Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow CHUYẾN LÊN YÊN TỬ (GsTs Thái Kim Lan)
CHUYẾN LÊN YÊN TỬ (GsTs Thái Kim Lan) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
01/12/2008

CHUYẾN LÊN YÊN TỬ

* Giáo sư Tiến sĩ Thái Kim Lan

Ðã lâu, mỗi khi về thăm quê nhà, tôi thường ngỏ ý vớí bạn bè muốn đi thăm chùa Ðồng và leo núi Yên Tử, nơi cội nguồn của giòng Thiền Trúc Lâm Việt Nam. Cứ mỗi lần như thế, bạn bè ở Huế cũng như người quen ở Hà Nội đều gạt phăng bảo rằng khó lắm, đường đi hiểm trở và phải có thì giờ, phải mất hai ngày trời mới leo lên tới chùa Ðồng trên đỉnh Yên Tử. Và kẻ ở xa như tôi, khi thấy nét hốt hoảng của mọi người về nỗi ngăn sông cách núi như thế, cũng đâm ra ngần ngại, lo cho thân mình, và ngoan ngoãn bỏ ý định lên Yên Tử. Nhưng mùa đông vừa rồi, nhân về Hà Nội do lời mời của Viện Goethe, tôi tự nhủ lần này phải leo lên được núi Yên Tử mới cam lòng và nhất định không nghe ai can ngăn việc đường đi hiểm trở mà nản chí.

Tính thì giờ, tôi chỉ có một ngày đi leo núi. Cũng được thôi, một ngày tính theo một ngày, không sao cả!

Cuộc đi! Cũng chẳng khó chi cho mấy!

"Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông" ...

"Miễn cốc một lòng;

Thì rồi mọi hoặc".

(Trần Nhân Tông - Cư Trần Lạc Ðạo Phú, Lê Mạnh Thát -Trần Nhân Tông, tt. 403, 413).

Một vài giờ đôn đáo xuôi ngược hẹn giờ, hẹn xe, hẹn người cùng đồng hành cuộc đi và cuộc đi đã được thu xếp. Suốt cả đêm vừa thấp thỏm chờ sáng lên đường, vừa thú vị vì cuộc đi sắp được thực hiện, trong đầu tôi âm vang câu châm ngôn đắc chí đã học từ hồi lớp năm trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư "đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông", một câu thường dùng như một loại cẩm nang thuộc lòng, dù đúng cho muôn đời và đúng trong trường hợp của chuyến đi Yên Tử này, nhưng hôm nay nghe bóng bẩy trơn lu như một sáo ngữ nhàm, chán tai quá, tôi lắc đầu, xua đuổi âm vang của câu ấy ra khỏi trí óc. Chỉ biết ngày mai sẽ lên đường đi Yên Tử ... một ước ao đã nuôi dưỡng từ mấy năm sắp thành sự thật, một ước ao thật ra rất tầm thường, rất nhỏ bé, không phải loại dời núi lấp sông, nhưng một ước ao dù cho nhỏ bé, cũng có quyền đòi thành sự thật ...

Không ngủ được, tôi mở cuốn Toàn Tập Trần Nhân Tông mới nhận được của Thầy Lê Mạnh Thát tặng và bắt gặp một cách nói khác, cũng cùng một chân lý nhưng mộc mạc hơn, Việt Nam hơn và lạ lùng hơn: "Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông" và "Miễn cốc một lòng; Thì rồi mọi hoặc." Cách đặt câu của bài phú Cư Trần Lạc Ðạo hình như còn gai góc, khó khăn, có nhiều câu lần đầu tiên được viết bằng tiếng Nôm trong lịch sử văn học Việt Nam. Ðây là bài văn của một vị vua quyết tâm dùng tiếng Việt làm chủ ngữ của văn học. Bài phú đọc lên có chỗ nghe còn thô thiển vấp váp, nhưng chính những lần vấp ngã đó lại khiến ta phải dừng lại để thâm nhập vào trong chiều sâu của chữ nghĩa và "lắng lòng mình" để chiêm nghiệm "lòng người".

Thật quả từ lâu "lòng" mình cứ "vướng" cứ "chấp". Tâm mà vướng thì chướng ngại sẽ trùng trùng điệp điệp, ta cứ quyết một lòng thì mọi nghi ngại đều được giải tỏa. Yên Tử chỉ là một điểm nhỏ. Ðiểm lớn là việc nhà việc nước.

Một ông vua nước Nam, cách đây đã 800 trăm năm đặt chữ Tâm, chữ Lòng lên hàng đầu trong từng hành động xây thành dựng nước, bảo vệ bờ cõi, thao luyện nhân cách Việt Nam. Một ông vua có đủ quyền lực trong tay nhưng sẵn sàng rủ bỏ quyền quý giàu sang tột đỉnh để làm một vị sư "nệm cỏ giường Thiền", "giữ giới sạch", "giữ lòng trong". Giấc ngủ chập chờn đến với tôi cùng những ý tưởng và hình ảnh loanh quanh chữ Tâm, mà thời đại Trần Nhân Tông đã gọi rất nôm na, rất Việt Nam là "lòng ta" như một "cách sống, cách nghĩ" lúc Việt Nam bước vào giai đại phát huy tự chủ tự cường sau khi đã dựng nước và giữ nước ...

Sông Nhị ngày mai mờ khói nước

Rượu đào tươi mát rửa lòng trong

(Trần Nhân Tông - Họa Thơ Kiều Nguyên Lãng)

Lót Lòng Bằng Bánh Cuốn

Xe đi từ Hà Nội lúc 4 giờ sáng, băng qua sông Nhị còn mờ hơi sương, đến chân núi lúc 8 giờ, ăn sáng nơi một quán gió có nồi bún riêu bốc hơi ngào ngạt, bún riêu và bánh cuốn nóng, trong một sớm mai mùa đông se lạnh ở một làng quê miền Bắc cách Hà thành 100 cây số, có một chút chi đầy cá tính Việt Nam - Việt Nam hơn Hà Nội hay Sài Gòn ồn ào náo nhiệt - trong cung cách của cô bán bánh cuốn, đôi tay thoăn thoát cuốn bánh, không nhìn khách là ai, thỉnh thoáng ngước đôi mắt đảo nhanh, đôi má hồng vì hơi nước của nồi hấp bánh tỏa ra, nhưng cô biết ai là người ăn bún ai là người ăn bánh, còn chi thú vị hơn? Ăn trong một không khí "ít lời" vì người bán chỉ múc và cuốn, người cùng ăn yên lặng nghiền ngẫm món ăn. Ở nơi một thị trấn nhỏ bé và tĩnh mịch như thế này, sự đơn giản như một trầm lắng hiển nhiên, làm cho tâm mỗi người như chìm xuống để đi vào chiều sâu không gian và thời gian của cuộc sống từ khi cuộc sống còn sơ khai.

Tiếng xe bò lọc cọc vang trên đường nhựa, trên đường qua lại đôi người với nón lá và mũ vải, màu áo ka-ki bạc thếch hoà với màu cây lá xung quanh tuyền một màu xanh xám đạm bạc vì được phủ một lớp bụi than đen.

Phong cảnh buổi sáng nơi miền quan tái hoang sơ như trong một bức tranh cổ. Tôi cúi mặt nhìn dĩa bánh cuốn, những chiếc bánh trắng tinh láng mượt mà, cho ta biết là bột vừa dẻo, óng ánh màu nước mắm ửng hồng, "bánh cuốn như hồng ngọc" là đây! Dung dị, nhưng đầy ý vị, đơn sơ nhưng đậm đà hương vị lúa gạo Việt Nam, cho nên quí giá như Hồng Ngọc. Viên ngọc của Việt Nam tôi.

Trong một thoáng tôi như thấy lại quang cảnh lịch sử của ngày xưa. Cũng nơi miền quan tái này, cách đây không xa mấy nơi chốn biên cương, rộn ràng ngựa xe tiễn sứ giả Bắc triều, bụi tung mờ đàng trước, nơi một doanh trại nào đó, tiệc tiễn đưa sứ giả diễn ra, với "Ðầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc" và một lời nhắn nhủ ý nhị "Phong tục từ xưa của nước Nam" của vua Trần Nhân Tông. Lấy một món dân giả ra mà đãi quốc khách, bản lĩnh tự chủ của vị vua này thực vững chãi có một không hai!

Xong múa giá chi thử áo xuân

Hôm nay huống gặp tiết Cỏ xanh

Ðầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc

Phong tục từ xưa của nước Nam.

(Thác chi vũ bãi thí xuân sam

Huống trĩ kim tiêu tam nguyệt tam

Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bĩnh

Tùng lai phong tục cựu An Nam)

(Trần Nhân Tông - Tiễn Sứ Giả Trương Lập Ðạo, Lê Mạnh Thát - sđd, tr. 296)

Mời người trước kia là địch thủ nay là sứ giả hòa bình nếm món bánh cuốn của trời Nam, để biết ăn chơi không chỉ là cao lương mỹ vị, mà là sự tinh tế tài hoa của người biết nấu và người biết ăn, phong tục của nước Nam!

Tự chủ với một nền văn hóa Việt Nam, mà món ăn là một nét khởi đầu của Ðạo làm người Việt - "Nhu dã ẩm thực chi đạo dã", sau khi đã ổn định trời đất bằng chiến thắng quân Nguyên dành lại độc lập cho đất nước thì không thể không có giáo dục và nuôi dưỡng, hai yếu tố chủ yếu của văn hoá, tạo nên bản sắc văn hoá - nếu không nói là bản sắc văn hoá dân tộc, những danh từ mà tôi bỗng e dè khi dùng tới trong cuộc hành trình này.

Tôi đã thưởng thức món bánh cuốn dưới chân núi Yên Tử không với một niềm hoài cảm mà với một sự chiêm nghiệm thích thú đã gặp được "khẩu vị" của một đấng anh hùng nước Nam, và cũng là vị sáng lập một thế đứng tư tưởng Việt Nam ngẩng mặt đối diện với phương Bắc, mà từng bước từng bước tôi đang sắp sửa đi trên một quãng đường mà Người đã để lại. Núi Yên Tử đã ở trong tầm mắt tôi!

"Mình ngồi thành thị

Nết dụng sơn lâm"

Buổi sáng hôm ấy trời trong, mặt trời rải nắng ấm vừa phải trên đường đi. Một ngày lý tưởng để leo núi, chân tôi như reo lên với sỏi đá trên con đường ngoằn ngoèo hun hút tới trời cao. Yên Tử trong mùa đông rét mướt thường vắng khách vãng lai, vả chăng Yên Tử vẫn còn là một nơi hẻo lánh khó đi, nên Yên Tử chưa bị nhiễm độc như Chùa Hương bởi những hàng quán rối rít hai bên đường. Quang cảnh vắng vẻ, yên tĩnh, thích hợp cho một cuộc đi như một kiểu hành hương, hành thiền. Ðường lên núi rợp bóng cây, lau lách, tre sậy và các thứ cây miền nhiệt đới um tùm hai bên đường, đường núi dốc đá quanh co, có nơi bằng phẳng nhưng cũng lắm chỗ gập ghềnh. Mới dẫm lên những cấp đá đầu tiên bắt đầu con dốc đã thấy như mình lìa xa cõi tục, bỏ lại bụi trần và chút dư âm náo nhiệt của thành phố đọng lại nơi mấy tiếng còi xe dưới chân núi, nhường cho tiếng chim líu lo trong những lùm cây táng rộng phủ rợp cả đường đi ... Khí núi cùng với mùi hoa lá lạnh mát bay phả vào mặt làm cho người đi thấy lòng dịu hẳn, những bước đi trên con đường dốc thoạt chốc bớt nặng nề.

Yên Tử có một không gian thanh thản thâm u nhưng không huyền hoặc như Ðộng Hương Tích. Cũng "Bầu trời cảnh Bụt" cũng "suối Giải Oan" nhưng không "mê cung" như Hương Tích mà lại nhuốm chút thần tiên sảng khoái, như nhà sư Huyển Quang (1254 – 1334) đã tả :

Buông niềm trần tục, náu tới Vân Yên,

Chim thụy dõi tiếng ca chim thụy;

Gió tiên đưa đòi bước thần tiên

Bầu đủng đỉnh giang hòa thế giới

Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên …

Trời thiền thiên góp thu thửa lạ, lạ hơn ba mươi sáu thiền thiên,

Thấy đây, đất tựa vàng liền, cảnh bằng ngọc đúc …

Cảnh tốt hoa lành, đồ tựa vẽ tranh.

Chỉn ấy trời thiên mẽ khéo

Nhèn chi vua bụt tu hành …

Ta nay:

Ngồi đỉnh Vân Tiêu,

Cưỡi chơi Cánh Diều.

(Huyền Quang - Phú Vịnh chùa Vân Yên - Nguyễn Huệ Chi edit. -Thơ Văn Lý-Trần quyển IIa, tr.711)

Từng bước từng bước, tôi biết mình đang dẫm chân lên những dấu vết sơn lâm lịch sử. Yên Tử còn "lạ hơn ba mươi sáu thiền thiên", có lẽ bởi Yên Tử không chỉ là nơi "náu ẩn" như Huyền Quang nói, mà là thánh địa của "nết dụng sơn lâm" như Ðiều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã hoạch định.

Thăng Long và Yên Tử, một bên là "mình ngồi" một bên là "nết dụng", một bên là "xác" một bên là "hồn", Thăng Long mà không có Yên Tử thì Thăng Long rốt cùng chỉ là nơi buôn danh bán tước, một chốn thị phi tranh tài tranh sức, nhân nghĩa thực dụng để chìm đắm trong bể khổ. Thăng Long với lầu vàng điện ngọc bao lần dâu bể mất còn, bao lần đá nát vàng phai trong lịch sử, nhưng Yên Tử thì chẳng có chi vật chất để mà "sinh trụ dị diệt" nên Yên Tử vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt", vẫn là "nết dụng sơn lâm", vẫn là cứ địa của một nền tư tưởng, đạo đức Việt Nam, "thể tính" "an nhàn" Việt Nam, làm điểm tựa vững chãi cho những ý nghĩa hiện sinh của người Việt. Hiện hữu ở thị thành chỉ là sống tương đối, dụng tâm ở sơn lâm là sống căn cơ rốt ráo. Thị thành không có sơn lâm thì sẽ mất ý nghĩa và điểm tựa tinh thần. Trần Nhân Tông đã không lên Yên Tử để trốn đời. Trần Nhân Tông lên Yên Tử để làm "tròn" phận đời của một người Việt Nam.

Hiển nhiên, nhà Trần là giai đoạn lịch sử vàng son nhất của Việt Nam. Nếu không có "nết dụng sơn lâm" của Yên Tử thì Trần Cảnh đã không thể đứng vững trên mặt đạo lý như một vị vua cho quần thần mến phục. Có thể nói Yên Tử đã cứu Trần Cảnh ra khỏi phong ba bão táp loạn luân của Trần Thủ Ðộ và Yên Tử từ đó là cơ sở đạo đức thiết lập niềm tin cho một bản sắc Việt Nam:

Mình ngồi thành thị

Nết dụng sơn lâm

Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính

Nửa ngày rồi tự tại thân tâm

Tham ái nguồn dừng

Chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí

Thị phi tiếng lặng

Được đầu nghe yến thốt oanh ngâm …

"Thân như hơi thở vào ra mũi

Thế tựa gió luồn mây núi xa…"

(Trần Nhân Tông - Cư Trần Lạc Ðạo Phú)

Bên cạnh tôi tiếng thở phì phò của hai anh chị bạn cùng đi đã nghe rõ, chúng tôi đang đi vào đoạn dốc núi đẹp nhất của Yên Tử với những cây tùng già gần 700 năm, thân cao vòi vọi và rể tùng đan như rắn quấn trên đường đi.

Leo núi có lẽ là cách hay nhất để quán hơi thở và quán thân xác, và từ đó ý thức rõ rệt chúng ta có thân tâm, mà trong cuộc sống hàng ngày chúng ta xem chỉ như cái máy ăn, nói, nghĩ, làm, sử dụng chúng một cách phung phí và bạo động. Mỗi bước chân chậm rãi trên từng bậc thang đá, không hấp tấp hối hả - điều tối kỵ trong phép leo núi, là mỗi bước nghe thân thể chuyển động, biết ngũ tạng lục phủ lành hay bệnh ở phần nào, chú tâm vào bước đi, xả bỏ mọi ham muốn đi mau cho tới đỉnh. Mỗi ham muốn là một trở ngại có thể làm cho ta nghẹt thở. Mỗi nôn nóng là một mụn nhọt làm ung độc ngũ tạng làm cho thân thể rã rời không tiếp tục đi được nữa, muốn tới đích phải đi từng bước vững chắc, ở đó ngũ quan và thức hay thân và tâm là một, là bước đi, là sự sống trong toàn thể.

Biết bao nhiêu lần chần Nhân Tông đã đi lên núi này? đã hành thiền? đã phi hành phi thân?, và những vị tướng thời Trần khi chống quân Nguyên đã dụng khổ công, tập luyện võ nghệ trong "nết dụng sơn lâm" này? Leo núi- và leo núi Yên Tử, 1080 mét cách mặt biển - là dụng nội công, thực hành công phu sớm chiều để chiêm nghiệm cuộc sống:

Thân như hơi thở vào ra mũi

Thế tựa gió luồn mây núi xa

Ðỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng

Ðừng để tầm thường xuân luống qua.

(Trần Nhân Tông - Thân Như)

Ði lên núi mới biết mỗi bước đi không "tầm thường", phải đi bằng tâm và thân, nếu lơ đểnh là trượt chân xuống hố, và đích sẽ không bao giờ tới được. Mỗi hơi thở bỗng trở nên quí hóa, không thở được là không đi được và phải rất chuyên, tinh tấn, đi không nên dừng lại la cà là mất sức, là để "mùa xuân" của cuộc đời trôi đi một cách phung phí, mỗi hơi thở là một đoá hoa mùa xuân cho thân và tâm. Những phương pháp quán hơi thở Satipatthana hay Anapana-sati của Phật dạy, phương pháp thiền quán Dhyana, mở ra cho ta thấy mùa xuân của cuộc đời trong từng hơi thở, trên từng bước đi của chúng ta để mà cẩn trọng cuộc đời, một cách hành thâm ba-la-mật-đa :

Số đời một màn kéo

Tình người đôi mắt ngân

Cung ma chật hẹp lắm

Cõi Phật khôn xiết xuân

(Trần Nhân Tông - Ðề chùa Thôn Hương Cổ Châu - Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 397)

"Con bò cười" trong núi Yên Tử và câu hỏi "Trần Nhân Tông, người là ai?"

Trước khi đến chùa Vân Yên, chúng tôi dừng lại nghỉ trưa bên cội tùng. Phong cảnh như một bức tranh cổ "Mây năm thức che phủ đền Nghiêu; Núi nghìn tầng quanh co đường Thục." (Huyền Quang - Phú Vịnh chùa Vân Yên - Nguyễn Huệ Chi edit. -Thơ Văn Lý-Trần quyển IIa, tr.710)

Anh L. mở ba-lô lấy lương thực, còn tôi chỉ đem theo mấy chục trái quýt của nhóm anh Huệ Chi gửi theo đi đường, quýt làng, không biết của làng Bố Hạ hay quýt Hương Cần? Cứ cho là của Bố Hạ đi như trong truyện của Tự Lực Văn Ðoàn. Leo núi chỉ khát, cho dù trời lạnh. Anh L. đưa cho miếng phó-mát bình dân của Pháp và Âu châu, có hình "con bò cười" (La vache qui rit), hiện nay là món ăn thời thượng ở Hà Nội và ở các thành phố lớn Việt Nam. Anh kể, trong ti-vi có cuộc mạn đàm phỏng vấn một nữ nghệ sĩ, ngoài những câu chuyên môn cô còn tiết lộ là mỗi ngày cô dùng điểm tâm hết một hủ mứt cam - marmelade, và một hộp con bò cười vốn là hai loại thức ăn điểm tâm thường nhật ở Âu châu. Anh giải thích, marmelade và con bò cười là mốt ăn chơi của tầng lớp đang muốn thành "snob" bây giờ, lượng ăn càng nhiều thì cảm tưởng "snob" càng to. Tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Trần Nhân Tông, chẳng thời thượng tí nào :

Chân rùa bóc đỏ mọng

Yên ngựa nướng vàng thơm

Sơn tăng giữ giới sạch

Cùng ngồi chẳng cùng ăn.

(Trần Nhân Tông - Dự Yến với Văn Túc Vương - Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 395)

Không chống mốt thời thượng nên cùng ngồi, nhưng nếu "cùng ăn" thì "cung ma" sẽ rất chật hẹp, phải biết không "cùng ăn" để mở lối thoát cho những thời thượng nhất thời, để biến cung ma thành nước biếc non xanh. Tôi như thấy được nụ cười rất tự tại của Trần Nhân Tông trong buổi tiệc cao lương mỹ vị với Văn Tức Vương, nụ cười "cùng ngồi không cùng ăn", tham dự mà không tham … ăn!

Trên ngọn núi Yên Tử tùng trúc rào rạt trong gió, ngẩng mặt lên nhìn mảnh trời xanh lạ lùng của ngày mùa đông hôm ấy đã thành những bông hoa xanh biếc được những lá tùng nhọn như những mũi kim thêu lốm đốm. Một câu hỏi chợt đến trong đầu, sau hai giờ đồng hồ leo núi: Trần Nhân Tông, người là ai? Câu hỏi có vẽ lẩn thẩn bởi lẽ từ khi cắp sách đến trường, bắt đầu học lịch sử dân tộc, ai là người Việt Nam mà chẳng hơn một lần biết qua trang sử đời Trần và trang sử Trần Nhân Tông? Ai là người Việt Nam đã không tự hào về những chiến thắng quân Nguyên vẻ vang của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài ba của vị vua anh minh lỗi lạc Trần Nhân Tông? Không những là là một vị vua anh dũng nơi các chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Ðằng, Tây Kết của Việt Nam vào thế kỷ 13, vị hoàng đế "Kim Phật" này lại là một nhà lãnh đạo tư tưởng văn hoá tôn giáo ưu việt đã đem lại cho thời đại của mình và cho đời sau một niềm tự tin vững chắc và sâu đậm "Nam quốc sơn hà nam đế cư" hơn tất cả những vị anh quân khác của lịch sử VN: không những võ công mà chính là văn trị đã đưa Trần Nhân Tông lên ngôi lãnh đạo xuất chúng. Tiếng Việt được đưa vào văn học chính qui và với Trần Nhân Tông nền Thiền Việt Nam được thành lập.

Từ lớp tiểu học cho đến đại học, qua nhiều lần thi cử, chính tôi đã thuộc nằm lòng những trang sử sáng ngời Trần Nhân Tông như thế, cho đến khi xuất ngoại du học, những năm tháng xa quê hương sống nơi đất khách, mỗi khi trình bày về lịch sử và văn hóa Việt Nam, mỗi khi lý luận về bản sắc dân tộc, về văn hóa dân tộc, những trang sử Trần Nhân Tông luôn luôn là bằng chứng hùng hồn của ý thức độc lập thực sự Việt Nam và là điểm tựa cho niềm tự hào và nỗi hãnh diện của tôi về văn hóa ưu việt của đất nước đối với người ngoại quốc.

Nhưng thực tình và thực sự mà nói, thì hình như trải qua mấy mươi năm đọc, học, nghe, và lặp lại những điều sử sách viết về Trần Nhân Tông, Trần Nhân Tông đối với tôi chỉ là một trang sử mở sẵn hay gấp lại để trên bàn hay trong tủ không hơn không kém, tôi chưa hề biết Trần Nhân Tông là ai?

Câu hỏi đến có vẻ hơi muộn màng sau hơn hai giờ đồng hồ va chạm đá và đất, mồ hôi ướt áo, nếm mùi tân khổ leo núi Yên Tử, nhưng thật ra không muộn màng, câu hỏi đã có từ lâu, có lẽ từ lúc mới sinh ra là người Việt Nam, câu hỏi bật ra bây giờ, cùng với tiếng cười ề à của con bò cười, cùng với hoa trời màu thiên thanh loáng thoáng sau ngọn tùng cao ngất. Hỏi Trần Nhân Tông là ai trong cái khung cảnh "Vân thủy bằng lòng ; Yên hà phải thú", trong giờ phút chân tay rã rời với một niểm vui giải thoát nhẹ hửng như đám mây trắng vun vút bay nhanh để nhường màu xanh lại cho cây cỏ.

Câu hỏi như đến cùng một lúc với câu trả lời, hay câu trả lời đã nằm sẵn trong câu hỏi, từ sáng đến giờ người đồng hành với tôi từ chân núi Yên Tử lên đây nơi những bước chân chiêm nghiệm, anh L. chị S. hay chính là Trần Nhân Tông?

Vân Yên Tự - Trần Nhân Tông : « Ta (thật tận tình) là Ta »

Chùa Vân Yên, nơi thờ vị tổ sáng lập giòng Thiền Trúc Lâm vua Trần Nhân Tông, mở ra từ những bậc đá từ dưới nhìn lên thoạt tiên quen thuộc như … "vườn nhà" với các bụi chuối hai bên lối đi, sau khi đã quanh co với những cây cổ thụ, bạch tùng, xích tùng lạ kỳ hiếm có, bỗng nhiên gặp lại vườn chuối tiêu điều, như ngõ sau quê mẹ … thế này! khác với Vân Yên của Tam tổ Huyền Quang :

Hồ sen trương tán lục ;

Suối trúc bấm đàn tranh.

(Huyền Quang - Phú Vịnh chùa Vân Yên - Nguyễn Huệ Chi edit. -Thơ Văn Lý-Trần quyển IIa, tr.710)

Nhưng rồi vượt hết các bực đá, Vân Yên bỗng chơi vơi trên không với một tầm nhìn sơn hà bao quát lồng lộng, núi non rừng cây trùng điệp mấy tầng nâng Vân Yên lên trong thế rồng ngồi với một kiến trúc vườn cây lăng miếu hài hoà thuần túy Việt Nam. Tôi đứng trên bậc cấp cuối cùng giữa hai cây "trượng phu tùng " (Huyền Quang), gió lộng bốn bề trước cảnh non nước gấm vóc, rồi quay mặt trực diện với bệ thờ Ðiều Ngự Giác Hoàng, trong một giây cảm xúc tôi có cảm tưởng thấy được chân dung thực sự của Trần Nhân Tông: một kẻ đắc đạo, đạo làm người Việt và đạo làm người đứng giữa núi sông. Như chia với nhau cùng một ấn tượng chúng tôi ba người đều thấy cùng một lúc chưa có nơi nào Việt Nam hơn Vân Yên của Yên Tử với lối kiến trúc khiêm tốn nhưng thâm u, thiên nhiên thô sơ nhưng không thô kệch, tinh vi nhưng không phù phiếm. Trần Nhân Tông đó, có thể ngẩng mặt nhìn sang Bắc để nói "Ta cũng như người", để hướng về phương Ðông mà nói "Ta khác với người", nhìn về Tây mà nói "Ta không thua người", nhìn về Nam mà nói "Ta cùng với người".

Có xem lăng tẩm các vị vua chúa triều Nguyễn, mới thấy Trần Nhân Tông "Việt Nam" ngay từ từng viên đá, không một chút ảnh hưởng của Trung Hoa trong sự khiêm tốn nhân ái ngược với kiến trúc tráng lệ đến vô nhân, Vân Yên lại khác với Nhật trong chất đá thiên nhiên, với Nam Dương trong nghệ thuật tinh vi. Tôi bỗng hiểu được tại sao người Nhật mê và tìm học kỹ thuật đồ gốm đời Trần. Chén gốm đời Trần có một sắc thái tinh vi trong chất đá thô kệch, không hào nhoáng bóng bẩy như của Tàu, cho biết nghệ nhân có một bản lĩnh cao cường trong lúc sáng tạo, vừa thấu hiểu bản chất sự vật để gìn giữ bản chất ấy đồng thời nâng sự vật lên thành tác phẩm nghệ thuật.

Chẳng khác chi bản sắc của một dân tộc mà Trần Thái Tông trong trách nhiệm cầm cân nảy mực phải dùi mài trau chuốt, vừa gìn giữ để không bị đồng hóa vừa phát huy để đừng bị thoái hoá. Và trong trăm ngàn trách nhiệm, chưa thấy vị vua nào như những vị vua đời Trần đã miệt mài nói về chữ Tâm Việt Nam như một lời tuyên ngôn làm kim chỉ nam để phát huy bản chất Việt Nam như thế, nói về chữ Tâm Việt Nam bằng ngôn ngữ Việt Nam, cho nên không ngại đi ngược lại với thời thượng và mặc cảm của sĩ phu Việt Nam sau một ngàn năm đô hộ của Tàu. Cần phải đi ngược để khẳng định cho được phong cách con người Việt Nam với giá trị văn hoá đạo đức phương Nam.

Từ Trần Thái Tôn trở về sau, chữ Tâm đã được thay thế bằng chữ Lòng trong những tác phẩm văn chương đời Trần viết bằng chữ Nôm. "Thay đổi cách hành văn là thay đổi tư duy, thay đổi tư duy là thay đổi cách hiện hữu, cách sống" Nietzsche đã có lý khi nói như thế. Có thể nói Trần Nhân Tông đã tiếp tục sứ mạng "làm người Việt Nam" toàn vẹn nhất, tận tình nhất, hùng hồn và sâu thẳm, sáng tạo và đôn hậu trong sự nhất quán, trong sự thấu suốt cuộc đời bên ngoài, cuộc đời thành thị và cuộc sống nội tâm, cuộc sống tinh thần nơi chốn sơn lâm. Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên (Trần Nhân Tông, Cư Trần Lạc Ðạo Phú, sđd, hồi 7)

Hãy xá vô tâm tự nhiên hợp đạo ...

Sạch giới lòng, dồi giới tướng nội ngoại nên Bồ Tát Trang Nghiêm

Ngay thờ chúa thảo thờ cha

Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu"

(Trần Nhân Tông - Cư Trần Lạc Ðạo Phú, sđd, hồi 6)

Tôi lùi lại phía sau, đến cạnh bệ thờ có tượng Trần Nhân Tông, nhìn ra phía trước. Tôi muốn biết Trần Nhân Tông từ chỗ ngồi này đã nhìn gì, thấy gì khi người còn sống "am mây một sập Thiền", khi người đã chết, từ hơn 800 năm trước cho đến bây giờ ... Có phải

Ta nay:

Ngồi đỉnh Vân Tiêu,

Cưỡi chơi Cánh Diều"(2)

Coi Ðông sơn tựa hòn kim lục

Xem Ðông hải tựa miệng con ngao"

(Huyền Quang - Phú Vịnh chùa Vân Yên - Nguyễn Huệ Chi edit. -Thơ Văn Lý-Trần quyển IIa, tr.711)

như Huyền Quang ngày trước đã tả không, thì thấy rừng cây trùng điệp mà chúng tôi đã đi qua như những cánh phượng hoàng phấp phới trong gió, núi mờ núi đậm tiếp vai nhau ở chân trời xa thẳm, làng mạc nằm chơi vơi trong màu nắng thanh lam như trôi lững lờ vào trong màu xanh vô tận của bầu trời, khói nước từ biển khơi lung linh giữa thinh không mờ ảo như thật như hư, con đưòng ngoằn ngoèo dưới chân núi như một vệt sáng lấp lánh xuyên hút qua lòng núi …

Phong ba hay thái bình, Trần Nhân Tông "ngồi" đây với "non nước ... nghìn thu" ấy như một chiêm nghiệm sâu thẳm về hiện hữu vật chất và tinh thần, ngoại tâm và nội tâm của một con người Việt Nam. Tuy "ngồi" nhưng đã "đi" thẳng vào đạo tâm của cả non sông, dân tộc.

Dựng cầu đò, dồi chiền tháp ngoại trang nghiêm tự tướng hãy tu;

Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi nội tự tại Kinh Lòng hằng đọc.

(Trần Nhân Tông - Cư Trần Lạc Ðạo Phú, hồi 8, sđd.)

Tại sao về núi giới lòng ?

Rời Vân Yên, con đường dẫn lên đỉnh núi đi qua một đoạn rừng trúc xào xạc, trúc lâm Yên Tử trên đỉnh núi lạnh không cao lớn, thân cây vàng sắc, lá săn nhỏ nhọn, mảnh mai gầy guộc nhưng đầy sức dẻo dai, gió núi có hun hút cay độc mấy đi nữa, khi thổi qua rừng trúc thấp la đà cũng phải thành hiền để rì rào những lời "Kinh Lòng hằng đọc".

Bỏ rừng trúc, vượt con đường đá gay go dốc ngược, lên gần thấu đỉnh bỗng thấy mình chơ vơ giữa khoảng không lộng gió, trên đầu chỉ có bầu trời, xung quanh là đá núi. Chỉ có ta với ta, ta với trời, ta với đất. Một mình giữa đất trời bao la! Hai chữ "một mình" thường gây một nỗi hoang mang sợ hãi của người đang đứng bên bờ vực thẳm, nhưng ngày hôm ấy sau khi rời Vân Yên, bầu trời mênh mang trên đầu bỗng cho tôi một cảm giác gần gũi với ý niệm "giải thoát" như một sợi tơ trời bay bổng trên không, cảm giác không có gì ngăn cách giữa trời và ta, một cảm giác " sâu xa rộng mở" của Bồ Ðề Ðạt Ma.(3)

Có phải "về núi giới lòng" là để "mở rộng lòng" với người với đất với trời ?

Ðứng trên dỉnh núi với ngôi chùa Ðồng bé tí như một món đồ chơi, khác hẳn một ngôi chùa Ðồng vĩ đại trong tưởng tượng khi nghe bạn bè nói về Chùa Ðồng Yên Tử, đỉnh núi cheo leo, lởm chởm đá, những tảng đá thi gan, khổ hạnh, đã mấy trăm hay mấy ngàn năm, như một bình phong tròn đứng chắn gió cho bốn phương cảnh vật nhu hoà, nhân ái quyện dưới chân núi. Bỗng thấy núi Yên Tử như một thiền sư, Trần Nhân Tông là núi Yên Tử, thân tâm vững như núi :

Nhìn lên càng cao

Dùi càng bền cứng

Chợt ở phía sau

Thấy liền trước đứng …

(Trần Nhân Tông - Ca Ngợi Tuệ Trung Thượng Sĩ, sđd.)

Buổi xế trưa gió núi vun vút không ngừng bay về trời trên đỉnh Yên Tử, nghe trong gió tiếng núi vang vọng câu trả lời: Hiểu theo như trước là chẳng phải." (Trần Nhân Tông - Bài Giảng Tại Chùa Sùng Nghiêm, cuối đông năm Giáp Thìn 1304, sđd)

Ðã đi đến hết đường Yên Tử, đã hấp tấp ham hố chụp hết phim nơi trạm Vân Yên, chẳng còn một chút phim để ghi lại hình ảnh bầu trời trên đỉnh núi, là cái đích của cả chuyến đi! Thôi đành ghi nhớ "nằm lòng"!

Yên Tử mà tôi đã đi qua, Vân Yên mà tôi đã dừng lại, Chùa Ðồng mà tôi đã đứng cheo leo, Vân Tiêu, Cánh Diều mà tôi đã chắp cánh bay theo, nếu hiểu như tôi đã hiểu theo sách vở lại là chẳng phải! Vậy thì "Dùng công án cũ để làm gì? Ðáp: Mỗi lần nêu ra một lần mới." (Trần Nhân Tông - Bài Giảng Tại Chùa Sùng Nghiêm, sđd.)(4).

Trần Nhân Tông là một công án cho tôi! Ðường về Cư Trần Lạc Ðạo

Xuống núi thật nhanh. Trời mới xế chiều. Lên xe. Nằm dài trên ghế. Chúng tôi chỉ ba người, xe rộng thênh thang. Tôi đã ngủ một giấc ngủ "cư trần lạc đạo": mệt ngủ liền!

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Ðói cứ ăn đi mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Ðối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

(Trần Nhân Tông - Cư Trần Lạc Ðạo Phú, sđd.)

---------------------------

GHI CHÚ

1. Những cấp bực Thiền định

2. Hai ngọn trong dãy núi Yên Tử

3. Câu trả lời của Bồ Ðề Ðạt Ma khi Lương Vũ Ðế hỏi về Thiền

4. Sẽ triển khai trong bài "Công Án Trần Nhân Tôn II".

Cập nhật ( 02/12/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online