Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow NGUỒN GỐC TRUYỀN THỪA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở VIỆT NAM
NGUỒN GỐC TRUYỀN THỪA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở VIỆT NAM PDF In E-mail
Người viết: Đào Chuông   
08/01/2015

NGUỒN GỐC TRUYỀN THỪA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở VIỆT NAM

* Đào Chuông

   Phật giáo Nam tông Khmer lâu nay được cho là hệ phái Theravada, nhiều học giả và nhà nghiên cứu cho rằng: “Phật giáo dòng tiểu thừa được truyền vào từ Tích Lan (Sri Lanka) qua Miến Điện, Thái Lan, Campuchia rồi vào Việt Nam”. Qua nhận định trên xem ra là rất hợp logic, vì con đường để đến Việt Nam phải qua những chặng đường như vậy. Nhưng nếu nghiên cứu sâu xa hơn thì chúng ta sẽ bắt gặp những điều tưởng chừng như logic đó còn nhiều vấn đề phải suy nghĩ, vì chúng ta đã bỏ qua nguồn gốc truyền thừa Phật giáo có điểm xuất phát là tại đâu, vào thời điểm nào để vào Sri Lanka và các vùng khác, nếu làm rõ việc này thì chúng ta sẽ tìm thấy một bối cảnh hoàn toàn khác. Tôi xin nêu những vấn đề đó như sau:

 

          Theo thông tin được nêu trong kinh sách Pathama Samantappasàdika, vào năm phật lịch 234 (309 năm trước CN) Phật giáo đã tổ chức Đại hội lần thứ 3 với sự chủ trì của “Sangitikacar” có trưởng lão “Mokkalibotta Tissatthera” làm chủ tọa, dưới sự tài trợ của Quốc Vương “Dhammasokkaràja (vua Ấn Độ lúc bấy giờ). Sau Đại hội, trưởng lão có suy nghĩ rằng: “Phật giáo sẽ truyền bá đến nơi nào nhỉ? Sẽ tồn tại nơi nào nhỉ?” Trưởng lão suy nghĩ xong ngài nói: “Phật giáo sẽ tồn tại ở những quốc gia lân cận ngoài Ấn Độ”, nên ngài đã quyết định cử nhà truyền giáo đến những nơi đó để truyền bá tư tưởng Phật giáo. Sau khi được nhà vua chấp thuận tài trợ, đợt truyền đạo với quy mô lớn đã diễn ra.

Theo lịch sử Phật giáo Campuchia do nhà nghiên cứu tỳ kheo Pang Khát làm chủ biên, danh sách các nhà truyền giáo được cử đi truyền đạo đợt này như sau:

Tên chư Tăng                      Nơi cử đến (địa danh xưa)       (địa danh hiện tại)

1-Tăng Majchhontika            đến Kasmira                      Kandhara    Kasmira Kandhara

2-Tăng Mahadeva                 đến Mahisa Mondol                     tỉnh Maysore

3-Tăng Rakkhita                      đến Vanavasì Padesa              phía Bắc tỉnh Kanara

4-Tăng Yonaka Dhamarakkhita   đến Aparantapadesa               tỉnh Gujaràt

5-Tăng Maha Dhamarakkhita  đến Maharadha                        tỉnh Marathe

6-Tăng Maha Rakkhita            đến Yonakapades                   kreca (Tây Bắc Ấn Độ)

7-Tăng Majjhima                    đến Hemavanapades               Hymalaya (phía Bắc)

8-Tăng Mahamahinta              đến Tampapanni                         Sri Lanka

9-Tăng Sona-Uttara                 đến Suvanaphumi                     Đông Nam Á

          Trong mỗi đoàn đi có kèm thêm 4 vị Tăng và đoàn tùy tùng cùng đi.

          Như vậy, trong đợt truyền đạo này không thể nói là Phật giáo chỉ truyền vào Sri Lanka không, mà đến những 9 nơi được cử đi truyền đạo, cho đến nay Phật giáo Sri Lanka được gọi là hệ phái Theravada và được cả vùng Đông Nam Á gọi theo, còn Phật giáo Nam tông Khmer không phải được truyền từ Sri Lanka mà gọi là Theravada thì còn nhiều vấn đề phải tranh luận.

1-Theravada là thế nào! Theo cách giãi thích của các tác giả trong cuốn “Phật giáo Nguyên Thủy từ truyền thống đến hiện đại” (NXB Hồng Đức) thì “Thera vada” là Phật giáo Nguyên Thủy, Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam tông, Thượng tọa bộ, Tiểu thừa… có nhiều dạng, nhưng ở đây tôi xin nêu ý kiến riêng của mình về từ Theravada như sau:

          Trong tiếng Pali, Theravada là danh từ ghép của 2 từ Thera và Vada, Thera có nghĩa là chư Tăng cao tuổi Tăng, còn từ “Vada hay Vadi” là lời truyền, Theravada là lời truyền của chư Tăng (cao tuổi Tăng). Ở đây có nghĩa là Giáo phái thực hiện theo lời truyền (đạo) của vị Thera, hoặc tiếp nhận từ lời truyền của vị Thera.

          2- Có đến 9 nơi được cử đến truyền giáo đợt này, trong đó điểm thứ 9 là vùng “Suvanaphumi” do hai vị sư Sona và Uttara là người được cử đến đây. Suvanaphumi là “vùng đất vàng” tên gọi của người Ấn gọi lúc bấy giờ nhưng không biết chính xác nơi nào, điểm dừng chân của hai nhà sư truyền giáo nêu trên đến nay vẫn còn là điều bí ẩn mà các nhà sử học, các nhà nghiên cứu chưa có sự xác định thống nhất là ở nơi nào, những vết tích còn lại là những gì. Bên cạnh đó những quốc gia có liên quan ở vùng này đều công bố là quốc gia của họ là nơi tiếp nhận hai nhà sư truyền giáo nêu trên, và đưa ra những lý lẽ như đường giao thông, hải cảng… nhưng chưa đưa ra được những chứng cứ cụ thể để xác định. Nhiều nhà nghiên cứu cho là Suvanaphumi là ở Indonesia, hoặc Malaysia, hoặc Myanmar, có ý kiến cho là Suvanaphumi là cả vùng Đông Nam Á này.

Còn người Khmer thì chưa đồng tình với những nhận định trên của các nhà nghiên cứu, vì theo tiếng Pali Suvanaphumi nó là lục địa vàng chứ không phải là đảo vàng, nếu là đảo nó phải là Suvanatipa hay Suvanatvipa, những nơi đã công bố đó chỉ là suy đoán chứ chưa tìm ra vết tích dẩn đến xác định là điểm dừng chân của hai nhà sư truyền giáo đã đến đó. Chúng ta hảy quay lại sự kiện xảy ra khi hai nhà sư này đến Suvanaphumi, theo Phật sử Sri Lanka như sau:

          3- “Khi các nhà sư truyền giáo đến đây, cư dân địa phương cho các vị là đồng bọn của thủy thần đến bắt con em của họ, vì thủy thần thường xuất hiện để bắt bọn trẻ thơ nơi đây nên định tấn công các vị, các vị nói chúng tôi là người tu hành không hại người. Tình cờ vào lúc đó Thủy thần cũng xuất hiện, hai vị A La Hán đã dùng phép thần thông khống chế bọn chúng rồi làm phép bảo vệ, không để Thủy thần đến uy hiếp người dân ở nơi đây nữa, khi trừ được Thủy thần xong người dân nơi đó hết sức thán phục rồi quy phục hai vị hoàn toàn. Sau đó hai vị đã truyền bá đạo Phật tại nơi đó, lúc đó một vị A La Hán dùng phép thần thông bay lên núi dẫm lên đá để lại dấu chân trên đó”.

          Như vậy những sự kiện truyền đạo vào vùng Suvanaphumi như nêu trên là ở đâu? nơi đó chắc hẳn còn để lại dấu tích của sự kiện này. Trước hết chúng ta hảy đến với các hải cảng xưa của vùng này.

          Theo sử liệu ghi chép thì, hai vị sư đến truyền đạo tại vùng Suvanaphumi là đi bằng thuyền buôn, khi đên nơi thì dừng chân ở một hải cảng, sau đó đã xảy ra sự kiện nêu trên. Ở trang 13 trong cuốn lịch sử Phật giáo Campuchia có nêu 5 quốc gia có hải cảng, những nơi có khả năng hai vị sư này dừng chân đó là:

1-Ở Méco Myanmar có 3 hải cảng là: Takkola, Ténassarim, Vésonga.

          2- Ở mũi Malésia (Mã Lai) có hải cảng Tamproling.

          3- Đảo Sumatra có hải cảng Banga

4- Vùng đất vàng là Chrisés của Greca (Chrisés des Greca) hay Thành lũy vàng là  Kin Lin của Trung Quốc.

          5- Hải cảng Óc eo ven biển của Vương Quốc Phù Nam.

          Tất cả những hải cảng có địa danh cổ trên đây đều có khả năng là bến đổ của hai nhà sư truyền giáo, các nhà khoa học, sử học dường như tập trung vào các cảng Takolla của Myanmar, Banga trên đảo Sumatra (Indonesia) hay Tamproling của Malaisia để tìm nơi nào là cảng của vùng đất vàng để xác định điểm dừng chân của hai vị sư nói trên. Tuy vậy đến nay cũng chưa xác định được cụ thể nơi nào là vùng đất vàng, Suvanaphumi là ở đâu, theo người Khmer thì Suvanaphumi là tên người Ấn gọi, nơi mà họ đến tìm vàng từ thời cổ xưa chứ ở vùng này không có địa danh nào như vậy. Cũng trong cuốn sách này ở trang 15, nhà nghiên cứu tỳ kheo Pang Khát viết: “Rất tiếc, vì không được tiếp cận để tìm hiểu địa danh cổ của hải cảng (Óc Eo), nhưng đây chính là hải cảng lớn của Vương quốc Phù Nam xa xưa. Hải cảng này rất quan trọng, vì nó nằm ở giữa Trung Hoa và Ấn Độ, trên tuyến giao thương đường thủy đi khắp nơi xa…”

          Ở trang 16 tỳ kheo Pang Khát viết: “Ở hải cảng này, người ta tìm thấy cổ vật rất cổ có tuổi thọ từ thế kỷ thứ I sau công nguyên gồm các tượng cư dân, tượng Thần, tượng Phật, đồng tiền La Mã, đồng tiền Ấn Độ, chữ Prhami… Có một đầu tượng Phật rất đẹp làm bằng đồng đen rất cổ, rất tiếc là đã mất hết phần mình. Theo báo cáo của ông Malleret có thể hiểu, đầu tượng Phật này có từ đầu công nguyên, ông cho rằng tượng này cổ lắm, kiểu “Kondhara”, từ thế kỷ thứ II hoặc đầu thế kỷ thứ III. Như vậy hải cảng Óc Eo nên liệt vào hải cảng cổ xưa, nơi đây đã tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ là Bà La Môn giáo và Phật giáo từ trước công nguyên”.

          Trong một thời gian dài nghiên cứu, người Khmer Campuchia hầu như chỉ tập trung vào hải cảng Óc Eo là điểm nghi vấn nơi hai nhà sư truyền giáo đã đặt chân đến đây, do dựa vào tư liệu của các nhà nghiên cứu người Pháp để lại, nên không tìm thêm được gì làm cơ sở để khẳng định điều này. Trong cuốn sách của mình, nhà nghiên cứu tỳ kheo Pang Khát cũng chỉ rõ, việc tỳ kheo Tam Linda con vua Chayvarman VII được vua cha cho đi tu rồi cử đi học ở Sri Lanka, lúc tròn 20 tuổi được thọ giới tỳ kheo ở chùa “Maha Vihara” (Sri Lanka), sau 10 năm du học tỳ kheo đã mang Tạng kinh từ nơi đó về cho Phật giáo Nam tông Khmer vào cuối thế kỷ thứ 12. Từ đó các nhà nghiên cứu cho là Phật giáo ở Campuchia được truyền từ Sri Lanka nói như thế rất khó nghe, nên nói đây là sự giao lưu văn hóa Phật giáo, mang Tạng kinh về để bổ sung cho cái ở đây đã có, vì nơi đây đã có Phật giáo đã từ lâu lắm. Tỳ kheo Tam Linda đã tu ở đây rồi mới đi, điều đó chứng tỏ là nơi đây đã có Phật giáo từ trước, không phải lúc này mơi đi đón Phật giáo về.

Trong tiềm thức của các nhà tu Phật giáo Nam tông Khmer xưa nay, các vị đặt trọng tâm nghi vấn vào vùng đất thiêng nơi đáng quan tâm nhứt đó là Ba Thê và Óc Eo, các vị cho là Phật giáo truyền vào Suvanaphumi chắc chắn là địa điểm tại đây, nơi đây có rất nhiều vết tích cổ mà người Pháp đã khai quật trước đây và sau này, cùng với dấu chân trên đỉnh núi ở đây mà người Việt thường gọi là “dấu chân Tiên” (chúng ta chưa có điều kiện khảo cứu để xác định niên đại dấu chân này). Đối với các nhà tu Phật giáo Nam tông Khmer, các vị chưa có cơ hội để thảo luận, bàn bạc nói lên nhận định của mình về nguồn gốc truyền thừa Phật giáo Nam tông Khmer, cũng như không có cơ hội để sưu tầm khảo cứu để xác định tìm ra việc này, nhưng vẫn thầm khẳng định là Phật giáo Nam tông Khmer không phải được truyền từ Sri Lanka, mà được truyền từ hai nhà sư truyền giáo Sonatthera và Uttarathera.

          Tôi xin quay lại địa danh mà người Khmer, người Việt đã gọi tên vùng đất này đã từ lâu lắm, thậm chí còn sáng tác thêm những truyền thuyết về địa danh này làm cho người ta khi đến đây luôn ghi nhớ đó là “Ba Thê” và “Óc Eo”. Hiện nay tên gọi này đã đặt tên cho xã gọi là xã Vọng Thê thuộc huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang, còn tên Óc Eo nay là địa danh thị trấn Óc Eo của huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang, (nơi đây xưa kia là địa phận của tỉnh Rạch Giá, tức Kiên Giang ngày nay).

          Ba Thê là gì? có ý nghĩa gì đối với người Khmer ở đây.

          Xưa nay các tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer đã xác định là hệ phái của mình được truyền vào từ hai nhà sư truyền giáo là Sona và Uttara, khả năng đường vào là hải cảng Óc Eo nhưng chưa có chứng cứ gì để xác định điều này. Khi đến Ba Thê bà con ở đây cho biết là: “có một vị Sa di tu ở chùa, một hôm Sa di đi lên đỉnh núi rồi đột nhiên biến mất không thấy quay về nữa, người dân mới nói là “bát thê” tức là “mất Thera” , từ này sau này gọi trại thành Ba Thê cho đến nay”. Phân tích truyền thuyết trên đây tôi thấy có điểm không hợp lý, vì Sa di là người tu chưa tròn 20 tuổi, Sa di không ai gọi là Thera, truyền thuyết này thiếu cơ sở thuyết phục

Còn một truyền thuyết nữa lưu truyền trong dân gian lâu nay là: “Sau khi hai vị sư truyền đạo tại đây một thời gian, người dân địa phương vào tu khá đông lên đến trên ngàn người, chùa chiền cũng mọc lên theo nhu cầu hành đạo của người dân nơi đây. Khi tuổi về già, một hôm hai vị Thera đi lên đỉnh núi rồi đột nhiên biến mất, các đệ tử cùng nhau đi tìm mãi nhưng không thấy chỉ thấy để lại dấu chân trên đỉnh núi, người dân mới nói là “bát thê” tức là “mất Thera” (bát tiếng Khmer là mất), từ này sau này gọi trại thành Ba Thê cho đến nay”. Phân tích truyền thuyết trên đây tôi thấy có những tình tiết liên quan đến hai vị sư truyền đạo trong thời kỳ đầu khi Phật giáo mới truyền vào đây, những tình tiết đó vẫn còn mang tính huyền bí, chưa có tính khoa học. Khi đức Phật thọ niết bàn cũng để lại kim thân (nhục thể) cho các đệ tử lo toan hậu sự, còn hai vị sư chỉ để lại dấu chân, nhưng đây chỉ là truyền thuyết.

Sau này tôi tranh thủ đến Ba Thê tìm hiểu thêm, khi đến đây người dân địa phương cho biết là trên đỉnh núi Ba Thê có một dấu chân gọi là dấu chân tiên có chiều dài khoản 0,7m, tôi nghĩ sao nó trùng hợp với truyền thuyết trên và cũng trùng hợp với những gì mình học được, là lúc đến truyền đạo một vị A La Hán đã bay lên núi dẫm lên đá để lại dấu chân, tôi mới suy nghĩ nên giãi mã từ Ba Thê cơ may tìm ra điều gì đó. Lúc đầu khi phân tích từ Ba Thê tôi cho là từ này được gọi trại từ tiếng gốc là “Bat Thê”, Bat trong tiếng Pali là bàn chân, Thê là Thera, có nghĩa là dấu chân của vị Thera. Suy đoán này là dựa trên cơ sở dấu chân trên đỉnh núi, nhưng sau này tôi thấy có gì đó chưa thỏa đáng, nên quay sang nghiên cứu xem trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ, người Khmer sử dụng từ “Ba Thê” cho ý nghĩa gì?

Khi tách hai từ Ba Thê ra riêng biệt để nghiên cứu thì mới phát hiện, đây là danh từ ghép giữa tiếng Khmer và tiếng Pali. Ba: là tiếng Khmer cổ có nghĩa là cha, người truyền giống nòi, là tổ tiên, là cội nguồn; trong giai đoạn lịch sử đó người Khmer thường dùng từ “Ba” cho những sự kiện quan trọng như: Ba Phnom (núi tổ), Ba Kôông (cồng tổ), Ba Ti (sông cội nguồn)…Từ này cũng thường sử dụng trong phong tục tập quán cưới hỏi và thờ cúng của người Khmer đó là “Mê Ba” (Mê là tổ tiên nữ, Ba là tổ tiên nam). Còn từ Thê là xuất phát từ tiếng Pali gọi là “Thera” như phần trên đã trình bày, nhưng khi người Khmer sử dụng thì thường chỉ gọi là “Thê”, cho đến ngày nay cũng vẫn còn gọi vậy. Ví dụ: Chư Tăng có tuổi Tăng cao hơn gọi là “Maha Thê”, chư Tăng có tuổi Tăng thấp hơn gọi là “Anu Thê”, Thera là chư Tăng có nhiều tuổi Tăng, như vậy từ “Ba Thê” có nghĩa là: “Chư Tăng Tổ tiên”. Theo nghĩa này thì nơi đây là điểm khởi nguồn của đạo Phật vùng này, vì từ Thera chỉ dùng riêng cho Phật giáo, tôn giáo khác không sử dụng từ này. Đây là cơ sở để xác định nguồn gốc khởi đầu của Phật giáo Nam tông Khmer, cũng đồng nghĩa là điểm dừng chân của hai nhà sư truyền giáo, nếu không thì không ai dùng từ “Tổ Tiên” để gọi nhà sư như thế. Không còn nghi ngờ gì nữa, Ba Thê là nơi hai nhà sư truyền giáo đặt chân đầu tiên là tại đây, rõ ràng đây là nơi tiếp nhận Phật giáo từ Ấn Độ.

          Cho đến nay chưa có nơi nào khác để xác định ngoài Ba Thê, chỉ nơi đây là có đầy đủ cơ sở nhất, vì nó hội tụ nhiều yếu tố có thể xác định được đó là:

          1- Yếu tố về địa điểm: nơi đây các nhà khoa học đã xác định là có hải cảng Óc Eo,  hải cảng sầm uất từ cổ xưa có quá khứ phát triển rực rỡ, là nơi giao thương nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, rất phù hợp là điểm dừng chân của hai nhà sư truyền giáo. Người Ấn đã sớm đặt chân đến đây để tìm vàng nên mới hình thành địa danh Suvanaphumi, lúc đó nơi đây có tên là “Kos Kôk Thlôk”, sau đó khoản 300 năm Hun Tien (Hỗn Điền) đến rồi cùng nàng Soma (Liễu Diệp) lập nên Vương quốc Phù Nam (sự kiện này người Khmer gọi là Pres Thôông - Neang Nek). Hun Tien là đạo sĩ Pream, ông mang đạo Bà La Môn truyền bá khắp vùng này, do ảnh hưởng của vua chúa nên một thời Bà La Môn phát triển rộng khắp. Tuy Bà La Môn phát triển như vậy không đồng nghĩa là Phật giáo đã lụi tàn từ lúc đó, Phật giáo vẫn còn tồn tại trong công chúng mãi mãi, ông Châu Đạt Quan cũng đã nêu lên điều này khi đặt chân đến đây vào cuối thế kỷ XIII.

          2- Có di chỉ khảo cổ lâu đời về Phật giáo như: tượng Phật bằng đồng đen, bằng đá, bằng gỗ…. rãi khắp vùng này, có bia ở Võ Cạnh được cho là bia nói về Phật giáo sớm nhất ở Đông Nam Á của vua Kri Meara (Vương quốc Phù Nam).

          3- Dấu chân trên đỉnh núi Ba Thê: Đây chắc chắn là dấu chân của vị A La Hán dẫm để lại đánh dấu nơi đặt chân lên vùng đất này, dường như hai vị muốn để lại vết tích chứng minh cho đời sau về sự kiện truyền đạo của hai vị, dấu chân đó chỉ có phép thần thông A La Hán mới làm được, người phàm như chúng ta thì không thể chỉ có đụt thì may ra. Trong Phật giáo nghiêm cấm các chư Tăng vô cớ sử dụng phép thần thông, trường hợp xảy ra như sự kiện trên thì được phép. Sự kiện như vậy người Khmer gọi là “Pes bat chon tuk” (dấu chân dẫm để lại), đây là tập quán truyền giáo xưa kia của Phật giáo. Khi còn tại thế đức Phật đã để lại 5 dấu chân ở 5 nơi gồm: trên núi Suvanamalika, núi Suvanapappata, núi Sumanakoda, kinh thành Yonakabori và bên dòng sông Nimmada để đánh dấu nơi Người đặt chân đến đó.

          4- Địa danh còn để lại: đó là Ba Thê tức là “chư Tăng tổ tiên” hay Sư tổ, đây là yếu tố quan trọng để xác định điểm dừng chân của hai nhà sư truyền giáo. Người Khmer cổ đã đặt tên nơi đây xứng đáng với tầm vóc của nơi tiếp nhận Phật giáo đầu tiên, với từ ngữ đầy trang trọng như vậy, để tôn kính người có công mang đến cho họ những giáo lý sâu sắc.

          5- Truyền thống Phật giáo: cho đến nay người Khmer được xem là dân tộc có truyền thống Phật giáo lâu đời, mặc dù trong quá trình lịch sử người khmer có lúc Bà La Môn giáo tồn tại đan xen, nhưng đến nay chỉ tôn thờ duy nhứt một tôn giáo là đạo Phật.

          Cuối thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX, nhiều nhà sử học, nhà khoa học đã cố gắng tìm ra nơi nào là bến đổ đầu tiên của Phật giáo ở vùng Suvanaphumi, nhưng cho đến nay chưa có đáp án chính thức về việc này. Hầu hết các nhà khoa học đoán là ở nơi này, nơi kia chứ không khẳng định chính xác là nơi nào, do các nhà nghiên cứu không có những cứ liệu lịch sử cụ thể để xác định. Các ông chỉ nhận định theo bản đồ địa lý, đường giao thương thuận tiện từ Ấn Độ về vùng này, chứ không nhận định theo yêu cầu của đích đến. Người Ấn thường xuyên đến đây để tìm vàng từ thời cổ xưa, trong các hoạt động như vậy đã thúc đẩy hải cảng Óc Eo phát triển mạnh mẽ, là nguyên nhân thu hút các nhà truyền giáo về đây. Mặt khác các ông đa số là người Tây, người Ấn ít am hiểu truyền thống ngôn ngữ của cư dân địa phương, nên cũng hạn chế trong việc sưu tầm nghiên cứu. Rõ ràng các nhà nghiên cứu trước đây đã bỏ qua yếu tố rất quan trọng đó là yếu tố bản địa, nên mãi cho đến nay vẫn chưa tìm ra là điều tất nhiên. Khi sử sách ghi chép không còn lưu lại thì hơn ai hết, chính người bản địa, người trong cuộc là người am hiểu sẽ cung cấp những chi tiết cần thiết cho việc sưu tầm tìm ra những bí ẩn đó.

Ở phần kết luận trong cuốn lịch sử Phật giáo Campuchia, tỳ kheo Pang Khát viết: “Nhà truyền giáo đến truyền đạo ở nước ta, có lẽ đã ghé vào hải cảng Óc Eo là hải cảng cổ xưa thời Vương quốc Phù Nam. Ở nơi đây có nhiều cổ vật của Phật giáo và Bà La Môn giáo thuộc nền văn minh Ấn Độ, cùng với cổ vật có nguồn gốc từ các nơi xa xôi như Iran và các nước ven biển Méditérané nữa…”

          Như vậy nhà nghiên cứu tỳ kheo Pang Khát một phần đã khẳng định là Phật giáo truyền vào Suvanaphumi là vào hải cảng Óc Eo, nhưng chắc vị sư này chưa có cứ liệu cụ thể nên nói như các bậc tiền bối lâu nay. Hiện nay Ba Thê là địa danh rất cổ xưa, nó phù hợp với những gì diễn ra trong quá khứ lịch sử, phù hợp với bối cảnh Phật giáo truyền vào vùng này, chắc chắn, Ba Thê là bến đổ của Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào đây. Lâu nay, có lẽ do không tìm thấy nguồn gốc truyền thừa Phật giáo Nam tông Khmer nên các nhà nghiên cứu mới cho là Phật giáo Nam tông Khmer là Phật giáo Theravada, bây giờ tôi thấy chúng ta nên nhận thức lại vấn đề này. Tuy nhiên vấn đề quan trọng ở đây là chúng ta đã vén được bức màn bí ẩn của 2323 năm trước, để tìm ra nguồn gốc truyền thừa Phật giáo Nam tông Khmer mà trong giới nhà tu, nhà nghiên cứu ai ai cũng muốn biết điều đó.

          Tôi tin chắc rằng, hải cảng mà hai nhà sư truyền giáo dừng chân chính là hải cảng Óc Eo, nơi khởi nguồn cho Phật giáo Nam tông Khmer, địa danh Ba Thê là phù hợp nhất cho giả thuyết trên, nó vừa có tiếng Pali vừa có tiếng Khmer, cùng với dấu chân trên đỉnh núi Ba Thê, là tất cả những gì còn sót lại trong chuyến truyền đạo của hai vị A La Hán năm xưa.

Chúng ta nên hân hoan đón nhận, Việt Nam ta được truyền thừa Phật giáo cùng kỳ với các nước trên thế giới, nay đã trãi qua 2323 năm lịch sử, trong suốt quá trình đó, Phật giáo vẫn mãi là nhu cầu về đời sống tâm linh của những người phật tử nơi đây.

Qua bài viết này tôi xin có kiến nghị sau:

          1-Xin Nhà nước có cuộc sưu tầm làm rõ địa danh Ba Thê, làm cơ sở để công nhận nơi đây là Di tích lịch sử Phật giáo Nam tông Khmer, nơi tiếp nhận, điểm khởi nguồn của Phật giáo Nam tông Khmer.

          2-Nếu được, chúng ta nên đề nghị Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận Phật giáo Nam tông Khmer là hệ phái “BATHERA” (Ba Thê Ra) thay cho hệ phái Theravada đã sử dụng trước đây.

          3-Xin Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức kỷ niệm định kỳ 5 năm một lần ngày truyền thống Phật giáo Nam tông Khmer vào dịp lễ “Phật đản-Vesak”.

          Tôi tin rằng, nếu chúng ta làm được điều này sẽ nhận được sự ủng hộ của đồng bào Khmer khắp nơi, người khmer Campuchia sẽ thán phục những điều mà bấy lâu nay họ rất muốn, nhưng làm được lại là chúng ta.

          Xin chân thành cám ơn chư quý vị đã quan tâm theo dõi.       

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online