Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow 250 năm diên cách Tân Châu (Nguyễn Hữu Hiệp)
250 năm diên cách Tân Châu (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Hữu Hiệp   
07/07/2014

250 NĂM DIÊN CÁCH TÂN CHÂU (AN GIANG)

* Nguyễn Hữu Hiệp

Sơ thời mới dựng đặt, Tân Châu không phải ở vị trí thị trấn Tân Châu nay, mà tiên khởi nó trấn đóng ở một vùng đất bây giờ thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Thật vậy, đầu tiên hai tiếng Tân Châu không dùng để năm 1757 lúc còn áp dụng chế độ quân quản, gọi “đạo Tân Châu” hay “Tân Châu đạo”. Bản doanh đặt tại đầu Cù lao Giêng (sử gọi đây là Thủ sở chính), cùng với Thủ sở đạo Hùng Ngự (tiền thân của địa danh Hồng Ngự – đặt ở vàm rạch Đốc Vàng, xưa thuộc tỉnh Định Tường, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), và đạo Chiến Sai phía Cù lao Ông Chưởng, hợp thành “Tam đạo” do đạo Tân Châu ở giữa quản lãnh.

Tân Châu đạo chịu trách nhiệm “phòng bị kẻ gian, thu thuế buôn bán”. Vị trí của Tân Châu đạo được xem là “địa điểm yết hầu” bởi mỗi lần giặc Xiêm xâm lược, chúng thường tiến xuống từ thượng lưu sông Hậu để đánh phá thành An Giang (ở Châu Đốc) để rồi tiến thẳng xuống Vàm Nao, qua sông Tiền, sẽ thọc sâu xuống Sa Đéc, tiến ra Gia Định. Do đó nếu quân của Châu Đốc đạo không kháng cự nỗi, chúng sẽ đánh phá lần lượt các tỉnh (thành) ở Vĩnh Long, Sa Đéc, Mỹ Tho, Gia Định (Sài Gòn). Cho nên Tân Châu đạo được đặt ra là để tiếp ứng Châu Đốc đạo ở Châu Đốc, hoặc nếu Châu Đốc thất thủ thì quân triều đình sẽ lui về đây cố thủ, ngăn chận bước tiến của địch quân. Trường hợp này đã có xảy ra hồi cuối năm 1833, đầu năm 1834, quân Xiêm xâm lược bị quân của triều đình phá tan bởi một trận thủy chiếc ác liệt mà chiến trường là từ sông Vàm Nao đến sông Cổ Hũ (tên gọi một đoạn sông Tiền trước Chợ Thủ. Sách Minh Mạng chính yếu viết là sông Cổ Hằng, còn các Pháp và sách Việt tham khảo sách Pháp thì viết Cú Hủ, Cù Hu…).

Sau, do thực lực quân đội của đồn Châu Đốc và trấn Hà Tiên vùng phía Tây sông Hậu đã đủ mạnh, vị trí của Tân Châu đạo ở đầu Cù lao Giêng ngày càng mờ nhạt, và thế chiến lược được dịch chuyển dần lên thượng lưu sông Tiền có lẽ trước hết Tân Châu đạo về đóng tại bảo (đồn) An Lạc ở thôn Long Sơn, sau là tổng An Lạc (Giồng Thành), rồi mới dời lên, gần sát biên giới phía này. Tại đây, do sự phát triển về giao thương giữa hai nước Việt – Miên nên, từ nhiệm vụ bảo vệ an ninh là chính, hoạt động của Tân Châu đạo nghiêng dần về mặt thuế quan (nhất là thời thuộc Pháp), dân cư ngày càng sung mậu, chợ búa được thành lập, phố sá mọc lên san sát, vị trí đóng quân của Tân Châu đạo trở thành nơi đô hội, nay là thị trấn Tân Châu.

Sử cũ ghi, năm 1831 (và những năm tiếp theo) vua Minh Mạng đổi 23 trấn và 4 doanh thành 27 tỉnh, đồng thời chia cắt một số diện địa để đặt thêm 4 tỉnh mới là Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Tĩnh và An Giang. An Giang chính thức là một trong sáu tỉnh của Nam Kỳ, thường gọi Nam Kỳ lục tỉnh, và là một trong 31 tỉnh của cả nước. Có 2 phủ, các huyện là: phủ Tuy Biên, gồm 2 huyện Tây Xuyên và Phong Phú, sau là Tây Xuyên và Đông Xuyên; và phủ Tân Thành, gồm 3 huyện Vĩnh An, An Xuyên và Đông Xuyên, sau chuyển giao huyện Đông Xuyên cho phủ Tuy Biên. Cả hai phủ Tuy Biên và Tân Thành đều do từ diện địa hai huyện Vĩnh An và Vĩnh Định của Vĩnh Thanh (Vĩnh Long) mà chia đặt ra.

Sách Gia Định Thành thông chí kể tả: Huyện Vĩnh An, trước là tổng, nay đổi làm huyện, lãnh 2 tổng (81 thôn, phường) là:

1) Tổng Vĩnh Trung: (…);

2) Tổng Vĩnh Trinh (mới đặt). Có 29 thôn. Phía Đông giáp tổng An Trung, lấy thượng khẩu sông Cái Tàu thẳng đến thủ Cường Oai làm giới hạn; phía Tây giáp phủ Nam Vang (Cao Miên), lấy thượng khẩu hai con sông (Tiền Giang và Hậu Giang) làm giới hạn; phía Nam giáp huyện Vĩnh Định, lấy thượng khẩu Hậu Giang qua Châu Đốc đến thủ Cường Oai làm giới hạn; phía Bắc từ thượng khẩu Tiền Giang bao gồm các cù lao Cái Vừng, Bãi Tê, Bãi Tân, Bãi Ngưu, đến thượng khẩu sông Cái Tàu làm giới hạn.

Tên các thôn: Tân Phú Lâm thôn, Long Khánh thôn (mới lập), Long Sơn thôn, Mỹ Lương thôn, Tân Hưng thôn, Tân Điền thôn, Tân Thuận thôn, Nhơn Hòa Trung thôn (mới lập), Tân Hòa thôn, Mỹ Hưng thôn Mỹ Chánh thôn, Phú Hưng thôn, Phú An Đông thôn, Tân Thái thôn, Toàn Đức thôn, Toàn Đức Đông thôn, Tân Phước thôn, Tân Tịch thôn, Tòng Sơn thôn, Mỹ Long thôn, Mỹ Phú thôn, Bình Thành Tây thôn, Bình Thành Đông thôn, Bình Thạnh Hòa thôn, Nhơn Lợi Trung, Tân An nhị thôn (mới lập), Tấn An thôn (mới lập), Thái Bình thôn, Mỹ Khánh thôn, Tân Long thôn.

Lúc này vùng Tân Châu thuộc địa bàn huyện Vĩnh An, sau chuyển qua huyện Đông Xuyên. Sử cũ ghi vị trí của huyện Vĩnh An: Đông Tây cách nhau 38 dặm; Nam Bắc cách nhau 22 dặm. Phía Đông đến địa giới huyện An Xuyên 2 dặm; phía Tây đến địa giới huyện Phong Phú phủ Tuy Biên 36 dặm; phía Nam đến địa giới huyện An Xuyên 12 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Kiến Phong tỉnh Định Tường 10 dặm.

Và vị trí của huyện Đông Xuyên: Ở cách phủ 127 dặm về phía Tây Bắc. Đông Tây cách nhau 45 dặm; Nam Bắc cách nhau 41 dặm. Phía Đông đến địa giới huyện Kiến Đăng tỉnh Định Tường 20 dặm; phía Tây đến địa giới huyện Tây Xuyên phủ Tuy Biên 25 dặm; phía Nam đến địa giới huyện Tây Xuyên 39 dặm; phía Bắc đến địa giới nước Cao Mên chừng 2 dặm.

Thời thuộc Pháp Nam Kỳ chia 27 hạt (số hạt có thay đổi tại từng thời điểm). Tỉnh An Giang chia 3 hạt là hạt Sa Đéc, hạt Ba Xuyên và hạt Châu Đốc. Hạt Châu Đốc gồm 2 huyện Đông Xuyên và Hà Dương.

Ngày 27/5/1863 hạt Long Xuyên được thành lập, tách ra từ diện thổ hạt Châu Đốc, lãnh một phần đất của phủ Tuy Biên và huyện Đông Xuyên.

Ngày 05/01/1876 Thống đốc Dupré ra Nghị định chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chánh lớn là:

1) Khu vực Sài Gòn gồm 5 tiểu khu…

2) Khu vực Mỹ Tho gồm 4 tiểu khu…

3) Khu vực Vĩnh Long gồm 4 tiểu khu…

4) Khu vực Bassac (Tây Nam bộ) gồm 6 tiểu khu là: Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ và Sóc Trăng. Địa bàn huyện Phú Tân thuộc tiểu khu Châu Đốc.

Năm 1897, tỉnh Châu Đốc có 10 tổng, 99 làng (lúc này không có quận), 10 tổng là An Lương, An Phước, An Thành, Châu Phú, Quy Đức, Thành Lễ, Thành Ngãi, Thành Tâm, Thành Tín và Thành Ý.

Năm 1939 tỉnh Châu Đốc có 5 quận, 13 tổng, 50 làng. 5 quận là Châu Thành, Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên và Tri Tôn. Quận Tân Châu có 2 tổng là An Lạc (có 3 làng là Long Khánh, Long Phú, Long Sơn, Long Thuận, Phú Thuận, Tân An, Vĩnh Hòa và Phú Vĩnh).

Thời kháng chiến chống Pháp, tỉnh Châu Đốc có 4 quận là Châu Thành, Tri Tôn, Tịnh Biên và Tân Châu. Sau, có thay đổi: Châu Phú, Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên và Tri Tôn. Đến 1956 hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc nhập thành tỉnh An Giang.

Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ năm 1963, tỉnh An Giang được chia làm 2 tỉnh là Châu Đốc và An Giang (tên mới của tỉnh Long Xuyên cũ). Tân Châu là 1 trong quận của tỉnh Châu Đốc.

Trong khi đó về phía chính quyền cách mạng, tháng 6/1948 tỉnh Long Châu Tiền được thành lập, gồm 5 huyện là Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò.

Cuối năm 1949, tỉnh Long Châu Tiền phân chia lại địa giới. Theo đó, huyện Tân Châu tách ra làm 2 huyện mới là huyện Phú Châu và huyện Tân Châu. Huyện Phú Châu bao gồm An Phú và một phần Tân Châu. Huyện Tân Châu là phần còn lại gồm các xã Long Sơn, Phú Lâm, Phú An, Hòa Hảo, Phú Thuận, Long Thuận, Long Khánh, Thường Thới, Thường Phước và Thường Lạc.

Đến ngày 17/12/1950 tỉnh Long Châu Sa được thành lập (dọc theo sông Tiền) trên cơ sở nhập diện thổ của Sa Đéc vào tỉnh Long Châu Tiền. Cụ thể, tỉnh Long Châu Sa gồm 7 huyện là Châu Thành (của Sa Đéc), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu và Chợ Mới.

Lúc này 2 huyện Hồng Ngự và Tân Châu (vốn của Long Châu Tiền) chia ranh giới lại thành 2 huyện Tân Hồng và Tân Châu. Hai tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Sa tồn tại đến 1954 các căn cứ kháng chiến đều giải thể để chuẩn bị tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, nên các địa danh do chánh quyền cách mạng đặt ra không còn tồn tại mà dùng địa danh, địa bàn, địa giới như địch. Nhưng vì Hiệp định bị phía địch đơn phương vô hiệu hóa nên nhân dân phải vùng lên “đồng khởi”. Thế là mãi đến khi phong trào đồng khởi bùng nổ ngày 17/01/1960, tiêu biểu là tại Bến Tre và dần dần lan rộng khắp miền Nam thì lúc ấy, một số địa danh cũ ở An Giang do chính quyền cách mạng đặt, được phục hồi. Theo đó, năm 1957, chính quyền cách mạng lập lại tỉnh An Giang gồm các quận Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn (giao Hồng Ngự cho Kiến Phong; giao Lấp Vò cho Sa Đéc). Sau nhiều lần tách nhập, An Giang chia làm 2 tỉnh là An Giang và Châu Hà. Đến 1974 đổi 2 tỉnh An Giang và Châu Hà thành Long Châu Tiền và Long Châu Hậu. Tỉnh Long Châu Tiền gồm Tân Châu, An Phú, Hồng Ngự và Tam Nông.

Ngày 20/9/1975 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 245 – NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh, theo đó, tỉnh Long Châu Tiền được hợp với Sa Đéc và Kiến Tường, đặt ra thành tỉnh mới. Tiếp theo Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 19 quyết định hợp nhất một số tỉnh từ Khu 6 trở vào, An Giang được xác định là diện đất của tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hậu (tỉnh An Giang cũ bao gồm cả Long Xuyên, Châu Đốc trừ huyện Thốt Nốt). Cụ thể gồm các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân A, Phú Tân B, Châu Phú, Phú Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn và 2 thị xã Long Xuyên và Châu Đốc.

Tên gọi Tân Châu tạm thời phiêu bạt vì huyện Tân Châu và huyện An Phú đã nhập một lấy tên là huyện Phú Châu. Cũng vào lúc này phần diện địa cũ Tân Châu bị co lại vì một xã đã được trích chuyển cho huyện Phú Tân.

Đến ngày 25/4/1979 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 181 – CP về việc điều chỉnh địa giới và đổi tên một số xã và thị trấn thuộc tỉnh An Giang. Theo đó, phần huyện Phú Châu, chia xã Tân An thành 2 xã lấy tên là xã Long An và xã Tân An. Địa giới xã Tân An: Bắc và Đông giáp xã Vĩnh Hòa, Tây giáp xã Vĩnh Hậu và xã Phú Lộc, Nam giáp xã Long An. Địa giới xã Long An: Bắc và Tây Bắc giáp xã Tân An và tỉnh Đồng Tháp giới hạn bởi sông Tiền Giang, Tây giáp xã Châu Phong, Nam và Đông Nam giáp xã Long Phú và Thị trấn Tân Châu và xã Phú Vĩnh. Cũng lập thêm ở vùng kinh tế mới Kinh Năm Xã một xã mới lấy tên là xã Phú Lộc. Địa giới: Bắc giáp Kampuchia, Đông Nam giáp xã Vĩnh Xương, xã Vĩnh Hòa và xã Tân An, Tây giáp xã Vĩnh Lộc và xã Phú Hữu, Nam giáp xã Vĩnh Lộc. (Đồng thời phân chia lại địa giới các xã Long Phú, Phú Vĩnh, Tân An, Vĩnh Hòa, Vĩnh Trường, Vĩnh Hậu, Thị trấn Tân Châu)

Ngày 12/01/1984 do Quyết định số 08 – HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, huyện Phú Chuâ thành lập thêm xã Lê Chánh trên cơ sở tách ấp Vĩnh Thạnh của xã Châu Phong và ấp Phú Hữu của xã Phú Vĩnh. Địa giới: Bắc giáp xã Châu Phong và xã Long An, Nam giáp xã Phú Hiệp và xã Phú Long, Đông giáp xã Phú Vĩnh, Tây giáp xã Châu Phong. Thành lập xã Quốc Thái trên cơ sở tách ấp 4 của xã Nhơn Hội, ấp 1 của xã Phước Hưng và các cồn Bắc, cồn Nam, cồn Liệt Sĩ của xã Phú Hữu. Địa giới: Bắc giáp xã Khánh An và xã Khánh Bình, Nam giáp xã Phước Hưng, Đông giáp xã Phú Hữu, Tây giáp xã Nhơn Hội và Phú Phú Hội. Thành lập thị trấn An Phú trên cơ sở tách ấp Phước Thành của xã Đa Phước và một phần ấp 4 của xã Phước Hưng. Địa giới: Bắc giáp xã Phước Hưng, Nam giáp xã Đa Phước, Đông giáp xã Vĩnh Trường, Tây giáp xã Phú Hội và xã Vĩnh Hội Đông.

Ngày 13/11/1991 Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 373 – HĐBT chia tách huyện Phú Châu thành hai huyện An Phú và Tân Châu. Theo đó xã Quốc Thái và thị trấn An Phú vừa ghi ở trên nay thuộc huyện An Phú. Còn huyện Tân Châu vào thời điểm đó có diện tích tự nhiên 15.994 ha, 144.885 nhân khẩu, gồm có 10 đơn vị hành chính là các xã Vĩnh Xương, Vĩnh Hòa, Phú Lộc, Tân An, Long An, Châu Phong, Lê Chành, Phú Vĩnh, Long Phú và thị trấn Tân Châu. Địa giới: Đông giáp tỉnh Đồng Tháp lấy sông Tiền làm giới hạn, Tây giáp huyện An Phú, Nam giáp huyện Phú Tân, Bắc giáp biên giới Kampuchia.

Tân Châu ngày trước là nơi đầy ấp những sự kiện văn hóa – lịch sử. “Vùng đất mới” này về phương diện hành chính, từng là nơi được chọn làm huyện lỵ của các huyện Đông Xuyên, Tân Châu, Phú Châu… Triều đình nhà Nguyễn cũng đặt bản doanh tỉnh Long Châu Tiền tại Tân Châu này.

 

¤

Về giao thương, kinh tế do Tân Châu là cửa ngõ sông Tiền nên ngay từ thời Nguyễn, thời Pháp, và cho đến nay việc đi lại vận chuyển hàng hóa, giữ hai nước Việt Nam – Kampuchia bằng đường thủy vô cùng thông suốt rất tiện lợi, qua đó nguồn thu thuế quan là mối lợi đáng kể cho nhà nước. Còn kinh Vĩnh An lịch sử mối Tân Châu – Châu Đốc đào từ thời Nguyễn, không chỉ là huyết mạch về quân sự, kịp thời ứng cứu cho nhau khi có việc mà còn đem nước ngọt, phù sa dầm thắm ruộng vườn xanh tươi lúa, màu, trầu, nhãn. Sông Tiền và các chi lưu, phụ lưu của nó đã chuyển về đồng bằng sông Cửu Long không biết cơ man nào là tôm là cá. Nguồn thủy sản vô tận này không chỉ đã giúp người Tân Châu hình thành nghề lái rổi đem cá đi bán khắp các chợ lớn, chợ nhỏ trong khu vực, tận Mỹ Tho, Sài Gòn, và phát triển nghề làm khô cá lóc, cá bông cung cấp cho các thuyền buôn Hải nam đem bán ở nước ngoài. Đặc biệt, con cá linh là nguyên liệu làm nước mắm tỉn hương vị thơm ngon độc đáo nổi tiếng một thời. Cũng từ dòng chảy của đại giang (sông Tiền) không biết bao nhiêu là bè “gỗ súc”, nhất là “sao sông lớn” được chuyển về để các nơi tha hồ xây dựng công trình cất nhà, đóng ghe xuồng, bàn tủ ghế. Cồn bãi la liệt nên Tân Châu đã sớm trở thành thủ đô nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa và nhuộm hàng (bằng mũ trái mặc nưa) cho ra sản phẩm lãnh Mỹ A, Cẩm tự là những mặt hàng đắc giá sang trọng lúc bấy giờ. Người Tân Châu đã sớm có cuộc sống ổn định, không ít người trở thành tài tử văn nhân nên các hoạt động về văn học nghệ thuật phát triển khá sôi nổi. Các nhân vật lịch sử lỗi lạc như Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Nguyễn Công Trứ… trong nhiệm vụ của mình đều đã có để lại Tân Châu ít nhiều dấu ấn tốt đẹp về các mặt đánh dẹp, bình định, khai canh khai cơ, và cả thơ văn cảm hoài. Các danh sĩ như cụ Tú Thường, Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Chánh Sát, họa sĩ Lê Trung, soạn giả Thái Thụy Phong, nữ nghệ sĩ Nguyệt Yến… là những người đã góp phần làm rạng rỡ cho Tân Châu trên văn đàn trong nước, quốc tế.

Quận Tân Châu cũng là nơi “chàng thanh niên” Huỳnh Phú Sổ đã học (bậc Tiểu học) để rồi sau đó “hoát nhiên đại ngộ”, khai sáng và trở thành giáo chủ đạo Phật giáo Hòa Hảo, thu hút hàng mấy triệu tín đồ.

Người dân ở đây được xem là rất có cá tính. Nếu gái Tân Châu nổi tiếng “bảnh” (đoan trang, sang trọng) thì trong kháng chiến trai Tân Châu cũng đã bao phen gây kinh hoàng cho bọn giặc. “Giồng Trà Dên mồ chôn xác giặc” hãy còn đó chứng tích lẫy lừng của địa phương. Khí thế nhất và cũng ấn tượng nhất là trong những ngày Cách mạng tháng Tám, thanh niên Tân Châu đã dũng cảm đứng lên, và kéo nhau sang Châu Đốc, rồi đến tận Hà Tiên chi viện hỗ trợ các nơi này tước vũ khí quân Pháp xâm lược buộc địch đầu hàng giành chính quyền về tay nhân dân.

Với vị trí, ý chí và bản lĩnh của mình Tân Châu xưa sao nay vẫn vậy – vẫn ngày càng phát triển và… phong cách.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online