Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow NHỚ NGƯỜI XƯA
NHỚ NGƯỜI XƯA PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
07/09/2015

NHỚ NGƯỜI XƯA

* Trần Phước Thuận

          Vào một đêm tối trời của năm 1896, có 20 gia đình nông dân nghèo ở thôn Thuận Lễ (Tân An) vì không chịu nổi cảnh hà khắc ở địa phương nên đã lìa bỏ quê hương dìu dắt nhau về phía Nam để tìm nơi sinh sống, phương tiện di chuyển của họ là những chiếc xuồng ba lá, ghe tam bản; đa số đã hư hao, sứt mẻ phải chắp vá nhiều nơi, có chiếc không có mui phên để che mưa che nắng ; vì vậy họ phải chật vật và vất vả lắm mới đến được vùng đất phía nam sông Hậu. Trong số này có gia đình ông Cao Văn Giỏi (Chín Giỏi) gồm hai ông bà và 6 đứa con của ông.

 

          Khi đến vùng đất mới, mỗi gia đình đã tự tìm nơi sinh sống, riêng gia đình ông Chín Giỏi tìm đến tá túc với một người bà con ở Gia Hội (Bạc Liêu), lúc này chú bé Cao Văn Lầu vừa tròn 4 tuổi . Đầu hôm sớm mai sống ở nơi xứ lạ quê người lại không có tiền bạc làm vốn nên hai vợ chồng ông Chín Giỏi và các con lớn phải làm thuê làm mướn cả ngày mới kiếm được cái ăn cái mặc, nhưng ở đây là xứ nghèo, nên cái nghề làm thuê làm mướn cũng không thích hợp, nên càng lúc gia đình ông Chín Giỏi càng gặp khó khăn đến nỗi cái ăn ngày hai bữa cũng không sao lo nổi, vì vậy sau 9 tháng ở đây, ông Chín Giỏi lại cùng vợ con dời sang Xà Phiên (nay thuộc huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang) để khai hoang làm ruộng. Nhưng rồi cuộc sống ở đó vẫn không yên – hơn 40 công đất do  gia đình ông khai khẩn với bao công lao khó nhọc trong hơn một năm dài đã về tay địa chủ; thế cô sức yếu ông đành phải cùng vợ con khăn gói ra đi.

Nhờ một người quen giới thiệu, gia đình ông Chín Giỏi lại dọn về Họng Chàng Bè (Giá Rai) để sinh sống, ở đây vợ chồng ông tiếp tục khai khẩn đất hoang , nhưng rồi số đất khai khẩn được ở đây cuối cùng cũng về tay kẻ khác. Lần này ông quyết định dọn nhà về chợ Bạc Liêu, may được một người tốt bụng là hương sư Chơn ở làng Vĩnh Lợi tổng Thạnh Hòa cho  cất một căn chòi để ở trên đất công điền gần chùa Vĩnh Phước  An (nay thuộc phường 2 thị xã Bạc Liêu) . Ở đó tuy tạm yên nhưng không có ruộng đất để canh tác nên vợ chồng ông Chín Giỏi và các con phải đi câu cua bắt cá và làm mọi việc lao động rất vất vả để sinh nhai.

          Sư trụ trì chùa Vĩnh Phước An lúc bấy giờ là Hòa thượng Minh Bảo vốn tính thương người thấy gia đình ông Chín Giỏi quá khó khăn trong cuộc sống, nhiều lúc còn không chạy được bữa ăn nên đã bàn với ông cho chú bé Lầu vào ở chùa để bớt đi một phần gánh nặng cho gia đình . Ông Chín Giỏi đồng ý và kể từ đó (1900) Cao Văn Lầu bắt đầu cuộc sống mới – ngày ngày tụng kinh kệ, đêm đêm học chữ Nho.

Nhưng có lẽ cái duyên phận với nhà Phật quá ngắn ngủi nên ba năm sau (1903) ông Chín Giỏi lại đến xin sư trụ trì cho con ông được trở về nhà để học chữ Quốc ngữ . Vào thời buổi đó, người nghèo đi học là chuyện hiếm thấy, ông Chín Giỏi cho con đi học là cả một hy sinh lớn lao, ông phải làm thuê làm mướn suốt ngày mới đủ tiền cho con ăn học, nhưng rồi sức người cũng có hạn – tuổi của ông càng lúc càng cao, ông không thể làm nổi những việc lao động quá nặng nhọc, nên cuối cùng cậu học sinh Cao Văn Lầu đành phải rời khỏi nhà trường khi vừa học xong lớp thứ 3 của bậc tiểu học thời đó . Lúc này ông Chín Giỏi vì quá lao tâm lao lực nên đã già đi trước tuổi, sức cũng đã mỏi mòn, người con trai lớn của ông không tiền cưới vợ phải đi ở rể, cô con gái kế cũng đã lấy chồng ; nên mọi việc lớn nhỏ trong ngoài đều trong cậy vào một tay Cao Văn Lầu, một chú bé mới 15 tuổi đã phải thay cha và anh đi làm những việc nặng nhọc để nuôi gia đình.

          Lúc bấy giờ tại xóm Rạch Ông Bổn có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, mọi người thường gọi là Hai Khị hoặc Nhạc Khị, ông bị mù cả hai mắt lại có tật ở chân ; nhưng trong cái thân thể tàn tật này lại ẩn tàng một tài năng hiếm có, nghề đàn của ông có thể nói có một không hai ở đất Bạc Liêu . Cao Văn Lầu nhiều lần nghe ông tấu đàn đã sinh lòng mến thích, nên đã xin cha cho học đàn . Ông Chín Giỏi cũng là một người biết đàn, mặc dù đàn không giỏi lắm, nhưng lại mang nặng nghiệp cầm ca, nên khi nghe con xin học đàn mà vị thầy lại là một người có tiếng tăm lừng lẫy, nên ông liền đồng ý  . Thế là vài ngày sau, ông Chín Giỏi dắt con đến nhà Nhạc Khị để xin thụ nghiệp (1908), Nhạc Khị lúc đó cũng vừa thành lập ban cổ nhạc được vài năm rất cần những tài năng trẻ nên vui lòng chấp nhận . Cao Văn Lầu rất phấn khởi nhưng vẫn không quên bổn phận của mình đối với gia đình, nên hàng ngày vẫn cố gắng làm lụng để kiếm tiền kiếm gạo, ban đêm mới đến nhà thầy học đàn ; nhờ bổn tính thông minh và cần mẫn nên sự học tiến bộ mau chóng, đã vượt qua nhiều người học đàn trước và chẳng bao lâu đã trở thành một nhạc sĩ nòng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.

          Ban cổ nhạc lúc đầu chỉ phục vụ các đám tang, đám giỗ, đám cúng… dần dần trở thành ban nhạc tài tử phục vụ cả các đám cưới hoặc tiệc tùng . Lúc đầu các thành viên trong ban nhạc chỉ ngồi vòng tròn đàn ca sau đó lại chuyển thành ca ra bộ phục vụ nhiều nơi . Về sau ban cổ nhạc lại cải tiến bằng cách hóa trang cho người ca làm tăng thêm sự thu hút đối với khán giả, nên càng ngày càng gây được tiếng vang ở miền Tây . Cao Văn Lầu nhiều lần được thầy cho phép thay mặt điều hành ban cổ nhạc  trong các đợt trình diễn, đã gây được uy tín lớn trong giới ái mộ lúc bấy giờ . Đến năm 1912 ban cổ nhạc đã có một lực lượng hùng hậu, gồm các nhạc sĩ : Sáu Lầu đàn tranh, Mười Khói đàn kìm, Bảy Cuội đàn cò, Hai Tài đàn đoản, Ba Chột đàn sến 3 dây ; và các ca sĩ Bảy Kiên, Hai Húc, Chín Cang, Năm Mỹ, Thầy giáo So, Chín Quy, cô Ba Vàm Lẻo (Ba Chương), cô Hai The…

          Năm 1913, Cao Văn Lầu vâng lệnh cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô Trần Thị Tấn một cô gái nết na hiền lành ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh) gần đấy . Có lẽ đây là thời gian vui nhất của ông, vừa hưởng hạnh phúc bên người vợ trẻ đảm đang vừa vui mừng khi thấy ban cổ nhạc mỗi ngày một tiến bộ.

Lúc này Nhạc Khị thấy khả năng các môn đệ đã đến độ chín muồi, nên ông bắt đầu hướng dẫn mọi người sáng tác . Đầu tiên là những bản nhỏ mang tính nghệ thuật thuần túy, các anh em học đàn đều hăng hái tham gia sáng tác ; Cao Văn Lầu lúc này đang vui tươi hưng phấn nên chẳng bao lâu đã sáng tác được một bản ngắn mang tên là Bá điểu sau đổi lại Thu phong gồm 8 câu nhịp 4.

          Đây là một bản nhạc hay nhưng đối với Nhạc Khị chỉ là thành quả khởi đầu của người học trò, chưa đáp ứng được yêu cầu của ông, vì ông tuy là một người tật nguyền nhưng lại là một thầy đàn có tinh thần yêu nước rất cao, mục đích của ông về việc thành lập ban nhạc là để tuyên truyền những bài ca yêu quê hương đất nước hoặc phản ánh những nỗi thương`đau mà người dân đang gánh chịu lúc bấy giờ . Chính bản thân ông cũng đã sáng tác các bản Ngự giá đăng lâu,  Ai tử kê … để làm thức tỉnh lòng người. Ý của ông muốn các đồ đệ cũng phải sáng tác`như ông, nhưng để dễ dàng trong bước đầu sáng tác theo loại hình này, ông đã chọn một chủ đề đầy tính bi kịch để gợi cảm hứng cho người sáng tác đồng thời cũng phản ánh rất trung thực một hình ảnh rất quen thuộc trong thời kỳ ấy – đó là hình ảnh người  phụ nữ mỏi mắt trông chồng ngoài mặt trận – chủ đề Chinh phụ vọng chinh phu được ông rút ra từ nội dung bài Nam ai Tô Huệ chức cẩm hồi văn  để hướng dẫn các môn sinh sáng tác.

          Giai đoạn sáng tác này rất quan trọng nên ông Nhạc Khị thường theo sát để sửa chữa hoặc khuyến khích thành quả của môn sinh và các thành viên của ban cổ nhạc . Cũng vì lý do đó, nên Cao Văn Lầu và các bạn đồng học đều gắng công sáng tác, kết quả được nhiều nhạc khúc, ca khúc rất hay ; riêng Cao Văn Lầu vào năm 1917 đã sáng tác thêm một nhạc khúc gồm 22 câu rất độc đáo . Nhưng chưa kịp sửa chữa để trình thầy và các bạn thì phải chứng kiến một cảnh đau lòng – có thể nói đau lòng nhất trong cuộc đời của ông, vì người vợ trẻ từ lúc về nhà chồng đến nay đã tròn 3 năm mà chưa có dấu hiệu thai nghén, theo phong tục xưa thì người phụ nữ như thế đã phạm vào một trong bảy đại tội, gọi là Thất xuất, theo lệ thường phải bị đuổi ra khỏi nhà . Ông bà Chín Giỏi mặc dù rất thương con thương dâu nhưng lại bị ám ảnh quá nặng nề bởi cái cổ lệ này, sợ con trai của mình bị tuyệt tự phải mang trọng tội với tổ tiên, lại sợ bà con lối xóm đàm tiếu nên đành cắn răng trả con dâu về nhà cha mẹ ruột . Cao Văn Lầu mặc dù rất thương vợ nhưng vì chữ hiếu phải đành ngậm ngùi chia tay với người bạn đời - người đã từng chia sẻ ngọt bùi với ông trong ba năm chăn gối.

          Sau khi vợ ra đi Cao Văn Lầu như là một kẻ mất hồn, làm lụng không nổi, ăn uống lơ là, việc đàn ca cũng không ngó tới, bản nhạc 22 câu do ông sáng tác dở dang cũng bị quên mất trong lúc này ; cha mẹ và bạn bè khuyên lơn cách nào cũng không lay chuyển được . Cô vợ cũng không hơn gì chồng, từ ngày trở về nhà mang theo nỗi đớn đau hờn tủi không trút được vào đâu, chỉ biết khóc rưng rức suốt ngày.

          Tình cảnh như vậy kéo dài khoảng một năm, đáng lẽ thời gian sẽ làm cho người ta nguôi ngoai thương nhớ, nhưng ở đây thời gian càng dài thương nhớ càng tăng, đến nỗi không còn kềm chế được nên hai người đã tự động gặp nhau . Mặc dù chỉ gặp nhau trong lén lút, nhưng những lần gặp mặt này đã vơi bớt phần nào nỗi nhớ thương đoài đoạn của đôi vợ chồng trẻ sau bao ngày xa cách . Lúc này tinh thần của Cao Văn Lầu như nắng hạn gặp mưa rào ông đã trở nên tươi vui và trở lại sinh hoạt trong ban cổ nhạc để tiếp tục công việc sáng tác do thầy giao phó.

Đang lúc sửa chữa bản nhạc 22 câu do ông sáng tác từ năm trước, được sự góp ý của người bạn đồng môn là Ba Chột, nên ông bỏ bớt 2 câu trùng lắp, còn chẵn 20 câu nhịp đôi.  Ông lại tiếp tục đặt lời theo đúng chủ đề Chinh phụ vọng chinh phu  do thầy đã chọn, nhưng khi đặt được vài câu thì hình bóng của người vợ hiền lại lóe lên rõ mồn một trong tâm trí ông như than vãn dặn dò : “Lòng dầu say ong bướm, xin cũng đừng phụ nghĩa tào khang”hoặc nhắn nhủ tình lang như : “Xin đó chớ phụ phàng, chàng – chàng có hay”. Mặc dù ông Cao Văn Lầu cố gọt giũa thế nào trong lời ca 20 câu của ông vẫn là sự hòa nhập giữa hình bóng người chinh phụ đang chờ chồng nơi biên ải và hình bóng người vợ bình dị yếu đuối của ông . Cuối cùng, bản nhạc 20 câu do ông sáng tác cũng được chỉnh lý hoàn tất nhưng chưa tìm được đề tựa nào tương xứng để đặt tên . Lúc đó cũng vừa đến tết Trung Thu, ông cùng các bạn đến thăm thầy, luôn tiện trình bản nhạc do ông sáng tác`. Ở trong nhà ngoài Nhạc Khị và các môn đồ còn có nhà sư Nguyệt Chiếu - người bạn thân của Nhạc Khị cũng vừa đến chơi.

Đêm đó thầy trò, bè bạn họp mặt đông đủ vừa ăn bánh  Trung Thu vừa kể chuyện đông tây, không khí thật vui vẻ . Nhạc Khị muốn giới thiệu nhạc phẩm mới của đồ đệ mình nên cho người nhà mang chiếc đàn tranh ra bảo Cao Văn Lầu độc tấu 20 câu vừa sáng tác. Khi nghe xong, ông gật gù nói : “Bản nhạc rất hay, không biết lời ca thế nào, con hãy vừa đàn vừa ca cho thầy và mọi người thưởng thức”. Cao Văn Lầu vâng lời, vừa khảy đàn vừa cất tiếng ca, lời ca tỉ tê mang theo tâm sự một thời của ông đã làm mọi người xúc động thật sự . Im lặng một chút, Nhạc Khị từ từ nói : “Tưởng đâu hoàn cảnh gia đình của con đã làm dở dang việc sáng tác, ai ngờ lại đạt được thành quả lớn lao như thế này, quả là con không phụ công dạy dỗ của thầy, thầy chúc mừng con và mong rằng sau này con sẽ có một tương lai xán lạn”. Nói xong, ông lại xoay lại nói với nhà sư  Nguyệt Chiếu : “Cháu nó sáng tác xong nhưng cả nhạc và lời đều chưa có tên, nay nhân thầy đến chơi, nhờ thầy đặt cho cái tên phù hợp với lời ca và bản nhạc, trước là để kỷ niệm buổi gặp mặt hôm nay sau đó kể như làm quà cho cháu”. Sư Nguyệt Chiếu mỉm cười chậm rãi nói : “Đã gặp nhau là có cái duyên, nay nhạc sư nói thế thì tôi xin vâng lời”. Ngưng lại một chút ông nói tiếp: “Cái chủ đề Chinh phụ vọng chinh phu mà nhạc sư đưa ra để làm kim chỉ nam cho các đồ đệ sáng là căn cứ vào nội dung của bản Nam ai Tô Huệ chức cẩm hồi văn, mà theo nội dung này thì nàng Tô Huệ đêm đêm ngồi dệt gấm hễ nghe tiếng trống vọng về lại liên tưởng đến hình bóng của chồng . Bản nhạc và lời ca của cháu Lầu tuy cũng còn vài điểm bất nhất nhưng cái chung vẫn diễn tả được tâm tư của nàng Tô Huệ . Vậy cứ theo tích này mà đặt tên chung cho cả bản nhạc và lời ca của cháu là Dạ cổ hoài lang”.  Mọi người sau khi nghe   xong đồng vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt, ông Nhạc Khị cũng vui mừng đứng dậy thay mặt đồ đệ tỏ lời cảm ơn nhà sư . Riêng Cao Văn Lầu rất hân hoan và tâm đắc cái tên mới này.

          Một thời gian sau người vợ trẻ lại báo tin – nàng đã có thai, đây là cái tin vui có thể nói là vui nhất trong đời của nhạc sĩ Cao Văn Lầu . Ông bà Chín Giỏi nghe tin đó cũng mừng vui vô hạn vội vã đến thăm cô dâu và sau đó đã đồng ý cho nàng trở lại chung sống với chồng . Nỗi vui mừng và niềm hạnh phúc của hai người lúc đó thật không bút mực nào tả xiết . Đây là khoảng thời gian ông hoạt động văn nghệ tính cực nhất, có mặt hầu hết trong các buổi trình diễn của ban nhạc.

          Từ đó đến năm 1974 Cao Văn Lầu tiếp tục sáng tác thêm được 10 bản nữa nhưng đa số cũng chỉ lưu hành ở Bạc Liêu, chỉ riêng bản Dạ cổ hoài lang không dừng lại ở nguyên dạng như các bản cổ nhạc khác mà dần dần biến đổi hình thức, phát triển thành bản Vọng cổ làm thay đổi một phần lớn bộ mặt Cải lương . Đây cũng là điều tối ưu của nó có, có lẽ là do tiếng nhạc du dương và lời ca bình dị rất hợp với người Nam bộ ; hình ảnh người chinh phụ ở đây đã hòa nhập thực sự vào cuộc đời thường, phản ánh đúng tâm trạng yếu đuối của người phụ nữ khi xa chồng, nhất là trong những hoàn cảnh bắt buộc phải chia duyên rẽ thúy . Có lẽ chính cái “tính thường” này đã làm rung cảm người nghe, đã tạo sự chú ý cho nhiều soạn giả, cho nên nó dần dần được phát triển thành nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32...và được gọi tên là Vọng cổ một bản trụ cột của cải lương Nam bộ...

Kể đến đây, nhạc sĩ Năm Nhỏ bỗng nhiên dừng lại đôi mắt của ông đăm đăm nhìn vào khoảng trời đêm vô tận như muốn tìm lại hình bóng thân thương của người sư huynh với chiếc đàn tranh cũ kỷ đã ra đi biền biệt về cõi vĩnh hằng.

Cập nhật ( 07/09/2015 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online