Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Đường đi của từ ngữ (Nguyễn Đức Dân)
Đường đi của từ ngữ (Nguyễn Đức Dân) PDF In E-mail
Người viết: TS Nguyễn Đức Dân   
12/04/2014

ĐƯỜNG ĐI CỦA TỪ NGỮ

*TS Nguyễn Đức Dân

Trong cuộc hội thảo về sách giáo khoa cải cách (SGK) Tiếng Việt 10 tại thành phố Hồ Chí Minh (22.6.1991), nhiều câu hỏi bổ ích và lý thú đựơc đặt ra thảo luận. Khi bàn về cách sử dụng từ, một vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm : Thế nào là nghĩa gốc, thế nào là nghĩa phái sinh của một từ ?

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

         Tào khê nước chảy hãy còn trơ tro.

SGK giảng : Từ “mòn” thứ nhất là nghĩa gốc; từ “mòn” thứ hai là nghĩa phái sinh. Đúng như vậy. Nhưng giải thích sao đây cho thấu đáo hơn để qua một ví dụ ấy có thể vận dụng giải thích được những trường hợp khác? Theo cảm nhận thông thường, nghĩa gốc của một từ là nghĩa ban đầu của từ đó. Về sau, từ nghĩa gốc phát triển thành nghĩa khác được gọi là nghĩa phái sinh.

Lại một câu hỏi : Có qui luật hình thành nghĩa phái sinh không? Trong ngôn ngữ học, có những nghiên cứu về sự thay đổi nghĩa của từ ngữ.

Từ thuở khai thiên lập địa đã có mưa nắng, gió bão, đã trải qua bao cuộc bể dâu, vật đổi sao dời. Những từ liên quan tới các hiện tượng thiên nhiên như thế xuất hiện sớm nhất. Và những từ liên quan tới mặt mũi, tay chân đầu tóc con người cùng những hoạt động đi lại, ăn uống, nói cười, hô gọi, thức ngủ, sống chết của con người cũng xuất hiện sớm nhất với mọi dân tộc và ở mọi nơi trên trái đất. Chúng lập thành lớp từ ngữ cơ bản của một ngôn ngữ. Sau đó mới xuất hiện các lớp từ khác. Dù có rất nhiều từ mới xuất hiện thì vẫn không đủ sức diễn đạt hàng loạt hiện tượng mới phát hiện, những khái niệm mới nảy sinh hàng ngày trong cuộc sống ngày càng phong phú, trong thới giới muôn hình vạn trạng này. Thế là phải dùng cả những từ cũ để diễn đạt những sự vật mới. Sau đó, từ nghĩa mới này lại nảy sinh nghĩa mới khác. Cứ thế tiếp diễn và hình thành con đường phát triển nghĩa của từ đó. Giữa các nghĩa của một từ nhiều khi tưởng như chẳng có gì liên quan với nhau. Không ít nhà văn đã thú vị kê ra những nghĩa kyhác nhau, những cách dùng khác nhau của một từ nào đó. Nguyễn Công Hoan viết về từ NHÀ, còn Nguyễn Tuân viết về từ ĂN…

Sự phát triển của một từ thường rất phức tạp, nhưng có những điểm chung có thể nêu thành những qui tắc khái quát. Chúng ta minh họa điều này qua vài từ ngữ liên quan tới con người.

Hãy bắt đầu từ cái “chân” người. Chân là bộ phận dưới cùng. Công dụng chính của nó là để đi và đứng trên mặt đất. Bộ phận mà loài vật dùng để đứng trên mặt đất cũng  được gọi là “chân”. Đó là cách chuyển tên gọi một bộ phận con người thành tên gọi một bộ phận loài vật : chân hổ, chân trâu, chân gà…

Khi con người làm ra những đồ vật thì phải đặt tên cho chúng. Dùng chân đứng trên mặt đất nghĩa là dùng chân để đỡ cho khỏi ngã. Bộ phận nào của đồ vật để đỡ cho vật đó khỏi đổ cũng đựoc gọi là “chân”. Lần chuyển nghĩa này đã mở rộng từ tên gọi loài vật sang tên gọi đồ vật : chân kiềng, chân vạc, chân bàn, chân cột, chân đế, chân từơng, chân móng, chân chống (của xe đạp), chân kính (đồng hồ)…

Cong người, loài vật, đồ vật gắn vững trên mặt đất bằng chân. Nhưng lại có những loài vật bám vào cây cối, vào vách đá…Đứng trên mặt đất, đứng trên cây, bàm trên cây hay bám vào vách đá giống nhau ở chổ gắn, bám vào một vật khác. Khái quát được như vậy, người Việt đã chuyển nghĩa của từ “chân sang” một bước mới : Bộ phận mà con vật dùng để bám vững vào một vật khác hoặc nơi mà vật này gắn vững vào một vật khác cũng được gọi là “chân”. Vậy ta có : chân chim, chân cào cào, chân thằn lằn, chân thạch sùng, chân rết, chân mày, chân răng, chân tóc, chân mộng, chân van…

Cuộc chuyển nghĩa lần thứ tư của từ “chân” liên quan tới cách gọi căn cứ vào sự giống nhau về hình thức hoặc tương đồng về nội dung giữa loài vật và sự vật.

Vịt dùng chân để bơi. Trong tàu thủy, bộ phận máy có cánh quạt nước tạo nên sức đẩt con tàu chuyển động, vì thế cũng được gọi là “chân vịt”. Con rết dài, chân tỏa ra hai bên. Trong hệ thống thủy nông, từ con mương chính chạy dày tỏa ra hai bên những con mương, con máng phụ tựa như những con rết, vì thế chúng được gọi là “hệ thống mương máng chân rết”.

Nhiều tổ chức, nhiều đoàn thể có các chi hội ở mỗi tỉnh, mỗi chi hội lại có các chi nhánh nhỏ hơn ở huyện, phường, xã…Vẽ hệ thống tổ chức này thành sơ đồ, sẽ có các đường từ trung tâm tỏa đi các nơi kàm ta liên tưởng tới chân con rết. Ấy thế là các chi hội cơ sở trở thành các “tổ chức chân rết”.

Căn cứ vào hình thức giống nhau, chúng ta có các lối nói “mạng thêu chân rết”, “tường nứt chân chim”, “lưỡi hái chân chấu”, “liềm mòn hết chân chấu”, “bệnh chân voi”…

Nếu chỉ chú ý tới nét nghĩa chân là bộ phận thấp nhất của con người và vật thì chúng ta trỏ nơi thấp nhất của núi là chân núi, nơi thấp nhất của đám mây là chân mây. Tuy là trời cao đất dày, nhưng bầu trời dưới con mắt của chúng ta, cũng có nơi thấp nhất. Nơi đó mang tên chân trời. Cách gọi chân đê, chân đèo…cũng theo ý nghĩa ấy.

Chân đứng xác lập vị trí con người trong không gian trên hành tinh này. Từ vị trí không gian chuyển thành vị thế xã hội của con người. Ấy thế là từ “chân” được chuyển sang một nghĩa mới biểu trưng cho con người trong một vị thế xã hội, một tổ chức, một tập hợp nào đó : “có chân trong ban chấp hành”, “ông ta giữ một chân trong hội đồng quản trị”. Cũng theo ý nghĩa ấy là lối nói “còn thiếu một chân tổ tôm”.

Sự chuyển nghĩa vừa trình bày nằm trong một qui luật khái quát hơn dưới đây về sự chuyển nghĩa của từ ngữ : Trong các ngôn ngữ luôn có khuynh hướng dùng tên các bộ phận của con người để đặt tên cho các bộ phận của loài vật, sự vật căn cứ vào những sự tương tự về hình thức hoặc nội dung, thuộc tính.

Các từ trong lớp từ cơ bản cũng thường được chuyển nghĩa theo cách ấy. Trong các ngôn ngữ khác cũng xảy ra những hiện tượng chuyển nghĩa tương tự.

Chúng ta lấy từ “rễ cây” (la racine) của tiếng Pháp làm ví dụ. Một công dụng cơ bản của nó là để “gắn chặt cây trên mặt đất”. Từ đây, bộ phận nào của một vật dùng để găm chặt, gắn chặt vào một vật khác đều có thể gọi là “rễ”. Vậy đó là “la racine des dents” hoặc “la racine dentaire” (“rễ răng” = chân răng), “la racine des cheveux” (chân tóc), “la racine des ongles” (chân móng tay, móng chân, móng vuốt)…Người ta cũng dùng từ này để đặt tên cho những sự vật, hiện tượng tương tự : “La racine rachi dienne” (rễ dây thần kinh cột sống). Với danh ngữ “chính đảng có nhiều chân rết trong nước” thì có thể dịch “Parti qui ade profondes racine dans le pays”.

Cho nên qui luật chuyển nghĩa, từ nghĩa gốc sang nghĩa phái sinh theo cách gọi của SGK, mang tính phổ quát, nghĩa là chung cho nhiều ngôn ngữ.

Nghĩa của từ “chân” vừa trình bày không phụ thuộc vào một câu nào cả. chúng ta nói những nghĩa đó đã xác định rõ ràng.

Bây giờ chúng ta nói tới cách dùng một từ theo phép liên tưởng- nghĩa của từ đó hình thành lâm thời trong từng câu cụ thể. Đây là tên gọi khái quát, ứng với phép liên tưởng, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ…thường gặp trong giáo trình phong cách học.

Chúng ta minh họa qua từ “ngủ”, một từ cũng thuộc lớp từ cơ bản và được nhắc tới thường ngày.

Nghĩa của một từ có thể phân tích thành nhiều phần, mỗi phần gọi là một nét nghĩa. Từ những nét nghĩa này sẽ đi tới các pgép liên tưởng.

Khi ngủ, con người thừơng nhắm mắt, nằm im (bất động) và các giác quan tạm ngừng hoạt động. Vậy từ “ngủ” phân tích thành 3 nét nghĩa:

(I) NGỦ = a) nhắm mắt

                            b) bất động

                            c) tạm ngừng tri giác.

Qui tắc liên tưởng I : Đối tượng nào có ít nhất nội trong ba nét nghĩa trên đều có thể lâm thời nói rằng nó đang “ngủ”.

Một búp-bê để đứng mở mắt, để nằm nhắm mắt. Khi đặt búp-bê nằm theo nét nghĩa (a), bé gái có thể nói : “Khẽ chứ! Con búp-bê của em ngủ rồi !”. Nếu một con quay có thể quay tít đến mức tưởng như đứng yên, lúc đó theo nét nghĩa (b), trẻ em có thể nói : “Xem kìa, con quay của mình đang ngủ !”.

Từ mỗi nét nghĩa lại có thể suy ra một điều gì đấy. Chẳn hạn:

(III) NGỦ = a1) nhắm mắt – không nhìn thấy

                              b1) bất động – (tạm ngừng) hoạt động

                              c1) tạm ngừng tri giác – không nhận thức được xung quanh

Qui tắc liên tưởng II : Đối tượng nào có ít nhất một trong các hệ quả của ba nét nghĩa trên cũng đều có thể lâm thời nói rằng nó đang “ngủ”.

Khi nói “Chi đoàn lớp mình ngủ suốt học kỳ vừa qua” em học sinh đã thực hiện phép liên tưởng thứ hai đối với hoạt động của chi đoàn lớp em : Suốt học kỳ không hoạt động gì.

Một thị trấn miền núi vốn đã bé nhỏ, háng quán lèo tèo, vắng vẻ. Ngày tháng mười chưa cười đã tối nên chiều mùa đông thị trấn càng vắng lặng dường như không còn hoạt động gì. Cũng theo cơ chế liên tưởng II, ở nét nghĩa (b1), chúng ta nói “Chiều mùa đông, thị trấn miền núi heo hút này đi ngủ sớm”.

Tương tự, mặt trời mọc là bắt đầu một ngày làm việc. Thế là mặt trời cũng làm việc, cũng hoạt động. Khi mặt trời lặn, nó ngừng họat động và nhà thơ có thể liên tưởng “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm” (Xuân Diệu).

Điều thú vị là với người Việt, cuâ “mặt trời ngủ” được cói là liên tưởng, là “nhân hóa”, thì với người Pháp chỉ là cách nói rất thông thường, giống như “mặt trời lặn” trong tiếng Việt : “le soleil qui se couche” hoặc “le soleil couchant”.

Một ví dụ về liên tưởng theo nét nghĩa (c1) : Vì không quan tâm và từ đó không tri giác, không nhận tức được thời cuộc nên có lối nói “trùm chăn ngủ kỹ”, ngủ một giấc 30 năm, sau giải phóng mới bừng tỉnh dậy”.

Có thể khái quát tiếp qui tắc II như sau : Từ một hệ quả của ba nét nghĩa của từ “ngủ”, nếu lại nảy sinh một hệ quả mới, thế thì đối tượng nào có thuộc tính mới này cũng có thể lâm thời nói rằng nó đang “ngủ”.

Một người cha sai con làm một việc gì đấy, quá lâu mà chưa xong, có thể nói “Năm ơi ! Con ngủ ở dưới bếp à ? Sao mãi chưa xong !”. Từ hệ quả “tạm ngừng hoạt động” tất nảy sinh một hệ quả khác : “không thực hiện được công việc” trong thời gian dài. Từ “ngủ” đứng được trong câu trên là như vậy.

Bây giờ chúng ta bàn về từ đi của từ “mòn”.

Có lẽ từ “mòn” đầu tiên xuất hiện để trỏ hiện tượng các vật thể trong thiên nhiên bị mất dần từng ít trên bề mặt do dãi dầu mưa nắng : đá mòn. Như vậy, nghĩa gốc của từ “mòn” liên tưởng tới các đồ vật, vật thể:

Mất dần từng chút, tùng chút trên bề mặt do cọ xát. Đó là : đế giày mòn, đũa mòn, cán dao mòn, đường mòn Hồ Chí Minh, lối mòn…

Các sựu vật trừu tượng cũng có thể mất dần từng chút chút : sống mòn, chết dần chết mòn, kiến thức mòn dần…

Từ đây có thể khái quát : Từ “mòn” sẽ mang ghĩa gốc khi nói về những vật cụ thể bị mòn. Từ “mòn” sẽ mang lại nghĩa phái sinh khi nói về những vật trừu tượng bị mòn.

Với khái quát này, có thể bạn sẽ hỏi : Trong câu “Anh ta đã ăn mòn bát mòn đũa ở nhà ấy, nhưng mới đây lại chạy theo con gái ông giám đốc một công ty xuất nhập khẩu” thì từ “mòn” được coi là mang nghĩa gốc hay nghĩa phái sinh?

Về câu hỏi trên, chúng ta phân biệt : Đứng riêng thì trong “bát mòn”, đũa mòn” mang nghĩa gốc, nhưng khi kết hợp với nhau trong một thành ngữ, tục ngữ thì chúng lại mang nghĩa phái sinh. Bởi lẽ, thành ngữ và tục ngữ thường có nghĩa biểu trưng, còn gọi là nghĩa bóng. Những nghĩa này không nói về từng sự vật cụ thể nữa.

Phần đầu câu trên có nghĩa là “Đã từ lâu anh ta có quan hệ thân thiết (kể cả ăn uống) với gia đình ấy…”. Phải gần gũi, thân thiết thì mới ăn uống ở nhà người ta. Nhưng căn cứ vào đâu mà nói rằng “đã từ lâu” có quan hệ ấy ? Điều này liên quan tới qui tắc liên tưởng II nêu ở trên : “mất dần từng chút từng chút” có một hệ quả hiện tượng mất dần này xảy ra trong một thời gian lâu dài. Do vậy, “mòn bát mòn đũa” có nghĩa là “đã lâu rồi”.

Vậy do qui tắc liên tưởng II, việc gì thất thiệt (= mất mát) và xảy ra trong một thời gian lâu dài thì có thể dùng từ “mòn” diễn tả hiện tượng ấy. Ví dụ : “Bảng vàng chưa chiếm, ngày xanh đã mòn” (Lục Vân Tiên); “Ông đã đũng quần ở cái văn phòng ấy” hoặc “Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”…Nghĩa các từ “mòn” trên đây đều là phái sinh. Ý nghĩa, xảy ra lâu dài” của từ “mòn” khiến chúng ta dễ dàng giải thích tục ngữ “Gái một con trong mòn con mắt” là “gái một con thì ngắm mãi (rất lâu) mà vẫn không chán”.

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (1988) còn cho rằng từ “mòn” còn một nghĩa thứ ba là “Đã được nhiều người, nhiều nơi dùng đến mức trở thành nhàm”. Nghĩa này được thể hiện trong các câu như “Hình ảnh sáo mòn”, “Từ dùng đã quá mòn”, “Cách diễn đạt đã mòn”…

Thực ra, từ “mòn” phái sinh trong những câu trên cũng là kết quả của sự liên tưởng theo qui tắc II vừa nêu.

Trong lý thuyết thông tin, điều gì càng bất ngờ với người tiếp nhận tin, thì lượng thông tin mang tới càng cao, người nghe càng chú ý. Mỗi lần dùng lặp lại một hình ảnh, một từ ngữ cho một lối nào đó là một lần giảm đi sự bất ngờ, giảm đi lượng tin của sự kiện. Từng chút, từng chútm càng dùng nhiều thì lượng thông tin càng giảm đi, nghĩa là lượng thông ti giảm đi theo thời gian. Vậy chúng ta nói “lượng thông tin bị mòn đi !”, tức là bị mòn nghĩa đi.

Con đường phát triển nghĩa của từ MÒN là như thế !

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online