Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Nhạc sĩ Thái Đắc Hàng (Trần Phước Thuận)
Nhạc sĩ Thái Đắc Hàng (Trần Phước Thuận) PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
07/07/2014

NHẠC SĨ THÁI ĐẮC HÀNG

* Trần Phước Thuận

          Phát triển từ điệu Nói thơ Vân Tiên, có các điệu nói thơ ra đời ở Nam Bộ như  Nói thơ Sáu Trọng, Nói thơ thầy Thông Chánh, Nói thơ Sáu Nhỏ, Nói thơ Hai Miên… nhưng chưa có điệu nói thơ nào được truyền bá sâu rộng trong nhiều lãnh vực như điệu Nói thơ Bạc Liêu của Thái Đắc Hàng, một ngôi sao nghệ thuật sáng chói ở vùng Bạc Liêu - Cà Mau.

          Nhiều tài liệu ghi Thái Đắc Hàng sinh năm 1920, nhưng vào mùa mưa năm 1999 tôi và nhà báo Ngô Tuấn đến thăm ông tại nhà riêng của ông ở Cà Mau, chính ông đã xác nhận ngày tháng năm sinh của ông là ngày 11 tháng 7 năm Mậu Ngọ (17/8/1918) tại làng An Xuyên, tổng Quản Long, tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc thành phố Cà Mau), con ông Thái Đắc Tân một nông dân ở làng Tân Đức (Quản Long) và bà Lê Thị Giai, người gốc ở Rạch Rập (Quản Long). Năm 20 tuổi đã thành hôn cùng cô Tạ Thị Nuôi, một thôn nữ ở Rạch Tàu (Mũi Cà Mau). Lúc sinh tiền, ông cùng gia đình ở tại số 130/4 đường Lâm Thành Mậu, phường 4, thành phố Cà Mau. Ông vốn là người con thứ tám cũng vừa là con út trong gia đình nên thường được gọi là Tám Hàng hoặc Út Hàng.

          Ngay từ thưở nhỏ Thái Đắc Hàng đã say mê cổ nhạc và ưa đi đó đi đây, ông đã học đờn ca với nhiều người nhưng đến năm 22 tuổi mới chính thức thọ giáo với ông Sáu Xiếu một nhạc sĩ rất giỏi, người gốc Mỹ Tho. Lúc đầu ông học đờn kìm sau đó chuyển sang ghi ta; trong các bài bản học được ông thích nhất là bản Vọng cổ nên đã bỏ nhiều thì giờ để luyện tập, vì vậy ông đã thành công lớn với bản Vọng cổ và đã nổi bật với bản này trong những lần đờn ca tài tử .

          Đầu năm 1945, Thái Đắc Hàng tham gia Cách mạng, trước tiên ông được phân công công tác thông tin tuyên truyền ở xã Duyên An, một năm sau được rút về huyện Ngọc Hiển làm đội phó đội Thông tin lưu động của huyện. Năm 1946, lại có lệnh cấm hát Cải lương và cấm ca Vọng cổ. Đây là thời điểm các đoàn văn công đang phát triển rất mạnh và bài ca Vọng cổ cũng được áp dụng rất phổ biến trong công tác tuyên truyền. Vì vậy sau lệnh cấm có một số cán bộ thông tin và nhạc sĩ ở Bạc Liêu đã cố sáng tạo những giai điệu mới để thay thế những bài ca nhạc cổ. Thái Đắc Hàng đã thành công lớn trong việc làm này, ông đã căn cứ vào bài thơ Mười thương (1) của Phi Bằng (một tác phẩm trong tập thơ của Ty Thông Tin Tuyên Truyền của tỉnh Bạc Liêu xuất bản vào năm 1946), để chế tác ra điệu Nói thơ Bạc Liêu. Ông đã hoàn thành sản phẩm nghệ thuật này tại ấp Bàu Tròn, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước vào đầu năm 1948. Ông Thái Đắc Hàng kể lại lúc đó ông là đội trưởng đội Thông tin lưu động của huyện Ngọc Hiển đang công tác tại đây.

          Theo Lư Nhất Vũ và Lê Giang : “Lối nói thơ Bạc Liêu chẳng qua là sự kế thừa và phát triển từ các điệu nói thơ Vân Tiên, thơ Sáu Trọng…; ảnh hưởng của chúng rất gần gũi nhau, người nghe rất dễ phân biệt ở các nét, nhạc mở đầu từng đoạn hoặc vuốt đuôi ở cuối câu nhạc với tiếng đưa hơi ơ… ờ. Tuy nhiên giữa chúng còn thể hiện một vài cái khác biệt: Ở lối nói thơ Vân Tiên thuần túy, làn điệu chủ yếu sử dụng điệu thức Nam hơi Ai; ở lối thơ Sáu Trọng hoặc tạm gọi là biến thể của nói thơ Vân Tiên, làn điệu vận động trên sự kết hợp giữa hai điệu thức Nam ai và Oán,  riêng lối nói thơ Bạc Liêu hầu như chỉ vận dụng điệu thức Oán là chính” (2). Thực ra thì đây chính là sự kết hợp rất hài hòa giữa điệu Nói thơ Vân Tiên và điệu Vọng cổ.

          Bài thơ Mười thương là bài thơ lục bát gồm 14 câu mang hình tượng người chiến sĩ đánh Tây qua lời tâm sự của một người con gái. Nội dung của bài thơ vốn đã phong phú và hấp dẫn, lại được trình bày bằng điệu Nói thơ Bạc Liêu nên càng phòng phú và hấp dẫn hơn, vì vậy chẳng mấy lúc đã truyền đi khắp nơi, không những trong tỉnh nhà mà cả những nơi ngoài tỉnh. Tiếp theo là những bài thơ khác ra đời để áp dụng điệu Nói thơ Bạc Liêu như: Thương anh chiến sĩ, Tẩy chay tiền Pháp, Cứu trợ đồng bào Thủ Dầu Một – Biên Hòa, Thương anh Vệ quốc quân, Động vi binh tịnh vi dân. Đi đâu người ta cũng nghe những tiếng “ơ  ờ” quen thuộc.

          Thái Đắc Hàng sáng tạo ra điệu Nói thơ Bạc Liêu lúc đầu với chiếc đờn ghi ta phím lõm, nhưng dần dần người ta sử dụng các loại nhạc cụ khác để đờn kể cả các loại đờn của tân nhạc. Những bài thơ được sử dụng lúc đầu cũng chỉ là những bài thơ lục bát đơn thuần, sau đó có một số bài được gắn ghép thêm phần nói lối, cũng như cách nói lối để gác đầu vô Vọng cổ, loại này có nhiều bài nổi tiếng đã được nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng ghi lại như: Cổ động thanh niên tòng quân, Tòng quân, Từ giã mẹ, Gởi ra mặt trận, Ru con (3) và một số bài thơ khác là: Lịch sử Việt Nam của Quách Ngọc Hoằn (4), Uống rượu của Hai Bổn…

          Chỉ một năm sau khi ra đời điệu Nói thơ Bạc Liêu đã có mặt ở nhiều nơi, nhất là các tỉnh miền Đông Nam bộ, ở đâu cũng được sự trân trọng và hoan nghênh của mọi người và những bài thơ lại được tiếp tục sáng tác. Chẳng bao lâu điệu Nói thơ Bạc Liêu đã trở thành một làn điệu dân ca thực thụ ở Nam bộ.

          Năm 1970, để cổ vũ cho những thắng lợi lớn của quân dân ta, nhạc sĩ Anatôli Bưtxơkôp ở Anna Arta thủ đô nước cộng hòa Kadăcxtan (Thuộc Liên Xô thời đó) đã chọn điệu Nói thơ Bạc Liêu để làm chủ đề cho một vở kịch nói về miền Nam Việt Nam. Đối với việc làm này nhà nghiên cứu sử học Trần Thanh Phương đã nhấn mạnh: “Từ một làn điệu dân ca trữ tình Anatôli Bưtxơkôp đã chuyển thành tiếng gọi chiến đấu hùng mạnh cho ba kèn Trômpết, mở đầu vở kịch rất thành công” (5).

Từ đó đến nay các phim ảnh ở Việt Nam khi trình bày những cảnh sinh hoạt ở miền quê Nam bộ cũng thường dùng điệu Nói thơ Bạc Liêu để làm nhạc đệm,  phim Đất phương nam đã làm nổi bật vai trò quan trọng và tính nghệ thuật của điệu Nói thơ Bạc Liêu trong những cảnh sinh hoạt của người dân Nam bộ. Thời gian gần đây có một số kịch bản Cải lương cũng dùng điệu Nói thơ Bạc Liêu làm nhạc đệm để làm tăng thêm sự hấp dẫn của kịch bản. Sau bản Vọng cổ có thể khẳng định Nói thơ Bạc Liêu là một phương tiện rất tốt - là một công cụ sắc bén đã sử dụng thành công trong các công tác tuyên truyền, kêu gọi lòng yêu nước của mọi người, cổ động nhân dân tham gia kháng chiến chống Pháp, những bài thơ lúc đầu đa số đều mang ý nghĩa này. Hiện nay điệu Nói thơ Bạc Liêu đã hòa nhập vào nhiều lĩnh vực của văn học nghệ thuật từ trong nước đến nước ngoài, làm nổi bật giá trị nghệ thuật truyền thống của người Bạc Liêu. Thái Đắc Hàng đã tạo ra điệu Nói thơ Bạc Liêu một sản phẩm nghệ thuật tuyệt vời đã có giá trị nhất định trong văn học nghệ thuật Việt Nam.

          Ngoài ra ông còn cổ vũ các con ông tham gia phục vụ các đoàn văn nghệ,  cải lương Nam bộ. Trong 6 người con của ông có 3 người đã trở thành diễn viên sân khấu: Thái Thị Đấu ở đoàn văn công giải phóng Cà Mau; Thái Thị Thanh Hà ở đoàn văn công giải phóng Bạc Liêu và Thái Thị Ánh Vân ở đoàn cải lương Trần Hữu Trang. Riêng Thái Đắc Hàng trong những năm cuối đời, mặc dù tuổi đã cao cũng vẫn tích cực tham gia sinh hoạt văn nghệ ở địa phương; không những thế ông còn có mặt trong một vài phim ảnh, Đài phát thanh tuyền hình Cần Thơ đã thực hiện một phim tài liệu mang tên Bạc Liêu ai cất nên vần năm 1990, nội dung nói về sự hình thành và phát triển của điệu Nói thơ Bạc Liêu qua từng thời kỳ lịch sử, ông Thái Đắc Hàng đã tham gia rất tích cực để hoàn thành bộ phim này. Ngày 4 tháng 6 năm 2008 (mùng 1 tháng 5 năm Mậu Tý) ông đã từ giã cuộc đời, vĩnh viễn ra đi, nhưng điệu Nói thơ Bạc Liêu – sản phẩm nghệ thuật của ông vần tồn tại và càng ngày càng lớn mạnh.

          Như vậy, có thể nói Thái Đắc Hàng đã có những đóng góp rất cụ thể trong lịch sử phát triển văn học nghệ thuật ở Nam bộ. Ông còn là người gián tiếp giới thiệu với các văn nhân tài tử các nơi: Bạc Liêu chính là xứ sở của dân ca và cổ nhạc - là cái nôi của Vọng cổ cũng vừa là quê hương của điệu Nói thơ Bạc Liêu.

Chú thích :

(1) Trần Thanh Phương, Minh Hải địa chí. NXB Mũi Cà Mau – 1985, trang 224.

(2) Lư  Nhất Vũ – Lê Giang, Tìm hiểu dân ca Nam bo . NXB –Thành Phố . Hồ Chí Minh – 1983, trang 133.

(3) Huỳnh Ngọc Trảng, Vè Nam bộ .  NXB Đồng Nai – 1998, trang 556 – 571.

(4) Đặc san Văn hòá – Xuân Mậu Dần tỉnh Bạc Liêu – 1999, trang 30 – 31.

(5) Trần Thanh Phương, Minh Hải địa chí. NXB Mũi Cà Mau – 1985, trang 227.

Cập nhật ( 09/07/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !