Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow THƯỞNG THỨC TRÀ CỦA NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG
THƯỞNG THỨC TRÀ CỦA NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG PDF In E-mail
Người viết: PTS Nguyễn Minh Hòa   
06/03/2015

THƯỞNG THỨC TRÀ CỦA NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG

* PTS Nguyễn Minh Hòa

Trong những ngày lễ tết bây giờ, người ta thường mời chào nhau uống beer, cocacola, pepsicola… hơn là uống trà. Nhưng tịnh không một ai coi hành vi uống thứ nước giải khát công nghiệp đó là một nghệ thuật, cho dù nó có phổ biến đén đâu. Cho dù số người uống trà có thể bị giảm đi đôi chút trong xã hội công nghiệp - đô thị, nhưng dứt khoát trong các loại “mỹ ẩm thực” thì trà bao giờ cũng được xếp vào loại nghệ thuật cao sang nhất. Do vậy, nhân ngày tết luận bàn về nghệ thuật uống trà của người Á châu thiết tưởng không thừa chút nào cả.

 

Uống trà là một thói quen phổ biến và lâu đời của nhiều dân tộc trên thế giới. Thế nhưng mỗi dân tộc lại có những kiểu chế tác trà, pha trà và thưởng ngoạn trà rất khác nhau. Ở các nước châu Âu người dân thường uống trà với đường, mật ong, mứt trái cây. Còn dân xứ Trung Á lại uống trà với sữa dê, ngựa bò. Ngày nay, do yêu cầu của đời sống công nghiệp cho nên xuất hiện các loại trà uống nhanh (instan tea) như trà gói, trà túi lọc, trà bột, trà hộp. Kiểu uống trà mộc (trà nguyên chất) cùng những thể thức cầu kỳ chỉ tồn tại ở một số vùng, một số tầng lớp người ở châu Á như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Đài Loan, v.v… Ở những nơi này uống trà không còn hành vi thông thường nữa mà được nâng lên thành nghệ thuật, mang đậm màu sắc dân tộc cùng với những nghi thức huyền bí chứa đựng trong đó những tư tưởng triết học và tôn giáo sâu đậm.

Ở Nhật Bản uống trà được nâng lên thành “ĐẠO” gọi là trà đạo (cha-no-yu) được hình thành từ thế kỷ thứ XV trong giới quyền quí (sogun) và lan dần xuống các Samurai. Vào thời kỳ đó đã hình thành nên hàng trăm trường phái thưởng ngoạn trà khác nhau, đến nay chúng đã được mai một đi ít nhiều, có những trường phái đã bị thất truyền. Nhưng bất kỳ người Nhật nào cũng biết câu danh ngôn nổi tiếng “Trà đạo là chiêm nghiệm vẻ đẹp dưới ánh nắng mờ nhạt của ngày thường và đời thường”.

Cây trà như chúng ta thường thấy, tương truyền bắt nguồn từ Trung Quốc, truyền thuyết kể lại rằng một hôm ngồi nhập định Bồ Đề Đạt Ma bỗng thấy buồn ngủ vô cùng, hai mắt cứ díp lại, đến mức khó có thể cưỡng lại được. Cả giận, ngài bèn móc ngay cặp mắt của mình ra khỏi tròng và ném xuống đất. Ít lâu sau ngay tại chỗ đó bỗng dưng mọc lên một giống cây lạ, lá xanh biết giống hình con mắt xung quanh có răng cưa trông tựa như lông mi của con mắt. Thấy sự lạ các đệ tử bèn hái thử sắc với nước sôi uống vài hớp thấy người khỏe khoắn tỉnh táo lạ thường và ngồi đọc kinh thâu đêm suốt sáng không hề buồn ngủ. Theo nhiều tài liệu có ghi nhận rằng người khởi xướng trà đạo ở Trung Quốc chính là Lão Tử, ông đã đặt ra các nghi lễ trong khi uống trà như cách thức pha trà, dâng trà, tư thế uống trà dành cho các đẳng cấp xã hội khác nhau cũng như số lượng người trong một buổi trà đàm, cùng các bản nhạc được tấu lên trong khi thưởng ngoạn hương vị của trà. Lão Tử gọi thứ nước màu vàng đựng trong những chiếc tách nhỏ là “kim dược” (thứ thuốc quí như vàng). Lịch sử Trung Hoa cũng ghi nhận cách thức chế tác ràr của những đệ tử theo phái Thiền Tông là thuộc vào hạng bậc nhất cầu kỳ. Những thanh niên khỏe mạnh, giỏi võ nghệ đi hàng tuần lễ, leo lên những đỉnh núi cao chót vót quanh năm chỉ có sương gió mây mù để tìm hái một loại lá trà đặc biệt, lá của nó cực nhỏ, những lá có màu trắng thuộc vào loại đệ nhất danh trà. Những loại lá trà quý hiếm này được mang về sao tẩm rất đặc biệt, rất ít người biết vì đó là bí mật tuyệt đối của môn phái. Nhưng có lẽ loại trà nổi danh khắp Trung Quốc và trên thế giới có tên là “trảm mã trà”. Mà cũng nghe vậy thôi chứ mấy ai được thưởng ngoạn vì chế biến loại trà này quá ư là tốn kém và công phu. Để có được loại trà quý nhất, hiếm nhất và đắt nhất tiến các vị vua chúa dành cho các dịp lễ trọng thể và tiếp sứ thần nước ngoài, người ta đã cho một con bạch mã (ngựa trắng) ăn một loại trà tuyệt hảo rồi sau đó mới mổ bụng lấy trà ra để chế biến sao tẩm.

Ở Việt Nam uống trà chưa trở thành một thứ đạo thần bí như ở Nhật Bản, Trung Quốc, nhưng không phải không có những nghi thức,  cầu kỳ và trọng thể. Điều đặt biệt của người Việt Nam so với các nước trên thế giới là người Việt Nam suốt từ Bắc chí Nam chỉ uống một loại trà nguyên chất gọi là trà mộc không sao tẩm thêm bất cứ một thứ hương liệu phụ gia hóa chất hay một loại lá lẩu trộn lẫn nào thêm để tạo hương thơm và vị đậm như người Nhật Bản. Ấn Độ đã làm. Những loại trà danh tiếng ở Việt Nam phải kể đến như Thái Nguyên, Phú Thọ, Lâm Đồng. Để tạo thêm mùi hấp dẫn người Nam bộ thường ướp trà với hoa sói, hoa lài, hoa ngâu, hoa sen để trà có mùi thơm tự nhiên.

Trong lịch sử Việt Nam cũng có không ít những trang ghi lại tập tục uống trà khá hay. Chuyện rằng vào thời Trần, để tránh những chuyện bất trắc có thể xảy ra, các vị vua nhà Trần đã cho các vương hầu, tướng lãnh lập điền trang thái ấp quanh kinh thành. Các thái ấp được xây dựng như những vương quốc riêng của các vương tôn công tử nhà Trần. Chẳng biết từ lúc nào  giữa các gia nhân trong các thái ấp có cuộc ganh đua với nhau về võ nghệ, thơ phú, cách bài trí xây dựng và cố nhiên có cả nghệ thuật ẩm thực. Để tạo ra một phong cách riêng biệt cũng như để làm đẹp lòng gia chủ, các gia nhân đã có những kiểu chế tác trà khác nhau, cách thức pha trà và địa điểm thưởng ngoạn trà khác nhau.  Mỗi thái ấp đều tự hào về trà của mình. Cả kinh thành Thăng Long ai ai cũng biết danh trà của các thái ấp Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật, v.v…

Người viết bài này có dịp rong ruổi từ Nam ra Bắc, được chứng kiến khá nhiều kiểu uống trà được xếp vào loại nghệ thuật. Nhân nhàn tản ngày xuân kể ra đây mọi người cùng biết. Một lần công tác ra Huế, tôi có dịp làm quuen với một ông giáo già dạy sử, ông được coi là từ điển sống về Huế, ông mời tôi tới uống trà và đàm đạo thế sự. Suốt buổi tối ông chỉ cho tôi uống độc một thứ nước lọc trong veo đựng trong chai dành cho đàn bà con nít. Tôi trộm nghĩ ông già này chắc lẩm cẩm mất rồi. Mãi đến gần mười giờ đêm ông mới khều tôi ra sau nhà, hai chúng tôi đi ra giữa một hồ sen rộng bằng chiếc thuyền nan nho nhỏ. Giữa hồ sen thơm ngát, sương đêm lành lạnh giăng màn, ông như một đạo sĩ lặng  lẽ lấy ra một gói trà nhỏ bọc trong giấy bản và cẩn trọng từng nhúm trà nhỏ vào trong ba búp sen, ông bảo tùy theo số lượng người uống mà định lượng số trà nhiều ít ủ trong 3, 5, 7, 9 bông. Năm giờ sáng hôm sau ông lấy trà ra khỏi từng bông sen và ủ vào giấy bản. Nhưng điều kỳ thú hơn cả là ông lấy cái nậm rượu để hứng lấy sương đêm đọng lại trên những cánh hoa sen, một thứ thủy tiên (nước trời) thật trong lành và tinh khiết.

Được uống trà móc câu ướp hương sen, pha với nước trời tinh khiết lấy từ những cánh sen, ngồi thưởng ngoạn bên hồ sen trong tiết trời lành lạnh, không khí yên bình, tĩnh lặng và thanh khiết. Ngồi ngắm phong cảnh thiên nhiên vào lúc trời đất bắt đầu gặp nhau, âm dương giao hòa, tay cầm chén trà nóng, trong lòng thư thái không còn nỗi phiền muộn đời thường, bên cạnh có bạn hiền. Thật là “bình minh nhất trản trà”. Uống trà như thế thật sướng. Nhớ để đời.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online