Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow CHA TÔI
CHA TÔI PDF In E-mail
Người viết: Huỳnh Ngọc Thành   
25/05/2015

CHA TÔI

* Tùy bút của Huỳnh Ngọc Thành

Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này

HERMANN HESSE (1877 -1962) Giải thưởng Nobel văn chương 1946.

Trong bốn anh chị em, tôi là người giống thân phụ nhiều hơn. Những người có trí nhớ kém nhất cũng dễ dàng sực tỉnh khi đối diện với tôi. Theo trong gia đình hai bên nội ngoại, bà con đều thừa nhận tôi giống ông Năm (đó là ngôi thứ của ba tôi). Còn riêng bạn bè hùn họp làm ăn hoặc khách hàng quen thuộc mấy chục năm qua, gặp tôi họ đều gọi là con ông Đà Thành (đó là tên bảng hiệu buôn bán hơn hai mươi năm trước ngày thống nhất đất nước).

 

Chuyện nhìn khuôn mặt chỉ là bề ngoài thôi, kiểu nhận dạng theo thói quen truyền kiếp. Như lâu nay, con gái tôi đi đến đâu, ai cũng nói “lại giống thằng cha hắn như đúc!”. Điều sâu xa nhất là ít ai biết so với con cái trong nhà. Đó là con người khí khái, thích chơi trội hơn người khác nhưng không hề đem lại sự bất hạnh nào cho đồng loại. Tất nhiên phần thiệt thòi cay đắng đeo đẳng bên mình. Suốt một đời người chỉ biết vì nghĩa lớn, chí thú làm ăn và chơi hết mình. Ăn chơi với đầy đủ nghĩa trong sáng. Riêng chuyện ăn chơi cũng để lại nhiều dấu ấn cho con cháu sau này, chẳng bao giờ bạn bè nhắc đời phiền trách hay để lại hậu quả không hay ho. Nói theo ngôn ngữ của nhà chức trách, đó là chưa bao giờ “phạm pháp để bị bắt quả tang” trong việc ăn chơi “mát trời ông địa” như thở @.

Lúc tôi chưa ra đời, sau này má tôi kể lại: “Ba tụi bây đi nấu bếp cho Tây. Còn má đi làm chè. Nhưng đi làm thì ít mà ghé vô sòng cờ bạc thì nhiều. Dượng Bảy về báo cho má hay để khuyên răn ổng thì ổng lại đòi hành hung em rể”. Không một lời giải thích, về sau mới biết ổng đi tham gia họp hành chi đó và lập kế hoạch tổ chức cho Việt Minh về truy bắt xã Cang tham gia tề ngụy ở xã. Khi vỡ lỡ, cả nhóm mới bị bắt. Má tôi nói tiếp: “Phần má cũng bị bắt đưa vào nhà lao Con Gà, đứa con lớn đi lẩm đẩm, còn đứa nhỏ đang bồng trên tay. Đoạn trường đủ nẻo. Giam má cùng với hai đứa con khoảng chừng hai năm, không có chứng cứ liên quan nên trả tự do. Ba mẹ con cực nhọc mọi bề. Một mình má buôn bán ngay ngã tư chợ Hàn để chắt chiu gầy dựng chờ ngày đoàn tụ”. Chuyện này về sau ba tôi mới kể lại: “Mấy ổng bảo theo dõi xã Cang, trong nhóm có Hai Lỳ, Ba Hoàn, Bốn Sắc và Năm Kiển (tức ba tôi). Cả nhóm đi vòng ngoài trinh sát nắm tình hình để mấy ổng vô bắt xã Cang. Bắt đi rồi, vợ xã Cang mới đi báo Tây, trước đó thấy Hai Lỳ lãng vãng ngoài sân vườn mấy lần. Thế là Hai Lỳ bị bắt và không chịu đòn thù nên khai luôn cả nhóm. Sau khi bắt ở nhà, mật thám đưa ba đi đồn Mang Cá ở Huế, kêu án năm năm đày biệt xứ ra Côn Đảo. Được ân xá trước một năm đình chiến, ba về năm ba, năm tư sinh mầy đó”. Tôi còn nhớ ngày còn nhỏ, khi nghe kể xong, tôi tò mò: “Mấy ổng là ai”. Ba tôi bảo: “Có biết ai đâu. Đơn tuyến mà. Chỉ biết có một người bảo làm là hay làm. Ngoài ra không được hỏi thêm chi cả”. Đến khi khai báo để khen thưởng thành tích tham gia kháng chiến một, ba tôi đưa ra một tấm giấy bằng bàn tay đã cũ, ghi toàn tiếng Pháp. Đây là tờ giấy phóng thích và nói: “Ba cất hơn 20 năm ở phía sau di ảnh ông nội mấy đứa trên bàn thờ. Trong nhà không ai biết và có ngày xài tới”. Tôi xem và ghi lại nguyên văn:

MAISON KENTRALE

                   DE                                           BILLET DE LIBÉRATION

          SAIGON

Le nommé HUỲNH KIỂN N-0 938 CM Mis en linbert s le 3 Mai 1953 par…à 5 ans de T.F le 21.12.1949 … le T.M.A.. des T.F.A..

Inculpé de participation à une entreprise de démoialisation de la nation ou de I`armeé…

Saigon, le 3 Mai 1953

Le Gardien Chè

De la mai son centrale

(có chữ ký và con dấu tròn màu đỏ)

Ba tôi săm se tờ giấy mấy bận, coi như báu vật trong đời vừa được nhìn lại thời gian dài lưu lạc phương xa. Xem công khai trong ánh sáng ngày chiến thắng mà không sợ bị người lạ dòm ngó để làm dễ khó, như ngày nào còn dấu kín cả vợ con ruột thịt.

Nghe  hướng dẫn của phường, ba tôi nhờ người dịch tờ giấy phóng thích ra tiếng Việt. Điền vào tờ khai thành tích in sẵn và kèm theo giấy xác nhận của người có liên quan “Người trực tiếp lãnh đạo không rõ tên, ngày đó chỉ biết cấp trên mình. Giờ còn lại những người trong nhóm cùng ở tù, thôi thì anh em xác nhận cho nhau. Kèm theo cái “rờ-suy” (tiếng Pháp : Recu = biên lai) là chắc ăn rồi”. Ba tôi hoan hỷ nói thế. Vài hôm sau, phường gọi lên trả lại hồ sơ vì thiếu xác nhận của người giao nhiệm vụ. Còn những tờ giấy xác nhận của ông Ba Hoàn, Bốn Sắc và Hai Lỳ chỉ là những người dân bình thường giúp đỡ kháng chiến mà thôi. Ba tôi hỏi lại: “Thế còn tờ giấy chủ ngục ký phóng thích thì không đủ làm bằng chứng tin cậy hay sao”. Không rõ người ta trả lời thế nào mà ba tôi cầm hết giấy tờ ra về, buồn bả hết mấy ngày rồi cứ lặp đi lặp lại điệp khúc trong mỗi bữa ăn trưa chiều: “Ngày trước mình giác ngộ theo mấy ổng. Có ai dặn mình hỏi rõ tên người chỉ huy…”. Tôi hiểu ra ba tôi đó là nỗi buồn không thể tả. Trong gian khổ chỉ cần duy nhất lòng yêu nước nồng nàn. Đến lúc thanh bình, đụng chạm đến quyền lợi lại đòi hỏi một quy tắc bất biến. Chẳng biết trácch cứ ai điều gì. Sau thời gian dằn vặt khổ tâm, ba tôi dọn quầy vé số trước nhà để bán cho khuây khỏa. Thiên hạ bán có lãi không nhiều thì ít, còn ba tôi bán không rõ thế nào ngày càng hụt vốn. Thì ra chỉ vì ham lãi chút đỉnh mà đổi nhằm vé số cạo rửa thật tinh vi. Đến khi thanh toán cho công ty xổ số đều bị từ chối, thậm chí còn có khi nặng lời nghi ngờ ổng nữa. Mỗi ngày mỗi thâm hụt, vừa phải chi tiêu, vừa mất mát nhầm lẫn. Cuối cùng “dẹp tiệm” luôn quầy vé số vỉa hè! Có lần trong bửa ăn, ba tôi nổi sùng “Ngày trước tao đi làm nuôi cả nhà. Bây giờ cả nhà đi làm không nuôi nổi thân tao”. Bốn chị em tôi ngồi im re, ngó nhau mà ngơ ngác như chưa hiểu điều hệ trọng vừa nghe … Không lẽ nào ba tôi kiệt quệ tinh thần và khánh tận vật chất sớm thế sao. Mới năm năm sau ngày giải phóng thành phố chứ đâu có nhiều…

Đến đợt khen thưởng kháng chiến hai. Chuyến này chắc ăn vì mấy người lãnh đạo còn sống, đang công tác quanh đây. Mất thời gian đi tới đi lui mấy ngày, một sấp hồ sơ hoàn chỉnh không còn chừa chỗ nào để người khác hoạnh họe, vài tháng sau, phường tổ chức khăn thưởng, trao cho ba tôi mảnh bằng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và Bảng Gia đình vẻ vang vì có một con thoát ly gia đình tham gia kháng chiến. Chỉ có hai mảnh giấy với hai cơ quan trung ương khen khác nhau, ngoài ra chẳng có thêm chút đỉnh vật chất gì cả. Vậy mà ba vui suốt cả tuần. Đặt thợ mộc làm lại khung lộng kiến treo giữa nhà, ngoài cửa bước vô là thấy ngay, nhìn không chán và có lúc ba tôi lại phàn nàn: “Phải chi có được cái khen hồi Tây nữa thì mãn nguyện cả một thời trai trẻ ở tù Côn Đảo trở về. Ở nhà vợ con liên lụy cũng bị tù đày cực khổ, coi như tan nát một gia đình tham gia kháng chiến”. Hai năm sau ngày đó, phường trao thêm tấm mề đay nhưng đã muộn mất rồi. Ba tôi không kịp nhìn thấy. Tôi đành thắp hương khấn vái hương hồn ba sống khôn thác thiêng về chứng giám giây phút vinh quang còn sót lại của một thời còn sót lại của một thời khó quên. Không biết điều tôi làm có trọng đặt hộp đựng tấm huy chương trước di ảnh của ba tôi…

Những ngày hấp hối, ba tôi nói nhỏ nhẹ với vợ con và các cháu nội ngoại đứng quanh giường: “Ba chẳng ân hận một điều gì khi còn sống. Chẳng để lại nợ nần cho các con phải gánh trả…” Má tôi tiếp lời: “Ông lựa giờ tốt mà đi để sau này con cháu làm ăn đỡ vất vả”. Hôm sau ba tôi gắng gượng nói thêm: “Các con nhớ liệm cho ba thêm cái khăn tang để ba chờ má, vì ba đi trước”. Bỗng dưng, ba tôi tỉnh táo dặn dò: “Cố gắng mời thầy tụng kinh. Đừng sát sinh, cúng chay cho ba là được rồi”. Khoảng chín giờ tối mưa bão, ba tôi đã thanh thản gởi lại trần gian những điều được mất để ra đi vào một đêm gần cuối tháng mười năm Giáp Tý (1984). Cả nhà bình tĩnh đón chờ điều cuối cùng phải đến của một kiếp người…

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online