Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Vài nét về phật giáo thời Trần
Vài nét về phật giáo thời Trần PDF In E-mail
Người viết: Tuệ Quang   
07/02/2015

Vài nét về phật giáo thời Trần

* Tuệ Quang

Triều Trần (1226 – 1400 ) là một trong những triều đại lớn nhất của lịch sử trung đại Việt Nam. Dưới thời Trần, Đại Việt là một trong những cường quốc của Đông Nam Á lừng danh với ba lần lãnh đạo nhân dân Đại Việt kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, bảo vệ nền độc lập đã ghi một dấu son vàng trong lịch sử phát triển của dân tộc ta. Những chiến công hiển hách trong ba lần chống quân Nguyên Mông mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta, hun đúc ý chí quật cường của bao thế hệ đấu tranh để bảo vệ nền độc lập vững bền của toor quốc trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào...

Việt Nam, xứ sở của sự giao thoa các trào lưu tư tưởng nhưng vẫn khẳng định một nền văn minh mang tính đặc thù dân tộc. Đạo Phật Việt Nam chung hưởng hai suối nguồn Phật giáo lớn là Ấn Độ và Trung Hoa. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, Phật giáo đã tồn tại trong hai quốc gia chịu nhiều tang thương chinh chiến, chung chịu biết bao cảnh thăng trầm, vinh nhục. Đạo Phật đã hoà nhập vào cuộc sống, nếp suy nghĩ của dân tộc, thể hiện bằng nội dung tư tưởng tiến bộ thích hợp với cuộc sống hiện tại. Phật giáo đồ Việt Nam từ ngàn xưa đã có truyền thống yêu nước, yêu nước trong quá khứ cũng như trong hiện tại, không bao giờ đi ngược lại truyền thống yêu nước cao đẹp, truyền thống phục  vụ và bảo vệ quê hương Việt Nam. Đây là những đặc tính riêng biệt làm cho đạo Phật có bản sắc nổi bật hơn so với các tôn giáo khác và mang sắc thái dân tộc, trở thành đạo Phật của dân tộc Việt Nam.

“Trang sử Phật

Đồng thời là trang sử Việt

Trãi bao độ hưng suy

Có nguy mà không mất”.

Lời của nhà thơ hiện đại Hồ Dzếng đã thể hiện sự thành tựu của quá trình Phật giáo hội nhập vào dân tộc Việt Nam. Quá trình này kéo dài từ những năm đầu công nguyên cho đến ngày nay và vẫn tiếp tục cho đến khi nào Phật giáo vẫn tồn tại trên đất nước Việt Nam này. Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam trên dưới hai ngàn năm. Giáo lý Phật Đà ăn sâu, hội nhập các mặt sinh hoạt trong đời sống tư tưởng, văn hóa, chính trị và xã hội. Đẹp biết bao truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam vốn tồn tại và chỉ tồn tại trong sự tồn tại của dân tộc. Trải qua nhiều thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần … đạo Phật được xem là quốc giáo. Mỗi lần lật lại trang sử vẻ vang của đời Trần, một thời đại vàng son vang danh. Chúng ta không xiết cảm động và khâm phục các vua Trần đã cố kết được lòng dân, đoàn kết mọi người, vua tôi hoà hợp, quyết tâm bảo vệ mảnh đất giang sơn cẩm tú, đã ba lần đại thắng quân Nguyên Mông xâm lược, đội quân hùng mạnh lúc bấy giờ. Quả là một kỳ tích khó gì sánh được, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Tất cả những chân dung với những đức tánh kỳ diệu của vua quan và nhân dân đời Trần làm cho chúng ta thêm nể phục, tôn kính, gần gũi và những hình ảnh ấy sẽ động mãi trong lòng dân tộc. Trong lời tựa quyển Danh tướng Trần Hưng Đạo, nhà xuất bản văn hoá Hoàng Công Khanh viết : “Mỗi người có một cuộc sống riêng. Nhưng cái lớn lao, cái cao cả của họ đều để lại dấu ấn trong lịch sử của mỗi dân tộc”.               

Ngày nay, thế hệ học sinh, sinh viên là những chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam, kế thừa gia tài sản nghiệp của Tổ tiên, vậy mà với một lý do nào đó họ biết quá ít hoặc biết sơ sài về lịch sư ũông cha của mình, nhất là lịch sử Phật giáo Việt Nam. Họ đâu biết rằng Phật giáo Việt Nam là bạn song hành với dân tộc, cùng nếm trải gian lao, cùng thịnh suy với đất nước, cùng hát khúc ca khải hoàng. Một lần nữa để khắc sâu kiến thức lịch sử Phật giáo và cũng mong khơi dậy những trang sử vàng son rực rỡ của dân tộc, những nét đặc thù của Phật giáo đời Trần, để thế hệ các bạn trẻ và chúng tôi, thế hệ mai sau cùng có chung niềm tự hào và xúc cảm, cùng thấy rõ những đóng góp tích cực của Phật giáo Việt Nam trong công cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước. Do đó tập luận văn này xin được nhắc lại trong khuôn khổ hạn hẹp “Vài nét về Phật giáo đời Trần”, một thời đại hào hùng của đất nước Đại Việt. Chúng ta có được những thành quả như ngày nay thì cần phải tìm hiểu những việc làm của ông cha ngày trước, để phát huy những truyền thống tốt đẹp, quí báu của dân tộc Việt Nam.

CƠ SỞ TƯ LIỆU

Thời gian trôi đi mãi, lịch sử không dừng lại và chờ đợi bất cứ ai … Trong tập luận văn này, người viết xin được góp nhặt cơ sở tư liệu duy nhất là trong sách vở, với nhiều nguồn khác nhau gọi chung là thư tịch, trực tiếp đọc và khai thác. Trong việc nghiên cứu, càng nhiều nguồn tư liệu bao nhiêu thì càng tốt cho người viết bấy nhiêu. Tuy nhiên đây là một vấn đề của tám thế kỷ trước, một vấn đề đã cách xa Thành Phố Hồ Chí Minh và tất cả những điều đó được ghi lại trong sách vở, kết thành một xâu chuỗi ngọc vô cùng quí giá, từ suốt mấy ngàn năm trong lịch sử nước nhà. Đây là những công trình nghiên cứu của những người đi trước xác định một cách rõ ràng về khung thời gian lịch sử. Có những công trình chuyên nghiên cứu về Phật giáo, những công trình nghiên cứu về tư tưởng nói chung trong đó có Phật giáo và những công trình nghiên cứu về sử học có liên quan đến Phật giáo. Để thế hệ mai sau học hỏi và tự hào với trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

BỐI CẢNH NƯỚC ĐẠI VIỆT ĐỜI TRẦN. 

Triều Trần (1226 – 1400 ) là một trong những triều đại lớn nhất của lịch sử trung đại Việt Nam. Dưới thời Trần, Đại Việt là một trong những cường quốc của Đông Nam Á lừng danh với ba lần lãnh đạo nhân dân Đại Việt kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, bảo vệ nền độc lập đã ghi một dấu son vàng trong lịch sử phát triển của dân tộc ta. Những chiến công hiển hách trong ba lần chống quân Nguyên Mông mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta, hun đúc ý chí quật cường của bao thế hệ đấu tranh để bảo vệ nền độc lập vững bền của toor quốc trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Mỗi khi nói đến nhà Trần là nói về những chiến công vang dội trước quân xâm lược hung hãn mà gót giày xâm lược đã đặt đến các miền khác nhau của lục địa Á, Âu, cũng là nói về nghệ thuật lãnh đạo toàn dân kháng chiến của nhà Trần. Nhưng khi nói đến nhà Trần mà chỉ đề cập những thành tựu quân sự thì chưa đủ. Bởi vì, bên cạnh những chiến công vang dội về quân sự thì văn hoá Đại Việt giai đoạn này cũng đạt khá cao, được coi là một trong những đỉnh cao của nền văn hoá triều Trần, một nền văn hoá có cội nguồn buổi đầu của thời kỳ độc lập phát triển và đạt được nhiều thành tựu dưới thời Lý và để lại dấu ấn sâu sắc cho đến hết đời Lê sơ. Một trong những đỉnh cao của văn hoá Đại Việt và chính nhờ sự phát triển này đã tạo nên một sắc thái riêng của nền văn hoá, đó là sự phát triển của Phật giáo lên ngang tầm thời đại. Có như thế thì sự nghiệp và hình ảnh của ông cha ta sẽ còn sống mãi mãi với thời gian.

1. Những chính sách buổi đầu của nhà Trần

Triều Lý tàn tạ và bất lực là rất cần thiết phải được xoá bỏ, song điều ấy không có nghĩa là ai cũng ủng hộ họ Trần. Các phe cánh vẫn ngang nhiên tiếp tục cuộc xâu xé lẫn nhau, đồng thời cũng công khai chống lại họ Trần, nhưng điều bị Trần Thủ Độ thẳng tay đàn áp. Do đó các thế lực chống đối tan rã. Trong triều đình có một thế lực khác, tuy không còn đủ sức để công khai chống lại nhà Trần nữa, nhưng để đề phòng hậu họa, Trần Thủ Độ cũng tìm cách thanh toán. Đó là thế lực quý tộc họ Lý. Trần Thủ Độ đã tiến hành một số biện pháp rất kiên quyết như sau :

Giết chết Lý Huệ Tông, dù lúc này Lý Huệ Tông đang mắc bệnh điên và cũng đang đi tu; Giáng Hoàng hậu của Lý Huệ Tông làm Thiên Cực Công Chúa; Truất phế địa vị Hoàng hậu của Lý Chiêu Hoàng và bắt Trần Thái Tông phải lấy vợ của anh là Trần Liễu; Bí mật thủ tiêu những quí tộc họ Lý có ý chống đối.

Hôn nhân nội tộc. Vì sợ rằng ngoại tộc sẽ tìm cách lợi dụng hôn nhân để xâm nhập rồi cướp ngôi, nhà Trần qui định con trai họ Trần chỉ lấy con gái họ Trần. Và để đề phòng các Hoàng tử tranh giành ngôi báu, các Hoàng đế nhà Trần sớm nhường ngôi cho con để lên làm Thái thượng hoàng.

Ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế. Do vậy đã nhanh chống phục hồi nền kinh tế của Đại Việt lúc bấy giờ. Đồng thời đưa Đại Việt lên vị trí thành một cường quốc ở Đông Nam Á.

Nhà Trần vẫn không phá vỡ được qui luật phát triển của nhà nước quân chủ tập quyền. Ngay khi tập trung những quyền lực trong triều đã cho biên soạn một bộ luật mới, đó là bộ luật hình thư.

Mở rộng đất đai về phía Nam và tiến hành ban cấp hàng loạt ruộng đất cho quí tộc và quan lại. Ngoài quí tộc họ Trần, các vị cao tăng của Phật giáo cũng được hưởng chế độ ban cấp này. Sự hậu đãi ấy đã dẫn đến sự xuất hiện của các tự viện lớn.

Với những quyền lực to lớn về kinh tế, chính trị, quân sự… của quí tộc biểu hiện những yếu tố phân tán còn tồn tại trong xã hội đời Trần. Tuy nhiên, những yếu tố đó bị hạn chế không những không gây ra tình trạng cát cứ chống lại chính quyền trung ương, mà về nhiều mặt còn làm tăng thêm sức mạnh cho triều đình. Sự củng cố quan hệ họ hàng, bà con trong hoàng tộc bằng lợi ích kinh tế có tác dụng thắt chặt tinh thần cố kết trong giai cấp thống trị. Điều đó cũng thể hiện rõ trong lời nói của Trần Thánh Tông với các tôn thất : “Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông, người nối nghiệp của Tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng phú quý. Tuy bên ngoài thì cả thiên hạ tôn thờ một người, nhưng bên trong thì ta cùng các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui”.

Những bước phát triển mới trong chính sách buổi đầu của nhà Trần không những củng cố thêm cơ sở vật chất của quốc gia phong kiến, mà còn có tác dụng quan trọng nâng cao đời sống của người dân và tăng thêm sức mạnh quốc phòng của đất nước.

2. Vài nét về đời sống tư tưởng đời Trần

Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang các nước Đông Á theo hai đường: phía bắc sang Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên; phía đông sang Miến Điện, Thái Lan, Indonexia và miền nam Đông Dương. Do hai đường truyền đạo nói trên, đã hình thành hai phái Phật giáo đại thừa và Phật giáo tiểu thừa.

Phật giáo đại thừa được truyền sang nước ta khoảng đầu công nguyên và phát triển mạnh trong các thế kỷ VII, VIII, IX. Bấy giờ đã có những cao tăng người Việt xuất thân từ tầng lớp hào trưởng. Từ khi nhà nước dành độc lập, Phật giáo tiếp tục phát triển và được coi là quốc giáo.

Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, định phẩm hàm cho nhà sư và cấp tự điền cho nhà chùa. Thời Tiền Lê, sư tăng ngày càng có vai trò quan trọng trong triều đình, được đặc biệt ưu đãi, thường giữ việc đi sứ hoặc tiếp sứ. Thời Lý, Phật giáo trải qua giai đoạn hưng thịnh nhất. Bước sang thời Trần, chi phối xã hội mạnh mẽ nhất lúc này là Phật giáo. Bấy giờ, chùa chiền được dựng lên ở khắp nơi, từ kinh đô Thăng Long cho đến mọi miền của đất nước. Cũng bấy giờ số người xuất gia tu hành rất đông, trong số đó có cả những người trong hoàng tộc, thậm chí là cả hoàng đế. Trong hoàng tộc, nhiều người rất mộ Phật. Họ thường thỉnh các bậc cao tăng về tư dinh để được nghe giảng đạo. Phật giáo đời Trần đã có những đóng góp lớn lao, ưu điểm lớn nhất của Phật giáo là tinh thần khoan dung và tự do. Phật giáo không bao giờ chống đối và chỉ trích Nho giáo và Đạo giáo. Phật giáo đã để cho Nho giáo và Đạo giáo phát triển. Chính những Phật tử thuần thành nhất như Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đã mở rộng Nho giáo. Năm 1253, Trần Thái Tông lập Quốc học viện ở kinh sư và tạc tượng Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử, cùng vẽ tranh 72 vị tiền hiền để thờ cúng. Trần Thánh Tông đã cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở trường dạy Nho học. Nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hoà vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập anh hào tuấn vĩ vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất.

Bấy giờ, cùng chung thời thịnh với Phật giáo là Đạo giáo. Đền miếu được dựng lên ở khắp nơi. Số lượng đạo sĩ cũng khá đông đảo. Trên vũ đài chính trị và tư tưởng của nước nhà, nhất là trong thời hùng mạnh của triều Trần, sau vị trí chi phối của Phật giáo chính là vị trí quan trọng của Đạo giáo. Tuy nhiên, gắn liền với sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo đến thế kỷ XIV, Nho giáo vươn lên lấn át ưu thế của Phật giáo. Với các thuyết “Thiên mệnh” “Chính danh”, Nho giáo khuyên người ta ở đời hãy chấp nhận danh phận của mình. Rõ ràng Nho giáo đã trực tiếp bảo vệ trật tự quân chủ, biện hộ cho quyền áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị : “Không có quân tử thì không ai trị dân quê, không có dân quê thì không  ai nuôi quân tử”.

Ở các thế kỷ X – XIV, Phật giáo ở Việt Nam đã phát triển cực thịnh. Trong khi Nho giáo chưa trở thành ý thức hệ chính thống của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, thì Phật giáo đã có tác dụng thống nhất nhân tâm tạo điều kiện cần thiết để củng cố và phát triển nhà nước quân chủ. Do vậy, Phật giáo ở các thế kỷ này có ảnh sâu sắc đến toàn bộ sinh hoạt văn hoá đương thời và in dấu rõ nét trong văn học, nghệ thuật. Thế nhưng từ giữa thế kỷ XIV thì vị trí đó nó đã thay đổi hoàn toàn đó là Nho giáo đứng vị trí quan trọng nhất, kế đến là Phật giáo, sau cùng là Đạo giáo. Đến đầu thế kỷ XV, tình hình đó lại biến đổi nữa đó là từ đây trở đi  Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, còn Phật giáo và Đạo giáo tuy vẫn tiếp tục phát triển, thậm chí là không hề thua kém trước đó nhưng đã lùi ra khỏi vũ đài chính trị, tư tưởng để phát triển ở trong lòng xã hội. Đây là nét mới trong đời sống tư tưởng của đời Trần. Có một số người cho rằng như thế là Phật suy, Đạo suy là không đúng. Bởi vì nó không còn có mặt trên vũ đài chính trị và tư tưởng. Sự phát triển của một tôn giáo không phải là tôn giáo đó có bao nhiêu người làm quan. Điều đáng nói trong đời sống tư tưởng là chủ nghĩa yêu nước lúc này là dòng chủ lưu nhưng đã góp phần làm cho chủ nghĩa yêu nước phát triển. Trong đó có cả sự cống hiến của nhà Phật.

 “Nhân loại vĩnh viễn mắc vào ba vấn đề cơ bản: Xung đột với thiên nhiên; Xung đột với tha nhân; Xung đột với chính mình” Bertrand Russell đã nhận xét

Nhờ có đủ tài đức mà các vị vua Trần đã động viên được sự đoàn kết ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân. Do đó đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống quân xâm lược đạt đến thành công rực rỡ. Lịch sử cho chúng ta thấy, mỗi khi tổ quốc đứng trước những thử thách khắc nghiệt một mất một còn thì mọi người cùng đoàn kết bên nhau để bảo vệ sự sống còn của bản thân mình và sự tồn tại của quê hương xứ sở. Nhưng muốn thu phục được toàn dân thì các nhà lãnh đạo phải có thực tài thực đức. Đó là những yếu tố rất tiên quyết mà các vì vua đầu đời Trần đều có đủ. Nhờ vậy mà họ đã thành công. Theo đà của những cuộc chiến thắng, mọi người đều phấn khởi tinh thần, do đó đất nước phát huy được nhiều mặt  tích cực, như nền kinh tế mở mang, pháp luật nghiêm minh, chính trị ổn định, võ bị vững chắc, ngoại giao thắng lợi, văn học khởi sắc, giáo dục được củng cố.v.v… Tất nhiên không loại trừ cơ hội thuận lợi nhất cho việc phát triển tôn giáo, hoằng dương chánh pháp. Các nhà lãnh đạo quốc gia lúc bấy giờ vốn là những Phật tử thuần thành. Thế nên những chiến công chính nghĩa, vẻ vang của họ cũng có thể mặc nhiên xem như những thắng lợi của Phật giáo. Trong hoàn cảnh mà đất nước trên đà cường thịnh, dân chúng an cư, lạc nghiệp mọi người có điều kiện phát huy tài năng về nghề nghiệp của mình để kiến tạo một xã hội thanh bình, xây dựng tương lai tươi sáng, thì một tôn giáo mang bản chất nhập thế hành động như đạo Phật, hẳn nhiên được phát triển rực rỡ lúc bấy giờ.

 

SƠ LƯỢC PHẬT GIÁO ĐẠI VIỆT ĐỜI TRẦN

Phật giáo đời Trần là thời đại mà Phật giáo thật sự hoà nhập vào lòng dân tộc từ hình thức lẫn nội dung, yếu tố đưa đến thành công và những đặc sắc của đạo Phật không tách rời với sự phát triển của dân tộc. Nếu chỉ đưa ra một vài yếu tố để nhận xét là chúng ta đã tách rời một phần nào trong tổng thể sinh động của Phật giáo đời Trần, và điều ấy mang tính cách phiến diện. Đạo phật thật sự đã được gieo mầm từ lâu và đã trải qua hàng bao thế kỷ, nó đã thích nghi với nhân chủng và phong thổ Việt Nam, đến đời Trần là đỉnh cao của nó đơm hoa kết nụ, thời gian dài bản địa hoá của đất nước Việt Nam. Phật giáo đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóa dân tộc như nước với sữa. Do đó nó hoàn toàn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của một dân tộc khao khát hoà bình, yêu thích tự do độc lập. Khi chiến tranh chống ngoại xâm, đạo Phật trí tuệ tập hợp những tâm hồn yêu nước, thương dân, đoàn kết một lòng mọi người với ông Bụt từ bi, với Quan Âm cứu khổ và giáo lý thực tiễn không tách rời cuộc sống bằng thân, khẩu, ý. Đặc sắc của Phật giáo đời Trần là tính tích cực nhập thế. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếu vắng đạo, nó trở thành một hợp thể linh động, sáng tạo và diệu dụng trong mọi hoàn cảnh. Có thể nói rằng các vị vua, các thiền sư đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến cho nó trở thành Phật giáo Việt Nam mà không phải Phật giáo Trung Hoa hay Ấn Độ từ cái nhìn cho đến hành động.

1. Trần Thái Tông – Trần Thánh Tông, hai vị Hoàng đế đầu đời Trần và những chủ trương đối với Phật giáo.

Vua Trần Thái Tông là người đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự tài ba của đất nước. Điều này qua mấy trăm năm lịch sử đã khẳng định. Không những thế, vua Trần Thái Tông còn là một nhà văn, nhà thơ, có những đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng và văn học Việt  Nam.

Trần Thái Tông tên là Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sinh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) Triều Lý. Gia thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc,huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định) ông cha làm nghề đánh cá. Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực từ đời Lý Cao Tông. Trần Cảnh mới có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông. Thế là sự nghiệp nhà Lý đến đây đã chấm dứt. Lịch sử Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn nhà Trần. Năm Thái Tông lên 20 tuổi, Lý Chiêu Hoàng 19 tuổi đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm công chúa, lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng Hậu. Lý do, vì Trần Thủ Độ nôn nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, Thuận Thiên đang mang thai.

Do nhiều nỗi khổ đau và lòng ray rứt bất an, dằn vặt nội tâm của ông vua trẻ, lúc 10 giờ đêm ngày mồng ba tháng tư năm 1236, vua Trần Thái Tông bỏ ngai vàng trốn lên núi Yên Tử đi tu và tham kiến Thiền sư Trúc Lâm, liền thưa với Thiền sư rằng: “Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác”. Vua đã nhận được sự nghiệp đế vương hưng phế bất thường và cuộc đời thị phi danh lợi, vì để tranh dành địa vị quyền lực mà không trừ những thủ đoạn xấu xa tàn ác. Trong đám hỗn độn đó vua thấy mình bất lực, cô đơn hơn, chính nguyên nhân ấy đã đưa ông vua trẻ đến với đạo. Nhưng ý nguyện của nhà vua không thành. Trần Thủ Độ và các quần thần bô lão đi tìm và gặp nhà vua tại núi Yên Tử. Trần Thủ Độ hết lời phân giải nài nỉ vua hồi cung, vua từ chối. Thiền sư Trúc Lâm cầm tay vua mà nói: “Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên”.

Sau khi nghe những lời thiết tha của Trần Thủ Độ và lời khuyên của Thiền sư Trúc Lâm, vua buộc lòng phải về cung. Trần Thái Tông vừa làm vua, vừa nghiên cứu kinh Phật và sách Thánh. Ngồi trên ngai vàng được 36 năm, năm 1258 Trần Thái Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Thánh Tông rồi lên làm Thái thượng hoàng. Từ đây vua nổ lực tu trì, ngài đem tinh hoa cốt lõi của đao Phật dạy dân tu niệm tác phẩm Khoá Hư Lục cũng ra đời trong giai đoạn này. Đến năm 1277, vua mất vào ngày mồng 01 tháng 04 năm Đinh Sửu, thọ 59 tuổi.

Trần Thái Tông đã thể hiện tinh thần một người lãnh tụ tài tình, một ông vua có dũng lực, có tài năng, có tài đức đã đưa đất nước đi lên, vua biết hướng đạo, đời bằng gương tỉnh thức và dẫn lối cho mọi người bằng đạo đức. Bản thân vua nhờ tỉnh giác luôn chủ động được mình, nên Trần Thái Tông đã thực sự xem ngai vàng như “chiếc giày rách”. Chứng tỏ rằng vua không bị vinh hoa phú quí chuyển lay, suốt mấy mươi năm ngồi trên chiếc ngai vàng, lấy đức chăn dân, vun bồi đất nước, khi đúng lúc phải thời ung dung lìa ngôi báu trao lại cho con. Vua làm tròn xứ mạng đối với tổ quốc và xứng đáng là một sứ giả của Như Lai. Trần Thái Tông là một vị vua đã để lại chiến tích vẻ vang cho lịch sử nước nhà. Ông đã làm sáng tỏ lâu dài tinh thần nhập thế của đạo Phật, bằng sự phát triển trọn vẹn, với những đức tính từ bi, khoan dung, độ lượng, hùng lực chứng tích sáng lạng của thời đại này về nhiều mặt : chính trị, kinh tế, văn học, xã hội … đã nói lên tư tưởng của người Việt Nam được thấm nhuần tinh thần đạo Phật.

Vua Trần Thánh Tông tên là Trần Hoảng, là con thứ hai của Trần Thái Tông, thân mẫu là Thuận Thiên thái hậu, người họ Lý. Thực ra, vua là con trưởng. Trước, Thuận Thiên thái hậu từng lấy Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông) và đã có thai với Trần Liễu được ba tháng. Người con đầu của Thuận Thiên thái hậu, danh là của Trần Thái Tông mà thực là của Trần Liễu. Bởi danh này mà Trần Hoảng bị coi là con thứ chứ không phải con trưởng của vua Trần Thái Tông. Nhân vua Thái Tông mơ thấy trời trao cho một gươm báu, Hoàng hậu liền có mang. Giờ ngọ ngày 25 tháng 9 năm Canh Tý (1240 ) tại kinh thành Thăng Long, vua sinh ra liền lập làm Hoàng thái tử. Lên ngôi ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258 ) đổi niên hiệu Thiệu Long. Bản chất thiên tài, vẻ toát ra ngoài sáng ngời, mang sẵn những điều khác thường, xử sự dứt khoát, vừa xem rộng mọi sách vở, lại rất tinh thông nội điển. Vua ở ngôi hai mươi năm, rồi nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm (Trần Nhân Tông) để lên làm Thái thượng hoàng 12 năm. Sau đó xuất gia ở chùa Tư Phúc, thờ quốc sư Đại Đăng làm thầy. Hằng ngày vua thường bàn luận với các thiền khách, được truyền sâu ý nghĩa thiền, tự là Vô Nhị Thượng Nhân. Vua mất ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290), thọ 50 tuổi.

Trong thời Ngài làm vua thì đất nứớc thạnh trị thái bình. Lúc Trần Thái Tông còn ở ngôi vua thì giặc Nguyên sang đánh lần thứ nhất. Thời gian Ngài làm vua thì không có giặc. Khi Ngài truyền ngôi cho Nhân Tông lên làm Thái thượng hoàng thì giặc Nguyên sang đánh lần thứ hai. Nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc đã được bảo vệ và củng cố một phần lớn là nhờ vua Trần Thánh Tông cùng với con mình là vua Trần Nhân Tông lãnh đạo thành công hai cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1258 và 1278. Qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc ấy, vua Trần Thánh Tông thể hiện là một vị anh hùng dân tộc. Trong giai đoạn nắm quyền từ năm 1258 cho đến 1278, vua Trần Thái Tông đã tiến hành một đường lối ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết với mục đích giúp dân tộc có đủ thời gian bồi dưỡng tiềm lực nhằm đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược, mà kẻ thù đang tìm cách áp đặt lên nước ta. Chính nhờ đường lối ngoại giao mềm dẻo ấy, đất nước Đại Việt có hòa bình để chuẩn bị và xây dựng lực lượng làm cơ sở cho những chiến thắng vang dội trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1258 và 1278.

Về mặt tư tưởng thì trong học lý Thiền Tông, vua Trần Thánh Tông có hai đóng góp lớn. Thứ nhất, nhà vua tiếp thu ảnh hưởng xu thế chung của Phật giáo thời đại mình cùng với tư tưởng thiền thuộc trường phái Dược Sơn Duy Nghiễm (751 - 841). Chính dưới thời vua Trần Thánh Tông tại ngôi, mà chùa Phổ Minh lịch sử hiện còn tới ngày nay đã được xây dựng. Trong Đại Việt sử ký toàn thư đã viết : “Năm Nhâm Tuất, Thiệu Long thứ 5 (1262) mùa xuân tháng 2, Thái thượng hoàng đến hành cung Tứ Mặc. Đổi hương Thúc Mặc làm phủ Thiên Trường, cũng gọi là cung Trùng Hoa. Lại dựng chùa Phật ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh. Từ đó về sau các vua nhường ngôi đều về ở cung đó”. Thứ hai, vua Trần Thánh Tông đã công khai chấp nhận trường phái thiền Đại Huệ. Trường phái này do Đại Huệ Tông Cảo (1089 - 1163) thành lập. Đại Huệ Tông Cảo là một nhân vật lớn của trường phái Lâm Tế thuộc chi phái Dương Kỳ Phần Hội. Trường phái thiền này ảnh hưởng đến tư tưởng thiền của vua Trần Thánh Tông, vì nó phù hợp với xu thế tư tưởng chung của thời đại nhà vua và đất nước Đại Việt lúc bấy giờ.

Vua Trần Thánh Tông là một ông vua tu ngộ đạo, những tác phẩm của ngài để lại cho chúng ta thấy ngài là người thấu lý đạo tường tận sâu xa. Cuộc sống thiền mà vua Trần Thánh Tông muốn đạt đến hết sức đơn giản và bình dị. Nền Phật giáo của giai đoạn này là nền Phật giáo thế sự, kêu gọi mọi người cùng đóng góp tuỳ theo khả năng của mình để xây dựng một thế giới an lạc cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

2. Trần Nhân Tông và việc khai sinh ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Muốn sáng lập ra một giáo hội mới thì phải có giáo chủ mới. Trần Nhân Tông đã sắm vai giáo chủ mới đó. Trần Nhân Tông là con trưởng của Trần Thánh Tông, thân mẫu là Nguyên Khánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, là Sơ Tổ phái thiền Trúc Lâm. Ngài tên là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258). Vua tuy ở địa vị sang cả mà tâm hâm mộ thiền tông từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi (1274 ) được lập Hoàng thái tử, ngài cố từ chối để nhường lập cho em mà vua cha không chấp nhận. Vua cha cưới trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc Mẫu cho ngài, tức là Khâm Từ thái hậu sau này. Mặc dù sống trong cảnh vui hoà hạnh phúc ấy mà tâm ngài vẫn thích đi tu. Một hôm vào lúc giữa đêm, ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị sư trụ trì ở đây thấy ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thiết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan đi, tìm thấy, ngài bất đắc dĩ phải trở về.

Năm 21 tuổi (1279 ), Trần Nhân Tông lên ngôi Hoàng đế. Tuy ở địa vị cửu trùng mà ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập. Thường ngày, ngài đến chùa Tư Phước trong đại nội tu tập. Một hôm nghỉ trưa, ngài thấy trong rốn mọc lên một hoa sen vàng lớn bằng bánh xe, trên hoa sen có đức Phật vàng. Có người đứng bên cạnh chỉ ngài nói : “Biết ông Phật này chăng? Là đức Phật Biến Chiếu”.tỉnh giấc, ngài đem việc đó tâu lên vua cha. Vua Thánh Tông khen là việc kỳ đặc. Con nguời ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết  các sách vở, suốt thông nội điển (kinh Phật giáo ) và ngoại điển (sách đời ). Những khi nhàn rỗi, ngài mời các vị thiền sư khác bàn giải về thiền tông, tham học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, thâm đắc đến chỗ thiền tủy. Vua tôn thờ Tuệ Trung  Thượng Sĩ làm thầy và hết lòng trọng đãi. Ngài nhập tư tưởng thiền, lại có một tâm hồn nghệ sĩ và khí tiết hào hùng trong việc trị nước an dân. Trần Nhân Tông là vị vua anh minh đức độ, lại là anh hùng của dân tộc. Tất cả những đức tính cao cả, trí tuệ, từ bi, bình đẳng, uy dũng đều kết tinh trong con người của ngài. Nhà vua luôn lấy đức trị dân, trong nước trên thuận dưới hòa, lấy ý dân làm nền tảng xây dựng nước nhà, vui trong niềm vui của dân tộc.

Những khi giặc Nguyên sang xâm chiếm, vua phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết nhân dân, ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất nước. Sau trận chiến thắng thứ hai, non nước thái bình Thượng hoàng Trần Thánh Tông có hai câu thơ kỷ niệm.

“Xã tắc hai phen bon ngựa đá

Non song thiên cổ vững âu vàng”.

Năm Quý Tỵ (1293 ), vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm thái Thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, ngài sắp đặt việc xuất gia. Đến tháng mười năm Kỷ Hợi (1299 ), ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu đà ( khổ hạnh ) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà (sau này ngài đổi hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà ). Trần Nhân Tông là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thuộc hệ thứ sáu, tiếp nối vị Tổ thứ năm là ngài Huệ Tuệ. Ngài là người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm. Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngọc Vân núi Yên Tử, nhằm ngày mồng một tháng mười năm Hưng Long thứ 16 (1308 ), thọ 51 tuổi.

Trần Nhân Tông, một vị anh hùng, một đức Phật. Đúng như toàn bộ thân thế sự nghiệp nhà vua. Anh hùng đánh dẹp giặc Nguyên hung hãn nhất thế giới. Vị Phật sáng lập ra phái Trúc Lâm. Ngài đã chọn núi Yên Tử cũng nhằm mục đích mô phỏng Siddhartha vào Tuyết Sơn. Trên Yên Tử có Ngự Dội, có hàng tùng cổ kính. Ngài tắm Ngự Dội, lên gốc tùng thiền định như Siddhartha tắm ở dòng sông Ni – liên – thiền lên ngồi gốc cây bồ đề đắc đạo. Yên Tử có rừng trúc, Trần Nhân Tông dựng tịnh xá ở đó như Siddhartha đã lấy Trúc Lâm làm nơi trú đông cho hàng đệ tử. Cũng từ ý mô phỏng đó mà Ngài lấy tên cho giáo phái mới của mình là phái Trúc Lâm. Chính vì thế hoàn cảnh lịch sử đã nói lên thống nhất ý thức hệ mà Trần Nhân Tông đảm nhiệm. Một ông vua là Phật, sáng lập ra giáo phái và tuyên truyền cả nước. Điều đó được tiêu biểu trong con người của ngài qua hai mặt: nhà vua và giáo chủ.

Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tính tinh thần của nó là uy tính tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của nền văn hóa Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình. Đứng về phương diện tư tưởng, tổ chức, cũng như hành đạo, giáo hội Trúc Lâm có những nét độc đáo khiến cho nó chỉ có thể là một giáo hội Việt Nam, phục vụ người Việt, duy trì và bồi đắp cá tính Việt.

Đọc qua tiểu sử và quá trình hành đạo của Trần Nhân Tông, chúng ta nhận thấy Ngài quả là con người vẹn toàn cả đời lẫn đạo. Một vì vua anh minh, nhân hậu, một vị thiền sư, một nhà lãnh đạo siêu xuất và cũng rất bình dị dễ gần gũi. Sự nghiệp của Trần Nhân Tông về đời lẫn đạo được các nhà sử học từ xưa cho đến nay đánh dấu tốt đẹp. Vì thế mà Ngài được suy tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ. Do yêu cầu thời đại, thiền phái Trúc Lâm đã Đại Việt hóa, dân tộc hóa tư tưởng thiền Tông và sáng tạo một số tư tưởng cụ thể, sắc bén, thích hợp với hoàn cảnh Đại Việt lúc bấy giờ, phần nào đáp ứng được yêu cầu của thời đại xã hội. Đồng thời đào tạo nên những thiền sư tâm hướng về đạo mà lòng vẫn gắn bó với đời, hoà vào cuộc sống trần thế. Họ vừa là những con người tôn giáo, vừa là những con người xã hội.

3. Tinh thần siêu thoát của Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Quốc Tung, là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương, là anh cả của Trần Hưng Đạo và Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ vua Trần Thánh Tông. Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương là tước hiệu vua Trần Thái Tông ban cho anh ruột là An Sinh Vương Trần Liễu khi ông này mất. Vào năm ấy Tuệ Trung Thượng Sĩ được 21 tuổi và được phong tước Hưng Ninh Vương.

Ngài có chí khí cao siêu, dung thần thanh nhã, lúc nhỏ đã có lòng mộ đạo Phật. Lớn lên, Tuệ Trung được cử trấn đất Hồng Lộ, tức là Hải Dương bây giờ. Ông có công hai lần trong việc ngăn chặn giặc phương Bắc xâm lăng, được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ trấn giữ hải đạo Thái Bình. Có lần đến thăm Tiêu Dao thiền sư nghe giảng thuyết mà tỉnh ngộ, ngài liền tuyệt ý công danh chuyên tâm học đạo, từ chức lui về phong ấp là Vạn Niên Hương, tại đây ông dựng lên Dưỡng Chân Trang làm nơi tu niệm. Vua Thánh Tông rất kính trọng, phong tước hiệu ngài là Tuệ Trung Thượng Sĩ và ký thác vua Trần Nhân Tông cho ngài. Ngài hết lòng dạy bảo vua Nhân Tông về phần đạo lý. Khi trong nước có giặc, ngài lại lấy võ công mà giúp vua Nhân Tông.

Đối với Thượng Sĩ, thế giới vũ trụ là bản thể trong suốt không dơ, không sạch, không có cái đầu tiên cũng không có cái sau cùng, không phân biệt phàm thánh, mê ngộ, chúng sanh và Phật không kẹt mắc trong hình thức đối đãi. Thượng Sĩ sống giữa lòng thế tục, hoà cùng ánh sáng. Trong việc đối xử, ngài chưa hề phụ lòng ai, nhân đó tiếp nối được cuộc sống chánh pháp, dìu dắt người sơ cơ. Người nào đến hỏi han cũng được ngài chỉ cho chỗ cương yếu, khiến tâm tánh họ ứng dụng được nhẹ nhàng, có chỗ nương tựa. Thượng Sĩ không ràng buộc bởi hình thức, khi thì ẩn tàng, khi thì lộ diện, ngài không chấp vào hình thức và danh tự. Tư tưởng của Tuệ Trung thượng Sĩ rất bình dị và dễ gần gũi, không chấp nê khuôn khổ hay vào một giáo điều nào cả. Nắm biết được quy luật của cuộc sống, hài hoà cùng tự nhiên, tâm hồn đạt đến chỗ thanh thoát. Một giai thoại thật lý thú về buổi tiệc trong hoàng cung mà Khâm Từ hoàng hậu (em gái ngài ) làm bữa cơm thịnh soạn để thiết đãi. Thượng Sĩ gặp gì ăn nấy, gặp thịt ăn thịt. Hoàng hậu lấy làm lạ hỏi : “Anh đã tu mà lại ăn cả thịt cá làm sao thành Phật?” Thượng Sĩ cười đáp : “Phật tự là Phật, anh tự là anh, anh không đòi làm Phật, Phật không đòi làm anh. Chẳng thấy bậc tu xưa nói Văn Thù tự là Văn thù, giải thoát tự là giải thoát đó ư”. Một sự ăn chay không thể thành Phật được. Quả là một câu nói vô cùng độc đáo, chứa đựng đầy ắp tinh thần phóng khoáng, đúng là cái nhìn của bậc Thượng Sĩ có khác. Ngài tuyên bố như thế là nhằm đả phá những đầu óc bảo thủ, cố chấp. Tâm luôn luôn mở rộng cho đến khi không chấp vào cái gì nữa, cả đến Phật cũng không còn nữa. Như Trần Thái Tông đã nói trong Khóa Hư Lục “Đến khi Phật cũng không, Tổ cũng không, thì biết giới nào trì, kinh nào niệm”. Bởi thế cho nên Thượng Sĩ bảo đừng nên chấp vào sự thành Phật để tu, chỉ nên cố giải thoát cho tâm hồn khỏi chấp, như thế tự nhiên thành Phật. Vì hễ tâm hồn vô tư thanh tịnh không còn vướng bận một mảy may ý niệm nào tức thì thành Phật. Để thấy tinh thần siêu phóng lần nữa của Tuệ Trung Thượng Sĩ, chúng ta nhìn qua lối đối đáp cuối cùng của ngài trước khi viên tịch.

Sau khi bệnh sơ sài, ngài không nằm ở phòng riêng mà nằm ở Dưỡng Chân Trang. Tại đây giữa nhà trống, ngài kê một giường gỗ, nằm theo phép kiết tường, mắt nhắm xuôi. Các người hầu hạ và thê thiếp khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, sai người lấy nước rửa tay súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng : “Sống chết là lẽ thường, sao buồn thảm luyến tiếc chi mà làm não chân tánh ta”. Dứt lời, ngài êm thấm mà tịch. Bấy giờ nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ bảy (1291 ) đời Trần Nhân Tông, năm Tân Mão, ngày mồng một tháng tư, ngài thọ 62 tuổi. Theo thiền tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ không còn đặt nặng vấn đề về sanh tử, cũng không cần giải quyết. Điểm then chốt là thấy được cái không sanh tử ở nơi mình. Cái không sanh tử thênh thang trùng khắp, mà chúng ta không thấy, không biết, cứ nơm nớp lo sợ cái sanh tử cỏn con tạm bợ . Chúng ta quen nhìn theo con mắt phàm phu coi sanh tử là trọng đại, rồi khổ đau với nó. Nếu dùng trí bát nhã quán sát lý nhân duyên, nhơn duyên hội thì gọi là sanh, nhơn duyên ly tán thì gọi là tử. Sanh tử không có thực thể cố định, chỉ là sự hợp tan của nhơn duyên mà thôi. Bởi không có thực thể cố định nên thân này là tạm bợ hư dối, không có gì bảo đảm lâu dài. Một qui luật không chối cải được “có hợp thì phải có tan” kể cả thân Phật cũng như thế, cho nên thân nào rồi cũng diệt. Vai trò nổi bật của Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ trong giới Phật giáo đời Trần, không khác gì với Trưởng Lão Duy Ma Cật ở Ấn Độ, ngài Huệ Năng ở Trung Quốc, vua Trần Thái Tông ở Việt Nam đã đạt đến chỗ chứng đắc tột đỉnh, giải thoát hoàn toàn. Trong thơ văn Lý Trần tập hai nói : “Thượng Sĩ là người thần thái nghiêm túc, cử chỉ đĩnh đạt. Khi người đàm luận về lẽ cao siêu huyền diệu thì như gió mát trăng thanh. Đương thời, các bậc đạo cao đức trọng đâu đâu cũng đều tôn trọng, cho Thượng Sĩ là người tinh sâu biết rõ, ngược xuôi thật khó mà lường được”.

Tuệ Trung Thượng Sĩ hẳn là, phải là một bậc xuất thế kiểu như vậy, cho nên mặc dù ăn mặn và có thê thiếp, thế nhưng cả tăng lẫn tục thời bấy giờ, kể cả Trần Nhân Tông đều kính trọng như bậc thầy trong đạo, không phải là bậc thầy bình thường mà là một minh sư xuất sắc lỗi lạc, mà những lời dạy, những câu thiền đã được Trần Nhân Tông cho khắc in lại, để lưu truyền cho hậu thế đời đời không quên. Chính vấn đề này mà Hòa Thượng Mật Thể căn dặn rất chân tình: “Chỗ này rất nên chú ý, đừng nên lầm sự vô ngại của các ngài đã giải thoát với những hành vi phóng túng buông lung mà ngụy biện là giải thoát. Đối với người tu hành bao giờ cũng lấy thanh tịnh trì giới làm gốc”. Nói về diện mục và tính cách của Tuệ Trung Thượng Sĩ, thiết nghĩ bao nhiêu lời trên cũng tạm đầy đủ, thật khó mà diễn tả hết đặc thù của ngài.

4. Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang, hai bậc cao tăng đời Trần.

Thiền sư Pháp Loa, Tổ thứ hai của dòng thiền Trúc Lâm, ngài tên thật là Đồng Kiên Cương, sinh năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284 ), quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Trước khi sanh ngài, thân mẫu thấy có người trao cho thanh thần kiếm, bà thích lắm nhận lấy, từ đó đó bà biết có thai. Vì trước kia bà sanh liền tám người con gái nên chán ngán, phen này bà cố tình phá thai, nhưng uống thuốc đến bốn lần mà thai vẫn không hư. Đến khi sinh ra ngài, bà mừng lắm, đăỉt tên là Kiên Cương. Lớn lên ngài rất thông minh, nói năng hiền từ, không thích ăn thịt cá. Năm Hưng Long thứ 12 (1304), ngài có nhân duyên gặp Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông tại sông Nam Sách. Ngài đến lễ bái xin xuất gia, năm đó ngài được 21 tuổi. Điều Ngự trông thấy bằng lòng nói : Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây”. Điều Ngự bèn cho hiệu là Thiện Lai, dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh sơn cạo tóc và thọ giới  Sa di, lại dạy đến tham vấn với Hòa thượng Tánh Giác ở Quỳnh Quán. Tại đây, ngài tìm đủ cách thức hỏi mà không được khai ngộ. Ngài đọc kinh Lăng nghiêm đến đoạn A Nan bảy lần hỏi về vị trí của tâm và đoạn nói về khách trần thì bỗng thấy có chỗ sở ngộ. Một hôm ngài về tham yết Điều Ngự, gặp lúc Điều Ngự đang thăng đường cử bài tụng “Thái dương ô kê”, thì trong tâm chợt tỉnh. Điều Ngự biết thế liền bảo đi theo bên mình. Một hôm, ngài trình một bài tụng về “Tam yếu” bị Điều Ngự gạch một gạch dài từ trên xuống dưới. Bốn lần thỉnh cầu, Điều Ngự vẫn không chỉ giáo, bảo phải về tự mình tham khảo. Đêm ấy ngài về phòng nỗ lực thiền quán. Quá nửa đêm, nhận thấy hoa đèn rụng, ngài bèn đại ngộ. Liền đem chỗ sở ngộ ấy trình lên Điều Ngự và được ấn chứng. Từ đó ngài phát nguyện tu theo hạnh đầu đà, bắt chước theo hạnh của Điều Ngự Giác Hoàng.

Năm 1305, niên hiệu Hưng Long thứ 13, ngài được Điều Ngự cho thọ giới Tỳ kheo và giới Bồ Tát, cho hiệu là Pháp Loa. Năm sau ngài được lập làm giảng chủ chùa Báo Ân. Năm 1307, ngài cùng với sáu vị đệ tử khác được Điều Ngự dạy cho “Đại tuệ ngữ lục” trên am Quán Trú. Tháng năm năm đó vào ngày rằm, ngài được Điều ngự trao y bát và tâm kệ. Ngài được đắc pháp chỉ sau ba năm tu học. Mồng một tết năm Mậu Thân (1308), ngài được chính thức làm trụ trì chùa Báo Ân ở Siêu Loại và được giao làm Tổ thứ hai của phái Trúc Lâm.

Năm Khai Hựu thứ 2 (1330 ), Ngài bệnh nặng và thị tịch, thọ 47 tuổi. Hơn 20 năm hành đạo, ngài hoằng dương chánh pháp không kém gì Trúc Lâm, tận tụy vì đạo pháp, đặc biệt nhất là ấn hành Đại tạng kinh. Đại tạng kinh là một công trình vĩ đại thời bấy giờ. Thiền sư Pháp Loa là con người có tổ chức, mở rộng Phật giáo ở mọi lĩnh vực và hoạt động quên mình. Từ khi nhận lãnh trách nhiệm của Điều Ngự giao phó, ngài thuyết pháp độ tăng, cất chùa, xây tháp không biết mỏi mệt. Tuy tuổi thọ của ngài ngắn, song việc làm gấp trăm người tuổi thọ dài. Những gì Điều Ngự giao phó, ngài đều làm được trọn vẹn. Hiện diện 47 năm trên cõi trần gian, ròng rã suốt 26 năm tận tụy quên mình phụng sự đạo pháp. Việc tự lợi và lợi tha của ngài đều hoàn toàn viên mãn.

Thiền sư Huyền Quang, Tổ thứ ba, tiếp nối ngọn đèn chánh pháp của thiền sư Pháp Loa. Ngài tên thật là Lý Tải Đạo, sanh năm Giáp Dần (1254 ) ở làng Vạn Tải thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ dòng dõi quan liêu, nhưng đến đời ngài thì không thích công danh chỉ ưa ngao du sơn thủy. Tuy có công dẹp giặc Chiêm Thành mà ngài không nhận chức quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức. Nhà ngài ở phía nam chùa Ngọc Hoàng. Năm ngài sanh, một hôm thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Thiền sư Huệ Nghĩa tối tụng kinh trên chùa xong, xuống phòng ngồi trên ghế trường kỷ, chợt ngủ quên bổng thấy trên chùa đèn đuốc sáng trưng, chư Phật tụ hội đông vầy, Kim Cang Long Thần chật nức. Phật chỉ Tôn giả A Nan bảo : “Ngươi thác sanh làm pháp khí cõi đông”. Chợt có ông đạo gõ cửa, thiền sư chợt tỉnh giấc làm bài kệ viết trong vách chùa.

“Người mà vì đạo chớ tìm cầu

Phật vốn tâm mình, tâm Phật sâu

Mộng thấy điềm lành, là ảnh hưởng

Người mà vì đạo chớ tìm đâu”.

Thuở nhỏ, ngài dung nhan kỳ lạ, ý chí xa vời, cha mẹ mến yêu dạy các học thuật, ngài học một biết mười, biện tài hiển thánh. Năm Bảo Phù thứ 2 (1274), đời vua Trần Thánh Tông ngài thi đỗ tiến sĩ (trạng nguyên ), lúc ấy được 21 tuổi. Cha mẹ tuy đã định hôn cho ngài nhưng chưa cưới, sau khi thi đậu, nhà vua gả công chúa cho, ngài vẫn từ chối. Ngài được bổ làm quan ở Hàn Lâm Viện và phụng mạng tiếp đón sứ Trung Hoa. Văn chương ngôn ngữ của ngài vượt hơn sứ Trung Hoa, khiến họ phải nể phục. Một hôm ngài theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phụng Nhãn, nghe thiền sư Pháp Loa giảng kinh, ngài chợt tỉnh ngộ duyên trước, khen ngợi quí mến, tự than :”Làm quan được lên đảo Bồng, đắc đạo thì đến Phổ Đà, đảo trên nhân gian là bậc tiên, cảnh giới tây thiên là cõi Phật. Sự giàu sang phú quý như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên mến luyến”. Ngài mấy phen dâng biểu xin từ chức để xuất gia tu hành. Chính nhà vua rất mến trọng Phật giáo, nên sau cùng mới cho.

Đến năm Hưng Long thứ 13 (130), ngài Xuất gia thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự, được pháp hiệu là Huyền Quang. Năm Hưng Long thứ 17 (1309 ) ngài theo hầu Pháp Loa y theo lời phó chúc của Điều Ngự. Năm Đại Khánh thứ 4 (1317),  ngài được Pháp Loa truyền y của Điều Ngự và tâm kệ, vâng lệnh làm trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Do ngài đa văn bác học, tinh thâm đạo lý nên học đồ bốn phương dưới ngàn người. Ngài thường phụng chiếu đi giảng kinh dạy các nơi và tuyển chư Phẩm kinh, Công văn v.v… Những khoa giáo trong nhà thiền mỗi mỗi đều phải qua tay ngài. Ngày rằm tháng giêng năm Quý Mão (1315 ) vua Anh Tông mời về kinh ở chùa Báo Ân giảng kinh Lăng Nghiêm. Sau đó, ngài xin về quê thăm viếng cha mẹ, nhân đây lập ngôi chùa phía tây nhà ông để hiệu là chùa Đại Bi. Ngài trở về chùa Vân Yên, lúc đó đã 60 tuổi. Nhà vua muốn thử lòng ngài nên cho Thị Bích là một cung nhân tìm cách gần ngài để lấy bằng chứng đem về dâng vua. Thị Bích dùng man kế gợi lòng từ bi của ngài, rồi về tâu với vua. Vì thế, ngài bị tai tiếng không tốt. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của ngài, thấy những sự linh nghiệm lạ thường, nhà vua không còn nghi ngờ, vua liền phạt Thị Bích làm kẻ nô bộc quét chùa trong cung Cảnh Linh ở nội điện. Sau ngài trụ trì ở Thanh Mai Sơn sáu năm. Kế sang Côn Sơn giáo hóa đồ chúng, đến ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), Ngài viên tịch ở Côn Sơn, thọ 80 tuổi.

Thiền sư Huyền Quang là người rất giỏi về thơ văn, ngài chịu trách nhiệm khảo duyệt và nhuận sắc những văn kiện quan trọng trong thời Điều Ngự còn sống. Chính Điều Ngự đã ngự bút phê trong các sách Thích Khoa giáo do Huyền Quang soạn : “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn hiệu khảo rồi thì không thể thêm bớt một chữ nào cả”. Thế mới biết ngòi bút của Huyền Quang đạt đến chỗ bén nhạy và khéo léo vô cùng. Ngài giỏi Phật học nhưng thơ của ngài bình dị ít nặng về danh từ Phật giáo. Thiền sư đã lồng tư tưởng đạt ngộ mà thanh thoát vào trong thơ một cách hồn nhiên, để giúp mọi người dễ dàng lãnh hội ý chỉ của đạo Phật. Chính những sự kiện này đã góp phần làm hưng thịnh Phật giáo Trúc Lâm nói riêng và Phật giáo đời Trần nói chung. Dù tất cả các pháp hữu vi chung cục điều tan biến theo cát bụi của thời gian, nhưng tấm gương sáng của hai vị thiền sư đã để lại vẫn là một bài học quí giá, sinh động, khiến cho con cháu nghìn sau mãi mãi xem như một thứ gia tài bất diệt.

5. Phật giáo đời Trần nữa sau thế kỷ XIV.

Sau khi đại thắng quân Nguyên, nhà Trần vẫn giữ được sự thịnh trị trong mấy chục năm. Nhưng ở dưới vẻ mặt thịnh trị đó đã phục ngầm những mầm móng suy bại của nhà Trần. Nội bộ họ Trần mất đoàn kết vào khoảng trị vì của vua Trần Minh Tông cho đến vua Trần Thiếu Đế. Nhà Trần chấm dứt sau 175 năm trị vì, trải qua 13 đời vua. Nói về Phật giáo đầu đời Trần, đạo Phật là quốc đạo, chẳng những dân tu, mà vua cũng tu. Nói như một nhà nho đời Trần rằng “phân nữa thiên hạ đi tu”, người xuất gia quá đông, người tu tại gia là đa số dân chúng, chùa chiền đâu cũng có. Lúc bấy giờ Phật giáo bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam và có ảnh hưởng đến mọi lãnh vực của đời sống, văn hóa, tư tưởng, đồng hóa với hầu hết mọi hình thức tín ngưỡng tập tục sơ khai. Cũng không biết từ bao giờ, những ngôi chùa đã mọc lên như một bộ phận hữu cơ, gắn bó thân thiết với cộng đồng xã hội “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Đất thì đất của vua, nhưng coi sóc phần hồn phần đời sống tình cảm, lại là các vị sư trong chùa. Đó cũng chính là những nhà tri thức đầu tiên của làng, những người có uy tín và được trọng vọng, đã góp phần động viên quần chúng trong nhiều cuộc chống xâm lăng dưới thời Bắc thuộc.

Sang đến nửa sau thế kỷ thứ XIV, những chiếc rễ đạo Phật vẫn càng ngày càng ăn sâu thêm trong nếp sống tình cảm và tín ngưỡng của giới đại chúng bình dân, nhưng không còn giữ vai trò lãnh đạo trí thức, văn hóa và chính trị. Giới trí thức hướng về đạo Nho như phương châm cứu nước và dựng nước. Nho giáo trở thành quốc giáo. Phật giáo tồn tại trên đất nước ta đã in dấu ấn khá sâu sắc vào văn hóa dân tộc, phong tục nhân dân, đức tính con người. Tông phái Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong nhân dân ta là Tịnh độ, kế đó là Thiền. Tịnh độ tông đem lại tư tưởng vị tha trong sạch, tư tưởng từ bi cứu khổ cứu nạn, tinh thần bình đẳng chất phác, lòng thương yêu người như thương thân mình, một tình thương bao la, tình thương đồng loại và tình thương mọi sinh vật. Thiền tông thì hẹp về thực lực nhưng lại sâu về tư tưởng, được nhiều vua Trần ủng hộ và chủ trương.

Trước hết, xin nói nguyên nhân của sự suy đồi là sự thịnh đạt. Thật vậy, Phật giáo trong đời Pháp Loa đã đi tới mức thịnh đạt nhất. Một phong trào khi đã lên chỗ cao nhất thì bắt đầu đi xuống. Trong sự thịnh đạt đã ẩn chứa sự tàn lụi, khi đạo Phật được vua chúa quý trọng thì các nhà quyền quý và trăm họ đều hướng vào, chùa chiền càng nhiều thì nếp sống thanh qui khó có thể bảo đảm được. Tăng chúng càng đông thì càng có nhiều phần tử bất hảo làm hại thanh danh tăng đoàn, sự kính trọng càng nhiều thì niềm kiêu hãnh càng thêm cao. Sự cúng dường càng hậu thì sự ỷ lại càng tăng. Trong thời thịnh đạt của Phật giáo Trúc Lâm, được xuất gia làm một phần tử trong tăng đoàn là một vinh hạnh không nhỏ. Tăng sĩ có độ điệp của giáo hội, đi đâu cũng được, nơi cư trú cho đến việc học Phật và tu Phật của người tăng sĩ đều được nhiều tổ chức lo lắng chu toàn. Cũng vì số tăng sĩ đông quá nên đệ nhị Tổ Pháp Loa phải thực hành việc kiểm tra tự viện và sổ tăng tịch. Tam Tổ thực lục cho biết là số người xin xuất gia đông quá, khiến cho Pháp Loa giới hạn việc tổ chức giới đàn, ba năm mới tổ chức một lần và phải loại ra hàng ngàn thí sinh. Tuy vậy, hàng ngàn người mỗi năm vẫn được xuất gia ở các chùa quê, tại những giới đàn nhỏ do Phật giáo địa phương tổ chức.  Họ không có độ điệp, nhưng họ vẫn có thể cư trú và tu hành ở các chùa quê.

Đến cuối thế kỷ thứ XIV, giáo hội bắt đầu không còn kiểm soát được tăng sĩ nữa. Năm 1396, vua Thuận Tông xuống chiếu thải bớt tăng sĩ dưới năm mươi tuổi, cũng không biết rõ đây là một hành động của Thuận Tông nhằm ngăn chặn sự lạm dụng đạo Phật hay là một quyết định của Hồ Quý Ly muốn làm giảm tiềm lực của đạo Phật. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm 1429, tất cả các tăng sĩ Phật giáo và đạo sĩ Lão giáo đều phải đến trình diện và kiểm xét khảo thí. Ai thi đậu thì cho làm tăng sĩ và đạo sĩ, còn ai thi hỏng thì bắt hoàn tục. Đây là hành động đầu tiên của chính quyền Nho giáo để kiểm soát Phật giáo và Lão giáo. Hành động này đã có thể loại ra một số người lợi dụng hai đạo Phật Lão. Nhưng sự thi cử này đã được tổ chức theo lối khảo hạch từ chương của Nho giáo, nếu đậu thì được công nhận là tu hành chân chính, còn những người khác, dù mộ đạo và tâm thành đến mấy mà không diễn tả được đức tin và kiến thức của mình bằng văn chương thì cho là không phải tu hành chân chính. Điều này khi áp dụng với đạo Phật, nhất là Thiền tông, là một sự ép uổng.

Về việc xây cất tự viện. Trong đời Trần, các vua làm chùa, các quan làm chùa, dân chúng cũng thi nhau làm chùa. Còn việc đúc tượng, riêng thiền sư Pháp Loa đã cho đúc tới 1.300 tượng Phật bằng đồng lớn nhỏ. Vua Anh Tông, nhân ngày lên làm Thái thượng hoàng, cho đúc tượng A Di Đà, Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước. Chùa Báo Ân có rất nhiều ruộng. Năm 1308, vua Anh Tông lấy 100 mẫu ruộng của gia đình Trần cúng vào chùa Báo Ân. Năm 1312, vua lại lấy thêm 500 mẫu ruộng của Niệm Như Trang để cúng cho chùa. Chùa Siêu Loại cũng có nhiều ruộng. Năm 1313, Bảo Từ hoàng thái hậu cúng vào chùa 300 mẫu ruộng nhà… Nhiều ruộng nhất là chùa Quỳnh Lâm, chùa này có tới trên 1.000 mẫu ruộng và nuôi đến một ngàn người để canh tác. Các chùa Báo Ân, Siêu Loại và Quỳnh Lâm là những cơ sở lớn của Phật giáo Trúc Lâm, tất nhiên bất động sản của những chùa ấy là để nuôi tăng sĩ và để làm Phật sự. Tuy vậy sự ủng hộ quá mức đó đã rất có hại cho giáo hội. Các nho thần trong triều đình thấy sự ủng hộ quá mức đó không khỏi không bực tức. Ý của các nho thần Lê Bá Quát là thay vì làm thêm chùa, đúc thêm tượng thì nên để tiền xây văn miếu và nhà học.

Phật giáo đời Trần để lại cho chúng ta vô số những bài học quí giá. Trong đó bài học về sự thịnh suy của Phật giáo là đáng quan tâm nhất. Chúng ta thấy những lúc Phật giáo cực thịnh không phải là lúc lắm chùa, nhiều sư, có được sự hưng thịnh của Phật giáo là nhờ vào trí tuệ Phật chất tỏa ra từ mỗi người con Phật. Phật chất ấy là hoa trái của những ngày tháng công phu tu tập. Chính cái đó mới có thể luân lưu trong dòng đời bất tận mà tỏa sáng muôn ngàn thế hệ hôm nay và mai sau. Tuy rằng trong mỗi đời vua Trần, số người tu chứng không phải là nhiều, chỉ một hai người, nhưng cũng đủ làm rạng sáng tông phong nhà Phật, cũng như cũng đủ làm chỗ qui ngưỡng, nương tựa vào tăng ni, tín đồ Phật giáo. Ở đây, Phật pháp vẫn được xương minh  và truyền bá rộng khắp mọi nơi, mọi lúc trong nước Đại Việt.

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC. 

Dân tộc Việt Nam ta đã có lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, trải qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đều lập nên những chiến công lừng lẫy đưa nước ta vào thời kỳ phồn vinh thịnh trị nhất. Trong lịch sử truyền thống vẻ vang đó, đời Trần đã đánh bại đội quân xâm lược Nguyên Mông giữ gìn quốc gia độc lập từ thế kỷ thứ XIII đến thế kỷ thứ XIV trong giai đoạn này, Phật giáo triều Trần đã đóng góp phần đáng kể vào sự nghiệp chung của dân tộc.

1. Trong việc xây dựng kỷ cương xã hội.

Trên nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ đời Lý, triều Trần tiếp tục công việc dựng nước, trước hết là củng cố quốc gia thống nhất, tăng cường lực lượng quốc phòng và phát triển kinh tế để lo đối phó với nạn ngoại xâm.

Vào đầu đời Trần, chế độ trung ương tập quyền không những được khôi phục mà còn được tăng cường về mọi mặt. Trong triều, nhà Trần đặt thêm nhiều chức quan và cơ quan chuyên trách mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của bộ máy hành chính, trong số đó có những cơ quan văn hóa giáo dục như Quốc sử viện, Thái viện … những cơ quan tư pháp như Thẩm hình viện, Tam ty viện … Các vua đời Trần thường sớm truyền ngôi cho con rồi lên làm Thái thượng hoàng, nhưng vẫn tiếp tục trông nom việc nước. Đó là một cách tập dợt cho vua con làm quen dần với việc nước khi vua cha còn sống, nhưng chủ yếu là để ngăn ngừa nạn cướp ngôi. Ở các địa phương bộ máy hành chánh được xây dựng thành một hệ thống chặt chẽ. Tại các cấp lộ (hay phủ ), châu, huyện các quan lại hành chánh đồng thời phụ trách cả việc tư pháp, xét xử tội phạm. Đơn vị hành chánh cơ sở là xã được tăng cường thêm các chức đại tư xã (ngũ phẩm trở lên) hay tiểu tư xã (lục phẩm trở xuống). Những chức này có khi kiêm quản hai, ba, bốn xã. Mỗi xã còn có chức xã chính, xã sử, xã giám. Tổ chức chính quyền và các qui chế hành chánh được xác định rõ trong bộ Quốc triều thông chế gồm 20 quyển. Hoạt động pháp chế của nhà nước cũng được tăng cường. Sau nhiều lần sửa đổi và bổ sung, nhà Trần biên soạn một bộ luật mới gọi là Hình thư.

Trong chế độ nhà Trần, tầng lớp quí tộc, hoàng tộc được đặc biệt ưu đãi và có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Các chức vụ chủ chốt trong bộ máy chánh quyền phần lớn ở trong tay các hoàng tử và thân vương. Tùy theo phẩm tước và quan hệ thân thuộc, những quí tộc này được phong cấp thái ấp rộng lớn, được quyền lập phủ đệ và tổ chức lực lượng vũ trang riêng. Con cháu quí tộc được hưởng quyền tập tước tức là được phong tước tùy theo phẩm tước của cha. Trong tình hình đó, sự tồn tại lực lượng vũ trang riêng của các vương hầu lại có tác dụng tăng cường thêm lực lượng bảo vệ ngai vàng và bảo vệ đất nước. Ngoài mâu thuẫn giai cấp cơ bản giữa nông dân và phong kiến, chế độ triều Trần còn chứa đựng những mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị. Nhưng trong buổi đầu, khi nhà Trần mới chấp chính và cả dân tộc đang đứng trước sự đe dọa của nạn ngoại xâm, những mâu thuẫn đó bị hạn chế về khách quan, lại tạo ra những chỗ mạnh cho chế độ trung ương tập quyền. Bên dưới tầng lớp quí tộc, hoàng tộc là một bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương. Vào đời Trần, quan lại các cấp đều được cấp lương bổng. Chế độ tuyển dụng quan lại bằng khoa thi cử cũng ngày càng đi vào hệ thống. Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi Thái học sinh đầu tiên. Từ đó, thể lệ thi cử và các học vị dần dần được qui định theo chính qui.

Quân đội đời Trần được tăng cường và đạt nhiều tiến bộ về mặt tổ chức và huấn luyện. Quân cấm vệ và quân các lộ tuyển lựa trong số thanh niên các hộ nông dân. Quân vương hầu lấy trong số gia nô của quí tộc. Nhà Trần vẫn áp dụng chế độ đăng ký quân dịch và “ngụ binh ư nông” như đời Lý, nên “khi có việc chinh chiến, toàn dân đều là lính”. Quân đội được xây dựng theo phương châm “binh lính cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều”. Nhà Trần rất chú trọng việc luyện tập quân đội và đào tạo võ quan. Các chức võ quan cao cấp đều do các quí tộc, hoàng tộc nắm giữ. Giảng võ đường được thành lập làm nơi đào tạo thanh niên quí tộc thành võ quan của triều đình. Trần Quốc Tuấn đã soạn ra Binh thư yếu lược để huấn luyện quân sự, đã đánh dấu một bước phát triển mới của khoa học quân sự Việt Nam. Do chế độ đào tạo của triều đình và do quí tộc có quân đội riêng nên các hoàng thân vương hầu đời Trần phần lớn là những tướng soái lỗi lạc. Trong hàng ngũ gia nô của quí tộc cũng xuất hiện nhiều nhân tài quân sự xuất sắc. Trải qua những thử thách lớn của cuộc chiến tranh giữ nước, quân đội đời Trần càng được tôi luyện, càng dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và có tinh thần dân tộc mạnh mẽ, khí thế oai hùng như tướng Phạm Ngũ Lão đã từng ca ngợi :

“Cầm giáo non sông trải mấy thâu

Ba quân khí mạnh nuốt sao ngâu”

2. Trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc.

Nước Việt Nam cần phải và đã là một nước độc lập, một quốc gia có Hoàng đế riêng của mình, có nhân tài vật lực và có đầy đủ hình thế để dựng lên cơ nghiệp bá vương không kém gì bất cứ một quốc gia nào. Khẳng định điều đó cũng có nghĩa là khẳng định quyền bình đẳng của dân tộc ta so với tất cả những quốc gia phong kiến phương Bắc luôn luôn theo đuổi chính sách bành trướng và thôn tính nước nhỏ.

Trải qua các triều đại, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, trên con đường đấu tranh dựng nước và giữ nước, quốc gia Đại Cồ Việt rồi Đại Việt không ngừng được củng cố, trưởng thành và vững mạnh. Để có một đất nước hùng cường, bên cạnh việc đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ độc lập, một vấn đề đặc ra không kém phần quan trọng là đấu tranh cho nền thống nhất vững chắc của đất nước. Đã từ lâu đời, đại gia đình các dân tộc chung sống ổn định trên lãnh thổ thuộc lưu vực sông Hồng và sông Mã đã biết chụm nhau lại, đoàn kết thành một khối để tồn tại và phát triển “đoàn kết là sức mạnh”, chân lý đó không còn là một bài học đầu miệng đã thấm vào xương tủy và biến thành hành động đối với mọi thành viên trong xã hội. Nói một cách khác, không phải chỉ có khởi nghĩa và kháng chiến, mà toàn bộ cuộc sống lịch sử, với nhiệm vụ bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước đối với kẻ địch to lớn quá, tham lam quá ở ngoài cửa ngõ, tất cả môi trường ấy đã nhào nặn tâm hồn, đức tính, giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam. Trong sức mạnh tinh thần ấy, thực tiễn đã chứng minh khẳng định có tư tưởng chủ đạo của đạo Phật, mà các vị vua Trần là những Phật tử thuần thành, là những thiền sư, đã sống và làm việc với tâm vô ngã, vị tha của đạo Phật. Nhờ vậy đã hội tụ được những tướng sĩ tài ba thao lược, dân và quan một lòng yêu nước thương nhà, đồng tâm đoàn kết. Tinh thần từ bi đoàn kết của đạo Phật kết hợp với tinh thần nồng nàn yêu nước của dân tộc Việt Nam rõ ràng không chỉ làm nên một bản lĩnh ý chí chiến đấu mà còn là nền tảng của chính sách ngoại giao mềm dẻo, đức độ, cao thượng tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Phật giáo với tư tưởng truyền thống ái quốc bấy giờ là những ông vua đời Trần mà hàng đầu là vua Trần Thái Tông, vua Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông. Đó là những ông vua đã biết lấy lòng dân làm lòng mình, lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình. Những ông vua ấy đã học, hiểu, hành giáo lý uyên bác của đạo Phật, để trở thành những minh quân. Và những ông vua Phật ấy đã điều khiển được sức mạnh tinh thần kỳ diệu tạo nên chiến công vẻ vang.

Lãnh thổ và dân số của Đại Việt thật không đáng kể so với đế quốc Nguyên Mông. Tiềm lực kinh tế của quốc gia Đại Việt so với Nguyên Mông cũng thật bé nhỏ. Nhưng kỳ diệu thay nước Đại Việt bé nhỏ lại chiến thắng và chiến thắng vô cùng hiển hách trong cả ba cuộc đọ sức liên tiếp nhau. Đó là sự quyết tâm giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước đồng thời nâng cao thể diện quốc gia. Tư tưởng lạc quan của vua tôi, quan quân nhà Trần tất nhiên không phải là do “điếc không sợ súng”, không phải là do thiếu hiểu biết thực lực của kẻ thù. Trái lại, nhà Trần biết rất rõ chỗ mạnh và chỗ yếu của giặc Nguyên Mông, biết huy động toàn dân, biết nâng cao sĩ khí, biết sức mạnh tất thắng của chíng nghĩa, giỏi dùng chiến lược, chiến thuận trong điều kiện chiến trường Đại Việt. Đó là tư tưởng lạc quan xây dựng trên cơ sở “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước ra sức, nên bọn giặc phải chịu bị bắt”. Địch quân chiến thắng khắp Á, Âu, đến xứ ta, nó bị liên tiếp đánh bại ba lần, không thể nói rằng ta thắng vì may, địch thua vì rủi.

Trong vòng 30 năm (1258 – 1288), dân tộc ta đã ba lần đương đầu với những đạo quân xâm lược khét tiếng của đế quốc Mông Cổ nhưng mỗi lần kháng chiến, dân tộc ta lại càng kiên cường, sáng tạo và thắng lợi càng vang dội hơn. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược thế kỷ XIII của thời đại triều Trần, là một bài ca anh hùng bất hủ, là sự thể hiện sâu sắc và rực rỡ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, trí thông minh sáng tạo và sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta. Từ mọi tầng lớp xã hội, từ các thành phần dân tộc, và các lứa tuổi khác nhau, qua kháng chiến, đã xuất hiện biết bao con người và sự tích anh hùng tiêu biểu cho phẩm chất cao quí. Thắng lợi to lớn của dân tộc ta đã nêu cao tấm gương về sức mạnh và khả năng chiến thắng của một dân tộc kiên quyết chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc. Góp phần làm suy yếu thế lực của đế quốc Mông Cổ ở cơ sở và căn cứ lớn nhất để xâm lược và khuất phục các dân tộc Châu Á, làm thất bại âm mưu biến nước ta thành bàn đạp để mở rộng xâm lược xuống các nước Đông Nam Á ở thế kỷ thứ XIII.

2. Trong việc xây dựng gia giáo của người Việt.

Muốn cải tạo xã hội, trước hết phải chuyển hóa con người, chuyển vọng thành chân, chuyển mê thành ngộ. Mà muốn thay đổi con người phải tin rằng mỗi con người đều có Phật tánh siêu việt. Đó là lời ân cần nhắc nhở của Viên Chứng thiền sư với vua Trần Thái Tông : “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong tâm ta”. Tự tin mình có Phật tánh đồng nghĩa với tự tin mình có chân lý, có một sức mạnh vạn năng. Đấy là yếu tố quyết định chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược, mà sức mạnh ấy vốn là sức mạnh của tinh thần Phật giáo. Tất nhiên, sức mạnh ấy phải đi đôi với tinh thần truyền thống của dân tộc, đồng thời với một nền kinh tế phồn vinh và quốc phòng vững chắc. Phật giáo đã tỏ ra đáp ứng tích cực những đòi hỏi bức xúc của dân tộc trong thế kỷ thế XIII, thế kỷ xây dựng và bảo vệ đất nước. Có thể nói, xã hội lúc bấy giờ rất ít những dấu ấn tiêu cực và lạc hậu. Đạo Phật đã hòa mình vào dòng sống dân tộc, tạo ra sức mạnh tinh thần, đưa đất nước đến nhiều thắng lợi, nâng thời đại mình ngang tầm với lịch sử. Điều quan trọng là không những chiến thắng đối phương mà còn tự chiến thắng chính mình, như vua Trần Nhân Tông nói : “Buông lửa giác ngộ đốt hoại thảy rừng tà ngày trước, cầm kiếm trí tuệ quét cho xong tánh thức thuở nay”.

Nền giáo dục của Phật giáo nhằm phát triển tâm thức đưa đến cho con người một trí tuệ minh triết siêu phàm, phi đấu tranh, an tịnh giải thoát. Đức Phật với tâm thuần tịnh, toàn tri, toàn giác. Ngài thấy trong nước có vô số vi trùng, thấy trong vũ trụ có hằng hà sa số hành tinh. Ngài thấy chúng sanh sau khi chết, bị dẫn đi luân hồi trong sáu đường, rõ ràng giống như người đứng trên lầu cao thấy rõ mọi người qua lại ở ngã tư đường. Vì thế trong bài kinh “Tiểu nghiệp phân biệt” Phật dạy : “Này thanh niên Subha-Todeyyaputta, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp nhân chia các loài hữu tình, nghĩa là liệt, có ưu”. Nghiệp tạo thành từ thân, khẩu,ý, do đó Phật dạy người cư sĩ tại gia phải tu giữ Ngũ giới, tiến lên tu Thập thiện, để tạo nghiệp lành, để được quả lành.

Năm Giáp Thìn (1304 ), Tổ Trúc Lâm đi dạo trong nhân gian khuyên dân chúng giữ Ngũ giới và tu Thập thiện. Đây là tính tích cực đem Phật giáo vào nhân gian, trước xây dựng con người, cá nhân tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì quốc gia tốt. Vì bảo vệ sanh mạng con người, khuyên giữ giới không sát sanh, bảo vệ tài sản của người, khuyên giữ giới không trộm cướp, bảo vệ hạnh phúc gia đình, khuyên giữ giới không tà dâm, bảo vệ uy tín và giá trị con người, khuyên giữ giới không nói dối, bảo vệ sức khỏe trí tuệ và trật tự xã hội, khuyên giữ giới không uống rượu. Người dân trong nước đều giữ được năm giới thì đất nước thật sự thái bình dân chúng vui vẻ hát ca, không còn phải lo sợ. Tiến lên, vua khuyên tu thập thiện, tức là thân không sát sanh, trộm cướp, tà dâm, miệng không nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt, ý bớt nóng giận, tham lam và si mê. Người thân miệng ý khéo tu mười điều lành sẽ trở thành bậc hiền nhân. Người Phật tử khéo tu Ngũ giới và Thập thiện là đóng góp một phần cho quốc gia xã hội được tốt đẹp an vui. Được vậy, đạo Phật mới thật sự chuyển cảnh khổ thành cảnh vui, chuyển con người phàm tục thành con người thánh thiện.

Đời Trần là một trong những điểm son nổi bật nhất trong suốt quá trình giữ nước trong lịch sử Đại Việt. Trong đó Phật giáo đã tích cực góp phần tạo dựng cho xã hội đời Trần thành tựu rực rỡ. Một xã hội được giáo dục bằng giáo lý Ngũ giới và Thập thiện, mà các vua Trần xem đó là khuôn mẫu, là một chuẩn mực sống cho toàn dân. Điều này đã được chứng minh rất rõ ràng qua phần lịch sử. Phật giáo đời Trần đã góp phần xây dựng cải tạo gia đình và xã hội, đem lại an vui hạnh phúc cho mọi người, hướng đến đời sống chân, thiện, mỹ. Vì cá nhân có an vui, gia đình, xã hội mới bình an, mà các vua đầu đời Trần đã thể nghiệm và rất thành công. Giáo lý Ngũ giới hay Thập thiện chẳng phải là vấn đề xa xôi, một giáo điều nghiêm ngặt, hay những điều mang tính thần thánh cao siêu mà nó rất thiết thực, rất gần gũi con người, không chỉ ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, mà chừng nào con người còn những nỗi khổ bức bách vô minh trong đời sống khi đó nó vẫn còn có giá trị. Cho nên người đến học Phật, không phải là đến để hưởng ngoạn các loài hoa quí, mà phải tự dấn thân vào con đường tu tập thể nghiệm tâm linh mới cảm hết giá trị của nó. Từ đó chúng ta mới thấy rõ giá trị và lợi ích thiết thực của Ngũ giới hay Thập thiện đối với cuộc sống, thấy rõ tài đức của các vị vua đầu đời Trần đã giác ngộ, giáo dục người dân sống hạnh phúc, xã hội được cải tạo.

3. Trong văn học.

Văn học Phật giáo đời Trần là một bộ phận quan trọng trong di sản chung của văn học dân tộc. Ngay đời Lý đã có khối lượng tác phẩm văn học đáng kể, nhưng bước sang đời Trần, Phật giáo thịnh hành không thua gì Phật giáo đời Lý. Một vài ý kiến cho rằng sự thành tựu về sức mạnh tinh thần đời Trần là nhờ hợp nhất ba hệ tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” Phật – Lão – Nho. Nhưng sự thật trong giai đoạn đầu đời Trần các vị vua hoàn toàn theo đạo Phật, mục đích của họ rất rõ ràng là đưa giáo lý đạo Phật hòa nhập vào đời sống xã hội. Nhờ theo Phật giáo nên các vua đời Trần rất cởi mở, phóng khoáng. Phật giáo dung hợp tư tưởng Nho, Lão một cách nhẹ nhàng không chấp thủ, với thái độ hợp tác vì an lạc lợi ích cho nhân dân, các vua đã làm tăng thêm sức mạnh trong triều nội với các quan dân, nho sĩ.

Lúc bấy giờ, văn học chữ Hán chiếm ưu thế trên văn đàn. Những tác phẩm lớn nhất, có giá trị nhất cũng chính là tác phẩm văn học chữ Hán.Văn học chữ   Nôm cũng đã xuất hiện và bước đầu có những cống hiến của mình.Chữ Nôm,một trào lưu văn học có tính dân tộc thời Trần nói riêng, một loại văn tự được ông cha ta sáng tạo trên cơ sở tiếp nhận chữ Hán, vốn có một lịch sử khá lâu dài trước đó nói chung. Buổi đầu, chữ Nôm chỉ mới giữ vai trò bổ sung cho chữ Hán. Đến đây, từ địa vị của một thứ văn tự chỉ làm nhiệm vụ bổ sung, chữ Nôm đã phát triển thành chữ viết văn học. Điều đáng lưu ý là dưới thời Trần, chẳng những là nho sĩ mà quí tộc rồi Hoàng đế và Thượng hoàng cũng cùng tham gia sáng tác văn học chữ Nôm. Trong An Nam chí lược, Lê Trắc còn cho biết, lúc bấy giờ người ta còn dùng chữ Nôm để sáng tác nhạc. Văn học đời Trần thấm nhuần tính cách dung hợp và khai phóng của đạo Phật. Nền học vấn của đời Trần không bị ràng buộc bởi khoa thi cử, chính sách tôn giáo của nhà Trần là một chính sách tự do và bình đẳng, giới sĩ phu dù xuất thân từ truyền thống tôn giáo nào cũng được triều đình đãi ngộ rất hậu. Đó là những nguyên nhân khiến cho văn học đời Trần giàu có, sáng rỡ và đầy ý thức tự tin. Thi ca đời Trần chịu ảnh hưởng thiền học sâu đậm, các thi sĩ, nhiều người nhìn sự vật bằng cái nhìn của người biết tĩnh tâm thiền quán.

Văn học thời Trần có nhiều thể loại như : truyện ký, chính sự, sử học, thơ văn, phú, hịch v.v… Điểm đặc biệt là hầu hết những sáng tác đều xuất thân từ các thiền sư. Các thiền sư ở đây cũng chính là các vị vua, đồng thời là nhà văn, nhà thơ, đã có ra đời những áng văn thơ bất hủ. Trần Nhân Tông, Huyền Quang đã để lại những tác phẩm văn học. Phật giáo bằng chữ Nôm như : Đắc thú lâm tuyền thánh đạo ca và Cư trần lạc đạo phú (Trần Nhân Tông), Vịnh văn yên tự phú (Huyền Quang). Tác phẩm của Trần Thái Tông gồm có : bài tựa kinh Kim cang, Thiền tông chỉ nam; Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ còn năm mươi bài thơ, kệ; Pháp Loa bao gồm : Đoạn sách lục và một chương thiền đạo gồm bốn bài luận thuyết. Những tác phẩm này ngày nay vẫn còn và trở thành những tài liệu vô cùng quí báu, không những là đối với việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc mà còn đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ văn tự. Những đóng góp văn học của các thiền sư đời Trần đã và mãi mãi là những “đóa hoa tươi đẹp”, là những tài sản quý báu trong nền văn học dân tộc, tự thể mỗi dòng thơ – văn là mỗi hạt ngọc long lanh. Khi cọ xát dòng đời, quay về tìm lại nguồn cội văn hóa xa xưa. Mỗi dòng thơ của các thiền sư là những vầng hào quang tỏa ngát hương thơm và hòa quyện cùng không gian soi sáng cho thế hệ của chúng ta, một con đường, một hướng đi đích thực, an trú hạnh phúc bất tận trước mọi dòng thời gian.

Lịch sử đã mấy lần sang trang, quá khứ cũng lùi xa, quá xa rồi, thế nhưng những áng văn, vần thơ của các thiền sư vẫn còn hiện hữu với những giá trị đích thực của nó, vẫn tỏa hương ngào ngạt trong vườn hoa thi ca thời đại và mãi mãi là hạt châu lóng lánh giữa muôn ngàn châu báu trong kho tàng quốc bảo Đại Việt.

4. Trong đời sống nghệ thuật, kiến trúc mỹ thuật.

Phật giáo phát triển rộng rãi trong quần chúng, thấm sâu vào lòng người, nhất định không phải chỉ nhờ có triết học đạo Phật phù hợp với hoàn cảnh xã hội và mong ước của con người, mà còn có sự đóng góp tích cực của nghệ thuật, kiến trúc mỹ thuật Phật giáo.

Trước hết, nghệ thuật ca múa nhạc đã thực sự trở thành món ăn tinh thần rất quen thuộc của nhân dân. Sử cũ cho rằng, gia đình Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật không ngày nào mà không mở cuộc hát xướng,xem thế cũng đủ biết lúc ấy, nghệ thuật ca múa nhạc đã phát triển đến mức nào. Bấy giờ, sự phân biệt giữa nghệ thuật ca múa nhạc dân gian với nghệ thuật ca múa nhạc cung đình tuy đã bước đầu xuất hiện, nhưng mức độ chưa sâu sắc. Trong dân gian, ca múa nhạc không nhất thiết lúc nào cũng phải gắn với nhau, nhưng trong cung đình, sự phối hợp hài hòa giữa ca, múa và nhạc đã diễn ra một cách phổ biến và thường xuyên. Nếu dưới thời Lý, cha ông ta có tiếp thu một vài ảnh hưởng của Chiêm Thành, thì dưới thời Trần, cha ông ta cũng có tiếp thu một vài nghệ thuật phương Bắc.

Những nhạc cụ được phổ biến nhất dưới thời Trần gồm có : trống, tất tiêu, tiểu quản, tiểu bạt, đại cốc… gọi chung là đại nhạc và các thứ đàn như : đàn cầm, đàn tranh, đàn tì bà, đàn thất huyền, đàn song huyền, cùng với sáo và các loại tiêu… gọi chung là tiểu nhạc. Đại nhạc thì dùng cho đại lễ, còn tiểu nhạc thì dùng trong lễ thường hoặc ai dùng cũng được. Lịch sử cũ cũng ghi lại một số tên bài hát nổi tiếng thời Trần như : Nam thiên nhạc, Ngọc lâu xuân, Đạp thanh du, Mộng du tiên, Canh lậu trường v.v… Về tích tuồng, nổi tiếng là vở Tây Vương Mẫu hiến bàn đào. Ngoài ca múa, nhạc hòa tấu và hát tuồng, nghệ sĩ lúc này còn biểu diễn múa rối (đặc sắc nhất là múa rối nước), múa cà kheo và làm xiếc. Cùng với sự tiếp thu ảnh hưởng với nghệ thuật Chiêm Thành, hiện tượng tiếp thu ảnh hưởng của nghệ thuật phương Bắc đã có tác dụng làm phong phú thêm chớ không làm biến đổi bản sắc vốn có từ lâu đời của nghệ thuật ca múa nhạc dân tộc. Sự hưng thịnh của Phật giáo trong thời Trần ở Việt Nam đã kéo theo sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc. Tuy vẫn tiếp tục tỏ rõ sự kế thừa những truyền thống có từ trước, nhưng phong cách thể hiện có phần phóng khoáng, khỏe mạnh và hiện thực hơn. Lãnh vực kiến trúc và điêu khắc đã hòa quyện và phục vụ đắc lực cho việc mở mang văn hóa dân tộc. Bấy giờ, hầu hết các công trình kiến trúc có qui mô lớn đều tập trung ở Thăng Long và Thanh Hóa. Tại Thăng Long nhà Trần đã cho tu bổ thành quách và xây dựng thêm nhiều kho tàng, cung điện. Đại việt sử ký toàn thư đã nhiều lần ghi chép những sự kiện về trùng tu, tôn tạo và tân tạo trong phạm vi kinh thành Thăng long. Đáng tiếc là phần lớn các kiến trúc này không còn nữa, do thời gian và do chiến tranh xâm lược. Tuy nhiên, nhiều hơn cả vẫn là những công trình xây dựng có qui mô nhỏ như : chùa, tháp, đền, miếu v.v… Đặc điểm nổi bật của những công trình này đều mang đậm màu sắc nghệ thuật Phật giáo hoặc Đạo giáo. Gắn liền với các công trình kiến trúc là các tác phẩm điêu khắc, gồm ba nhóm chính là tượng, phù điêu hoa văn trang trí.

Những ngôi chùa tháp được dựng lên từ bàn tay khối óc và niềm tin của quần chúng, không phải để phục vụ cho tầng lớp trí thức, giai cấp quí tộc mà chủ yếu là phục vụ cho tín ngưỡng quần chúng dân gian. Mặc dầu vua quan xây dựng chùa tháp cũng có lúc vì cá nhân, nhưng cá nhân đã được hòa chung với ý muốn của quần chúng nên nó mang tính tập thể, tính cộng đồng, vì lợi ích chung của toàn dân là sản phẩm của cả dân tộc. Nhà nho Lê Bá Quát viết : “Trên từ vương công, dưới đến thứ dân, hễ làm gì thuộc về việc Phật thì tất cả gia tài cũng không tiếc, nếu hôm nay đem tiền của để làm chùa, xây tháp thì hớn hở vui vẻ, như trong tay đã cầm được cái biên lai để ngày sau đi nhận số tiền trả báo lại. Cho nên trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, đường cùng ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo, chẳng thề mà tin, hễ chỗ nào có nhà ở, thì ở đó có chùa Phật, bỏ đi thì làm lại, hư đi thì sửa lại”. Hơn bao giờ hết hình ảnh ngôi chùa trở thành thân quen và cần thiết trong đời sống của quần chúng “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”.

Về tượng, bên cạnh tượng Phật là hàng loạt những pho gồm nhiều chủng loại. Các tượng Phật thời Trần là dáng ngồi, mắt lim dim, tai to. Các loại tượng khác như tượng người, tượng ngựa … phần nhiều được tạc bằng đá và chủ yếu là được đặt ở các lăng mộ hay điện thờ.

Tương tự như phù điêu thời Lý, phù điêu thời Trần thường có hình người. Điển hình hơn cả là bức phù điêu bằng gỗ ở chùa Thái Lạc, diễn tả hình người vừa bưng bình hương, vừa nghiêng mình để múa. Phong phú nhất trong nghệ thuật điêu khắc là những bức chạm trang trí ở khắp các công trình kiến trúc. Có bức thể hiện sự du nhập của nghệ thuật Chiêm Thành, như hình người có cánh, hình chim đáng trống, hình thần Garuda … Có những bức thể hiện ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Quốc, nhất là hoa văn ở các câu đối, câu liễng hay ở những bức hoành phi… Nhưng đáng kể hơn cả vẫn là những bức chạm khắc thể hiện bản sắc riêng của nghệ thuật điêu khắc đời Trần. Trong phần lớn các bức chạm khắc trang trí, người ta thấy có nhiều họa tiết hoa sen, hình núi hoặc các hoa cúc nối tiếp nhau. Đặc biệt hình rồng trơn và lá đề, vốn phổ biến dưới thời Lý, đến đây vẫn là họa tiết trang trí chủ đạo, chỉ khác là đầu rồng to hơn, được chạm từng cặp, uốn mình trong lá đề. Họa tiết hình rồng và lá đề được tìm thấy khá nhiều ở các chùa như Phật Tích, chùa Long Đội, chùa Phổ Minh và bia Thị Đức.

Qua quá trình đào thải, chọn lọc và nâng cao để củng cố nền độc lập và thống nhất vững chắc, một tinh thần tự hào dân tộc, một ý thức đầy đủ về sự tồn tại của đất nước xác định một cách vững vàng với một qui mô rộng lớn, khang trang hơn nhiều, xứng đáng là trái tim, là lá phổi của một quốc gia thống nhất độc lập. Trải qua 175 năm với 13 đời Hoàng đế nối nhau trị vì, chiến đấu và lao động, lập nên những chiến công hiển hách, những thành tựu trong công cuộc trị quốc, trong kiến thiết đất nước, trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần mà nhân dân ta đã thu được là những thành quả vô giá của người Đại Việt trong điều kiện đất nước độc lập mà sức mạnh của nó nhân lên gấp bội bằng một nền xã hội thống nhất được củng cố vững chắc. Đó chính là giá trị lớn lao của nền thống nhất triều Trần. 

KẾT LUẬN

Cuộc sống đã bao lần thay đổi và thời gian đã trôi qua gần 16 thế kỷ, giá trị hiện thực của Phật giáo thời Trần cũng được tăng thêm qua mỗi lần nhìn lại. Ngày hôm nay, xã hội đang trên đà tiến đến giai đoạn kinh tế phát triển mạnh, thì những giá trị của quá khứ  cần phải được trân quí, bảo lưu và giữ giụn cẩn thận. Bởi vì lịch sử là chấn tích sinh động làm cơ sở cho niềm tự hào của dân tộc. Đặc sắc của Phật giáo đời Trần là một thực thể sống, việc giải thoát cho tự thân mà các thiền sư đời Trần đã đem tinh thần ấy làm hành trang để hòa vào đời, giúp người, giúp đời. Đức Phật dạy, nếu chúng ta tu hành được thanh tịnh, giải thoát rồi thì phải thương nghĩ đến những người xung quanh còn mê lầm và còn chìm đắm trong cảnh khổ đau vì những trói buộc. Lao mình vào những cảnh đó để cứu độ chúng sanh,được như vậy chúng ta mới thật sự là người hết lòng vì Phật pháp. Nếu cứ nghĩ mình là thanh tịnh, giải thoát, còn thiên hạ là nhơ bẩn, khổ đau rồi dần xa lánh họ,thì chính mình đã cô lập mình vậy. Khi đó, giải thoát làm gì mà không đem lại lợi ích cho nhân quần xã hội. Vì vậy, mục đích tối hậu của các vua cũng như các thiền sư đời Trần không chỉ chuyên tâm tu tập để đạt được giải thoát, mà còn đem tinh thần giải thoát “hòa quang đồng trần” hòng làm lợi ích cho nhân dân, xã tắc, nhất là trong giai đoạn đất nước bị họa ngoại xâm đe dọa. Với vai trò nguyên thủ quốc gia, các vị vua đầu triều Trần đã làm tròn trách nhiệm của người công dân đối với đất nước, một người Phâỉt tử đối với đạo pháp. Các ông vua Phật tử này được kết tinh từ dòng máu đạo pháp và dân tộc, lập ra triều đại vững chắc và thịnh vượng nhờ thực thi tinh thần Phật giáo Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

Nhưng không phải ông vua nào thời Trần cũng đều sùng đạo Phật, cũng mở mang Phật học, đạo Phật thời Trần không phải lúc nào cũng đại thịnh, mà có lúc thịnh lúc suy. Các vua đầu đời Trần là những ông vua Phật giáo, luôn luôn nêu gương sáng, đạo đức, vô ngã, chí công, vô tư cho toàn dân noi theo. Ngược lại, các vua Trần sau này từ Trần Nghệ Tông trở xuống không còn giữ được đạo đức vô vi nữa, khi các vua này lên thay những đời vua trước, đã xóa bỏ thành tích cũ, khi lãnh đạo đất nước chẳng những không ủng hộ mà lại còn muốn triệt hạ Phật giáo, chà đạp lên tín ngưỡng của quảng đại quần chúng làm cho đất nước ảm đạm, sầu bi, đạo đức xã hội điên đảo. Đạo Phật ở cuối thời Lý không còn sức sống nữa, đã tha hóa đã biến thành một thứ tôn giáo ủy mị, mê tín dị đoan, thật sự mất sức hấp dẫn ban đầu rồi nhà Lý cùng theo đó mà suy tàn dẫn đến diệt vong nhường chỗ cho nhà Trần. Phật giáo ở cuối thời Trần cũng đi vào vết xe cũ, mất hết sức sống, không còn là lẽ sống cho mọi người như ban đầu nữa, cho nên nó phải suy, để rồi đời Trần cũng không ngoài thông lệ diệt vong. Như vậy, trong hưng thịnh đã bộc lộ những mầm mống suy vong, đó là lẽ vô thường mà đạo Phật đã hằng dạy.

Thời đại triều Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử quốc gia phong kiến tự chủ Đại Việt. Thời đại hào hùng vì có con người hào hùng, đối với một dân tộc phải thường xuyên chiến đấu để sống còn, yêu nước đã trở thành máu thịt trong cơ thể. Tuy nhiên, trang sử hào hùng của thời đại nhà Trần là trang sử độc nhất. Những gì con người thời đại này làm được dường như còn có một động lực vô hình nào đó thúc đẩy họ. Lúc này Phật giáo đang thịnh đạt và có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần từ vua, quan, thứ dân, từ đường lối chính trị đến bản sắc văn hóa. Điều đáng nói, đó là một đạo Phật hoàn toàn Việt Nam. Những tinh hoa trong tư tưởng Phật giáo đời Trần đã ảnh hưởng đến tâm hồn, nhân cách con người thời bấy giờ. Tinh thần vô ngã cốt lõi của tư tưởng giải thoát Phật giáo, đã giúp cho con người sống cởi mở hơn, hào hùng hơn. Đặc biệt là với giai cấp  cầm quyền, những nhân tố đóng vai trò quyết định trong công cuộc phục hưng và phát triển đất nước của dân tộc Đại Việt. Quả thật, đạo Phật đã góp phần tạo nên những con người khổng lồ của thời đại triều Trần, những con người tự do tự tại nhưng không kém phần tự tin vào khả năng tự lực, tự cường của bản thân, đồng thời góp phần tạo nền tảng cho một xã hội tốt đẹp hơn, lý tưởng hơn.

Dân tộc Việt Nam đã tìm thấy được ở Phật giáo một hệ tư tưởng mới, tiến bộ có thể dùng để đối trị tư tưởng khổng giáo vốn là chỗ dựa tinh thần của nền đô hộ Trung Hoa đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Phật giáo luôn luôn thể hiện tinh thần bao dung, hòa bình. Và điều này đã giải thích vì sao có sự hình thành quan điểm “Tam giáo đồng nguyên”. Không dừng lại ở đó, việc khai sáng triều đại độc lập, tự chủ đời Trần đã đánh dấu một bước hội nhập sâu rộng hơn của Phật giáo và xã hội Việt Nam. Với tinh thần bình đẳng tuyệt đối, đạo Phật đã tạo cơ sở cho sự đoàn kết toàn dân ngay những buổi đầu dựng nước. Vấn đề thừa kế tư tưởng Phật giáo đời Trần là vấn đề nhập thế sinh động của mỗi người con Phật. Trước hết là về mặt trí tuệ và tư tưởng vị tha, trong sạch mới có tri kiến chơn chánh, thực hành đúng giáo lý, tích cực hoạt động để tạo an lành hạnh phúc cho kẻ khác. Ngày nay nền văn minh của nhân loại càng đi lên, thì con người càng vật lộn sinh tồn với sự sống. Chỉ có trí tuệ Phật giáo mới đáp ứng được nhu cầu tâm linh của con người mà thiết thực hơn hết là trách nhiệm ở mỗi tăng ni. Đó là sự gắn liền với đời sống trong tất cả mọi mặt, để hoàn thành sứ mạng “tác Như Lai sứ” và không tách rời lý tưởng giải thoát.

Thế hệ chúng ta bước sang thế kỷ XXI, nền văn minh khoa học kỹ thuật nhằm cung ứng phương tiện vật chất phục vụ cuộc sống con người ngày càng phát triển cực độ. Nhưng cùng lúc, con người cũng đang báo động sự xuống cấp tinh thần của con người, không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà trên khắp hành tinh. Thế giới đang kêu gọi con người biết kiềm chế, dừng lại với chính mình. Bên ngoài dù phát triển kinh tế nuôi dưỡng sự sống, nhưng cũng phải biết làm thế nào để bảo vệ môi sinh, môi trường cho cuộc sống. Đồng thời, bên ngoài có cuộc sống vật chất tốt rồi thì bên trong con người cũng phải biết quay về tìm lại cội nguồn truyền thống văn hóa tổ tiên của mỗi dân tộc. Nếp sống hiền đẹp của các thế hệ tiền nhân là luôn luôn gánh chịu gian nan khổ cực, hy sinh cho con cháu, xả thân vì đại nghĩa, vì an nguy của dân tộc và nhân loại. Hiện nay đa số những người trí thức phương tây đang bất lực trước làn sống văn minh khoa học và sự xuống cấp trầm trọng tinh thần đạo đức con người trong xã hội. Họ đang tìm về phương đông như tìm kiếm một ánh sáng mới mà họ tin là có chỗ dựa tinh thần căn bản về đạo đức, một phương thức sống với đầy đủ ý nghĩa về nền tảng sống cao đẹp của con người. Sống chung trong cộng đồng mà tự ý thức được mình, biết “thương người như thể thương thân” hay biết “lá lành đùm lá rách” v.v… đâu phải ở đâu và thời nào cũng có được. Con người sống mà biết sống cho mình và cho người thì chắc chắn con người sẽ tìm ra ý nghĩa sống, biết trân trọng và yêu thương cuộc sống. Những tăng ni trẻ chúng ta, những người trí thức của thế kỷ, chắc hẳn đã thấy thực trạng của Phật giáo ngày nay, có lẽ mỗi chúng ta nên có giây phút nhìn lại mình, để thấy mình như thế nào, đang tư duy và hành động ra sao cho cuộc sống hiện tại và tương lai.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online