Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Gánh hát của Thầy Năm Tú và Gánh hát Huỳnh Kỳ (GSTS Trần Văn Khê)
Gánh hát của Thầy Năm Tú và Gánh hát Huỳnh Kỳ (GSTS Trần Văn Khê) PDF In E-mail
Người viết: GSTS Trần Văn Khê   
07/07/2014

Gánh hát của Thầy Năm Tú và Gánh hát Huỳnh Kỳ

* GSTS Trần Văn Khê

Theo các nghệ nhân thì ca ra bộ là tiền thân của hát cải lương, mặc dầu đa số các sử gia về hát Cải Lương đều cho rằng ca ra bộ xuất hiện tại tỉnh Vĩnh Long năm 1917, tại nhà ông Cai tổng Tống Hữu Định với bản "Tứ Đại Oán" - bài "Bùi Kiệm thi rớt trở về".

 

Theo tư liệu của TS Mai Mỹ Duyên, ca ra bộ đã được nhạc sư Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) đề xướng ra cách ca tài tử đứng dựa cột cạnh một chậu kiểng năm 1916. Mãi đến năm 1920, danh từ cải lương mới được dùng để chỉ một bộ môn nghệ thuật sân khấu đổi mới, ngang qua câu đối mà Gánh hát Tân Thinh đã treo lên trong các cuộc biểu diễn:

"Cải cách hát ca theo tiến bộ

Lương truyền tuồng tích sánh văn minh"

Nhưng trước năm 1920 tại Mỹ Tho đã có sự kiện cải lương được phổ biến rộng rãi trong các dĩa hát của hãng dĩa Tây Pathé Phono. Nhờ việc thầy Năm Tú - một người yêu nhạc tài tử & cải lương - từ năm 1917 đã mua lại gánh hát xiệc (cirque) của ông André Thận (là người đầu tiên đem ca ra bộ lên sân khấu biểu diễn giữa những màn hát xiệc). Thầy Năm Tú khi lập gánh hát phối hợp tất cả những tiết mục ca ra bộ ăn khách trong một buổi diễn gồm toàn Ca Ra Bộ và sau đó thầy thấy rằng nội dung các bài ca ra bộ không cùng đi với nhau nên thầy nhờ một nhà nho là ông Trương Duy Toản - người đã từng tham gia phong trào Đông Du - đứng ra làm thầy tuồng và đặt những vở tuồng đầu tiên theo tích của "Kim Vân Kiều".

Năm 1918, thầy Năm Tú cho xây cất một rạp hát đầu tiên tại Mỹ Tho rất rộng rãi và có đủ bề cao trên sân khấu. Thầy có mời một hoạ sĩ danh tiếng vẽ tranh cảnh để làm phông trang trí cho sân khấu cùng 2 bên cánh gà. Khán giả chia ra làm 3 hạng: Nhất, nhì, ba và 2 bên sân khấu có một số phòng đặc biệt cho khách quý. Nhờ có rạp hát khang trang và chương trình đầy đủ, tụ họp được nhiều đào kép danh tiếng: Tám Danh (Nguyễn Phương Danh), Ba Du, Bảy Thông, Phùng Há, Năm Phỉ, Năm Thoàn... nên hãng Pathé Phono bằng lòng ghi âm lại những bài ca cải lương và có khi ghi cả tuồng với câu mở đầu: "Bạn hát của thầy Năm Tú, ca cho hãng Pathé Phono nghe chơi". Thầy Năm Tú cũng cho làm máy hát tại Việt Nam, để hình con chó ngồi nghe và trên dĩa hát có hình con gà màu đỏ, sau đó đem bán khắp nơi. Nhờ vậy mà hát cải lương vừa mới thành hình đã được dĩa hát phổ biến rộng rãi khắp thôn quê.

Nghệ sĩ Đào Vũ Thanh diễn vở cải lương Cờ nghĩa giồng Sơn Qui - Ảnh: Hữu Thuận.

Thầy Năm Tú tên thật là Châu Văn Tú, có người gọi là ông Pièrre Tú vì ông là người có quốc tịch Pháp, sinh tại làng Vĩnh Kim. Phu nhân của thầy Năm Tú là cô Tám Hảo - em ruột của cô Năm Thoàn (đào hát của Gánh hát thầy Năm Tú). Thầy Năm Tú là người hào hoa phong nhã, là người Việt Nam đầu tiên mua chiếc xe hơi (xe auto) tại nước Việt. Sau mấy năm, nhờ rạp hát và dĩa hát làm ra tiền, thầy Năm Tú sinh ra tật xài lớn, sử không có ghi chép tại lý do gì, nhưng thấy làm ăn ngày càng sa sút, đến nỗi phải bán rạp hát cho người khác. Rạp hát đó vì vậy mà thay đổi tên nhiều lần. Có người mua rạp hát đó để làm rạp chiếu bóng và mang tên là Ciné Palace. Đến sau một lần đổi chủ, rạp hát mang tên Vĩnh Lợi Giang, hiện giờ rạp hát đó vẫn còn và mang tên là Rạp hát Tiền Giang tại tỉnh lị Mỹ Tho.

Mặc dù thầy Năm Tú không phải là một kép hát, nhưng thầy có công xây dựng một rạp hát đầy đủ phương tiện, là một cơ ngơi xứng đáng cho những buổi diễn lớn. Ông lại có công gắn liền tên gánh hát của mình vào dĩa hát Pathé Phono và đã phổ biến lối hát cải lương vào những nơi hẻo lánh, đồng thời tạo điều kiện cho những đào kép giỏi có chỗ hành nghề, xây dựng tên tuổi. Các nghệ sĩ Tám Danh, Ba Du, Năm Châu... đều coi thầy Năm Tú như là một ân nhân giúp cho các nghệ sĩ đó bước chân vào nghề và tiến bộ trong nghệ thuật cải lương.

Ban tổ chức chỉ đề nghị tôi nói rõ xuất xứ và sự phát triển của hai gánh hát là Gánh thầy Năm Tú và Gánh Đồng Nữ Ban như là điển hình của nghệ thuật cải lương tại Tiền Giang. Nhưng tôi nhớ lại cùng gần một thời với Gánh thầy Năm Tú, có Bạch công tử - tên thật là Lê Công Phước, con của ông Lê Công Sùng, là người tuy không phải trong nghề đờn ca tài tử, nhưng đã được cùng đi một lúc với dàn nhạc đờn ca tài tử của ông Nguyễn Tống Triều sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa tại Pháp năm 1906. Nhờ vậy, ông Lê Công Phước thuở nhỏ đã có dịp du học bên Pháp. Năm 1926, ông Lê Công Phước gặp một người đam mê âm nhạc tài tử - cải lương tên Nguyễn Ngọc Cương. Hai người hùn lại lập nên gánh Phước Cương (lấy tên ghép của Lê Công Phước và Nguyễn Ngọc Cương) rất hùng hậu. Gánh Phước Cương tập hợp tất cả các đào kép giỏi thuở ấy. Bạch công tử có cất một rạp hát ở sát cạnh nhà của mình. Ông Lê Công Sùng (thân phụ ông Phước) tuy là người miền Trung nhưng vào lập nghiệp tại Mỹ Tho. Như vậy tại Mỹ Tho có hai rạp hát cho nghệ thuật cải lương. Nhưng đến năm 1927, Bạch công tử tách riêng và lập một gánh hát khác mang tên là Huỳnh Kỳ, có cờ vàng làm biểu hiệu. Các gánh hát khác di chuyển bằng thuyền chèo (ghe), mà chỉ có Gánh Huỳnh Kỳ là di chuyển bằng thuyền (ghe) máy. Chiếc ghe đầu dành riêng cho chủ gánh là Bạch công tử, có hai từng và nhiều phòng đầy đủ tiện nghi (phòng ngủ, phòng ăn, phòng giải trí...). Chiếc ghe máy thứ nhì dành riêng cho đào - kép hát. Chiếc ghe thứ ba dành cho dàn đờn và những người dọn lớp. Nhưng rồi cũng như Gánh thầy Năm Tú, Bạch công tử làm ăn sa sút và Gánh hát Huỳnh Kỳ lại tan rã. Đào - kép chia nhau tìm gánh khác hoặc lập ra gánh hát để mưu sinh.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !