo chúng tôi, khi dạy kiểu bài này, cần thực hiện các việc cơ bản sau:

d1. Tiến hành giải nghĩa yếu tố Hán Việt đó theo quy định: (1) xác định nghĩa gốc (nghĩa chính), (2) xác định nghĩa phái sinh (nghĩa phụ). Ở bước này, thường sử dụng phương pháp thông báo – giải thích dưới hình thức diễn giảng, lựa chọn ví dụ minh họa.

d2. Hướng dẫn học sinh tìm các từ Hán Việt có chứa yếu tố Hán Việt tương đương (giáo viên nên giải nghĩa vắn tắt cho một số từ).

d3. Xác định và phân biệt yếu tố Hán Việt vừa giảng giải với yếu tố đồng âm, tìm các từ Hán Việt có yếu tố đồng âm ấy. Cách thức thực hiện bước này cũng tương tự các bước trên (giải nghĩa yếu tố đồng âm, giải nghĩa từ có yếu tố đồng âm). Đây là một việc vất vã, tốn kém thời gian (trong SGK không có) nhưng lại có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng giờ học. Bởi lẽ, chỉ qua yếu tố đồng âm, học sinh mới hiểu đầy đủ hơn về yếu tố được học. Đồng thời, hiểu biết về yếu tố đồng âm sẽ giúp các em tránh được những sai sót đáng tiếc. Ngoài ra nội dung này còn góp phần tăng thêm vốn từ Hán Việt và tích cực hóa vốn từ Hán Việt cho các em.

Ở bước hai và bước ba, GV có thể chia lớp thành vài nhóm nhỏ, tổ chức thi tìm từ.

d4. Hướng dẫn học sinh đưa một số từ Hán Việt có yếu tố mới học vào lời nói của mình (đặt câu đoạn có sử dụng từ Hán Việt có yếu tố Hán Việt vừa học).

Bốn việc trên cũng phải tiến hành tuần tự, không tùy tiện, tùy hứng.

Ví dụ: “Mở rộng vốn yếu tố Hán Việt (các yếu tố chỉ không gian)”, mục: yếu tố hạ, ta có thể tiến hành như sau:

- Xác định nghĩa chính, hạ: thấp, dưới, vd: hạ lưu.

 Xác định nghĩa chuyển, hạ: (1) thấp kém, hạ đẳng; (2) xuống, giảm, hạ thổ, hạ giá.

- Hướng dẫn học sinh tìm các từ có yếu tố theo nghĩa chính trong bài, ví dụ: hạ lưu (đoạn sông ở gần cửa sông), hạ du (vùng đất ở vùng hạ lưu sông), hạ tầng (nền tảng bên dưới), hạ bạn (đồng bằng vùng cửa sông hoặc ven biển), hạ chi, hạ cam,…

- Hướng dẫn học sinh tìm một số từ có yếu tố hạ theo nghĩa chuyển, ví dụ: hạ lưu (tầng lớp bị coi là thấp kém, hteo quan niệm cù), hạ mã (xuống ngựa), hạ sơn (xuống núi; rời bỏ vùng núi), hạ sách (phương kế được xem là không hay nhất trong các phương kế), hạ màn, hạ huyệt, hạ mình, hạ cố, hạ cấp, hạ thủy, hạ huyệt, hạ thủ, hạ hỏa,…

- Xác định và phân biệt với yếu tố đồng âm, tìm từ Hán Việt có chứa yếu tố đồn âm ấy, ví dụ: hạ: rảnh rỗi, nhàn hạ, hạ: hè, mùa hạ, hạ chí (ngày mặt trời ở xa nhất về phía bắc xích đạo, khoảng 21,22 tháng 6 dương lịch), hạ thiên (ngày mùa hè/ bầu trời mùa hè), hạ vũ (mưa mùa hè),…; hạ: chúc mừng, hạ công (chúc mừng thành tựu đã đạt được/ chúc mừng việc thắng trận).

- Hướng dẫn học sinh đặt câu có sử dụng từ Hán Việt có yếu tố hạ nghĩa chỉ không gian, vd: Đồng bằng miền tây Nam Bộ là vùng hạ lưu sông Mêkông. Dân hạ bản toàn những người ăn sóng nói gió.

2.3. Dạy thực hành từ Hán Việt

Trí thức về từ Hán Việt nói riêng về các quy tắc ngôn ngữ nói chung chỉ được cũng cố, được khắc sâu khi người học thực hành vận dụng. Việt thực hành từ Hán Việt, có thể tiến hành ngay trong giờ học từ Hán Việt, hoặc tiến hành thông qua giờ dạy học các phân môn khác (văn học, làm văn). Thông thường, trong tiết học về yếu tố Hán Việt, từ Hán Việt, học sinh thường tập vận dụng bằng cách tập đưa một số từ Hán Việt vào lời nói của mình. Người dạy cần chọn những từ có tần số sử dụng cao và tương đối khó để cho học sinh luyện tập, có thể chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm tập sử dụng vài từ. Sau đó, giáo viên tiến hành sữa chữa chung cho cả lớp.

Cần đa dạng hóa các loại hình bài tập. Chẳng hạn, bên cạnh kiểu bài giải nghĩa yếu tố Hán Việt, tìm từ Hán Việt có yếu tố đã được học (theo thông tin mà chúng tôi có được, hầu như giáo viên chúng ta chỉ dừng lại ở hai kiểu bài này, đây là một hạn chế cần khắc phục vì hai kiểu bài tập này chỉ mới dừng lại ở mức độ kiểm tra trí nhớ), người dạy cần chú trọng phối hợp sử dụng các kiểu bài tập điền từ, bài tập giải nghĩa từ, bài tập chọn nghĩa thích hợp, bài tập chọn từ thích hợp với nghĩa đã cho trước, tìm từ Hán Việt có yếu tố đồng âm, bài tập phát hiện và sửa chữa lỗi dùng từ Hán Việt,… ví dụ:

(1) Tìm từ Hán Việt cho từng nghĩa sau và đặt câu với từ đã tìm được: Nơi cư dân đông đúc, buôn bán nhộn nhịp. Dùng quyền của mình mà định đoạn công việc theo ý kiến riêng, không kể gì đến ý kiến người khác; Đối lập một cách sâu sắc không thể dung hòa được; ác một cách thâm hiểm. (2) chọn từ và nghĩa tương ứng: (a) Từ: đồng bọn, đồng đảng, đồng bang, đồng bối, đồng đạo, đồng hao, đồng bào. (b) Nghĩa: Người cùng bọn với kẻ bất lương; người mà thần linh hoặc hồn người chết nhập vào trong một lễ cầu xin; Thuộc cùng một bọn với kẻ bất lương; Từ dùng để gọi những người cùng một giống nòi, một dân tộc, một tố quốc với mình nói chung, với hàm ý có quan hệ thân thiết nhu ruột thịt; Người cùng một quốc tịch với nhau mà đang cùng ở một nước ngoài; Từ dùng để gọi nhân dân nói chung, không phải là quân đội hoặc không phải là cán bộ; Người cùng theo một đạo, một tôn giáo trong quan hệ khác nhau; những người cùng một lứa, một lớp (nói tổng quát); Cùng làm rể một gia đình. Mẫu: đồng đạo Người cùng theo một đạo, một tôn giáo trong quan hệ với nhau. (3) Tìm và điền từ thích hợp vào chỗ trống trong từng câu sau: - Quân nhân nhà Trần đã thể hiện rõ…......anh hùng của dân tộc Việt Nam.

- Lão Hạc tuy nghèo nhưng rất………, lão không muốn nhờ vả, phiền lụy đến ai

- Hôm nay, ở Cao Lãnh,………. Rất mát mẻ, dễ chịu.

- Truyện Kiều là một……………về sử dụng ngôn ngữ.

- Nó phát âm tiếng Anh rất……………

- Điểm đề nghị sữa đổi đã được Chính phủ…………..

(4) Trong các câu sau, từ Hán Việt nào bị dùng sai? Tại sao? Hãy chữa lại cho đúng. – Tú Xương là một nhà thơ trào phúng cụ phú, ông luôn được xem là bậc thầy của làng thi ca trào phúng Việt Nam. – Những đoàn quân kiêu hãnh của nhà Trần đã chiến thắng giặc Nguyên Mông một cách kịch liệt. – Truyện Kiều là một chuẩn mực về sử dụng Tiếng Việt.

Song song với việc đa dạng hóa các loại hình bài tập, GV cũng nên đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học thực hành. Chẳng hạn, có thể kết hợp giữa hình thức kiểm tra miệng và kiểm tra viết, cho cả lớp cùng thực hiện một đề hoặc chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm giải quyết một bài tập khác nhau thi đua giữa các nhóm, làm sổ tay dùng từ, học thuộc bảng từ Hán Việt v.v…

Có thể nói, nếu học sinh hiểu được nghĩa của từ Hán Việt thì các em sẽ nắm được từ Hán Việt và nắm được cách dùng nó trong ngôn ngữ. Do đó, ở nhà trường phổ thông, việc dạy học từ Hán Việt nói riêng, dạy học tiếng Việt nói chung, không phải ở sự giải thích mà là ở việc luyện tập, việc sử dụng.

Cập nhật ( 30/11/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online