Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow TƯ TƯỞNG “TÂM KHÔNG” VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM
TƯ TƯỞNG “TÂM KHÔNG” VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM PDF In E-mail
Người viết: TS. Trần Thuận   
07/09/2015

TƯ TƯỞNG “TÂM KHÔNG” VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI TRẦN

* TS. Trần Thuận

* Trường ĐHKHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh

Thiền tông là cốt tủy của Phật giáo và Thiền tông Việt Nam cũng là cốt tủy của Phật giáo Việt Nam. Nhưng phải đến thế kỷ XIII, với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Thiền tông Việt Nam mới thực sự trở thành cốt tủy của Phật giáo Việt Nam, được xây dựng trên cơ sở lấy Tâm không làm tư tưởng chủ đạo và np1 có tác động mạnh mẽ, chi phối sâu sắc đời sống xã hội.

 

1. Tư tưởng Tâm không tư tưởng chủ đạo của Phật giáo thời Trần

Thiền sư Cứu Chỉ thuộc phái Vô Ngôn Thông đã có lần phát biểu rằng: “Khổng, Mặc cố chấp cái hữu (có). Lão, Trang chìm đắm cái (không), sách vở thế tục không phải là phép giải thoát. Chỉ có Phật giáo là không chấp không và có...[1]. Có thể nói “Thiền học là triết lý về không. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là tinh hoa, là tâm của 600 quyển kinh nói về lý không, và chính nó tượng trưng cho trí tuệ tối thượng của Đức Phật[2].

Không” theo Phật giáo nói chung và Thiền tông nói riêng, không có nghĩa là không có gì cả. “Không” ở đây là trạng thái vừa hữu vừa vô, vừa không hữu vừa không vô, vừa không tồn tại vừa không không tồn tại, vừa không có mặt (không hiện hữu) vừa không vắng mặt (hiện hữu) vừa không có vừa không không có. Trạng thái mà Trần Thái Tông trình bày trong Khóa hư lục là không sinh không hóa, không mống, không manh, không trái, không phải; trạng thái vô thủy, vô chung, vô sinh, vô niệm, không có tướng cũng không có hình, không có cái khởi đầu cũng không có cái kết thúc. Nghĩa là ở trạng thái không có đối lập, không có mâu thuẫn, không gắn liền với ai, với cái gì, trạng thái vô sở trụ.

Theo các Thiền sư thời Trần, bản thể vũ trụ vốn là một cái chân như hay chân tính, bản lai tính có tính chất thường hằng và chân thực. Bản thể như như chỉ tự nhiên (muôn đời bản thể cứ hồn nhiên). Bản thể muôn đời cứ như thế, không tăng không giảm, không được, không mất, phi hư phi thực,... Bản thể không tâm, không tướng cũng không hình, không thể nhận thấy, cũng không thể nói ra, không thể dùng ngôn ngữ mà miêu tả, không thể dùng trí mà biết, càng không thể dùng thức mà hiểu được. “Không” chỉ là một khái niệm tạm thời để chỉ bản thể. Bản thể thì không, nhưng thực ra không phải là ngoan không (không trống vắng).

Quan điểm đó phù hợp với tư tưởng của Lục Tổ Huệ Năng qua bài kệ nổi tiếng:                            

Bồ đề bản vô thụ,

            Minh kính diệc phi đài.

            Bản lai vô nhất vật,

            Hà xứ nhạ trần ai”.

            (Bồ đề vốn không cây,

            Gương sáng chẳng phải đài.

            Tự tính không một vật, 

            Bụi bặm bám vào đâu?”[3].

để phủ nhận bài kệ vô tướng của Thần Tú, người mở đầu dòng Thiền phương Bắc:

                        Thân thị bồ đề thụ,

                        Tâm như minh kính đài.

                        Thời thời cần phất thức,

                        Vật sử nhạ trần ai”.

                        (Thân là cây bồ đề,

                        Tâm như đài gương sáng.

                        Luôn luôn chăm lau chùi,

                        Chớ để bụi bặm bám)[4].

Bản lai vô nhất vật, nhưng do sự mê vọng làm cho cái tâm của con người bị sai lạc thành ra cái vọng tâm. Cái vọng tâm ấy đối diện với ngoại cảnh tạo ra sự đối lập giữa cái nầy với cái kia, giữa hữu với vô, sắc với không, thủy với chung, ngã với nhân, thiện với ác, sinh với tử, tội với phúc, khổ với lạc, phàm với thánh, phiền não với bồ đề, thiên đường vơi địa ngục, Phật tính với Pháp tính,... tức tạo ra cái nhìn nhị kiến, khiến con người phải ngụp lặn và phiền não vì những cái danh giả do nó tạo nên. Chân như theo Bồ Đề Đạt Ma, chẳng những là không mà cũng là Phật, là chân lý, là tâm. Tâm là gốc của vạn pháp, có thể tạo ra tất cả các vạn vật. Trong bài Phật tâm ca Tuệ Trung Thượng Sĩ viết:

                        Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm,

Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp

                        (Tâm của vạn pháp là tâm của Phật,

                        Tâm của Phật phù hợp với tâm ta)[5].

            Kinh Pháp Cú mở đầu bằng bài kệ:

                        Trong các pháp, tâm dẫn đầu,

                        Tâm làm chủ, tạo tất cả[6].

Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng[7] khi sắp quy tịch có bảo rằng:

                        Nhất thiết chư pháp

                        Giai tòng tâm sinh

                        Tâm vô sở sinh

                        Pháp vô sở trụ

                        Nhược đạt tâm địa

                        Sở tác vô ngại”.

(Tất cả các pháp

                        Đều từ tâm sinh

                        Tâm không chỗ sinh

                        Pháp không chỗ trụ

                        Nếu đạt đất lòng

                        Làm gì chẳng ngại)[8].

Tâm là cái bao trùm, là cái chất của vạn pháp, là cái vô hình ẩn dấu ở đằng sau mọi vật. Do đó, theo Thiền tông, Phật và chúng sinh đều cùng một bản thể là tâm, tức cùng một bộ mặt (“Phật dữ chúng sinh tô nhất diện”). Khi tâm con người mở rộng, bao chứa được tâm của vạn pháp, khi đó đạt đến tâm Phật, là giác ngộ, là giải thoát.

Kinh Đuy-ma-cật cũng đã nói: “Khi tâm đã thanh tịnh thì tất cả đều thanh tịnh. Trong con mắt thanh tịnh thì cõi đất nầy không phải là gò đống, hầm hố, gai góc, sỏi sạn, mà là cõi Phật thanh tịnh” (Phẩm Phật quốc). “Cũng chỉ một đời sống nầy mà bằng tâm không thanh tịnh thì thấy là sanh tử, với tâm thanh tịnh thì thấy đó là Niết bàn[9].

Kinh Niết Bàn nêu rõ: “Diệt được cái phiền não là Niết bàn. Rời bỏ được chư tướng tức là Niết bàn”. Hiền thủ tâm kinh lược sơ nói: “Niết bàn đó là nơi viên tịch. Có nghĩa là mọi đức đều đầy đủ gọi là viên, mọi chướng ngại đều hết gọi là tịch”. Như vậy, Niết bàn là trạng thái tĩnh mịch, không còn nhân duyên sinh diệt, không còn ưu tư phiền não, không còn biến hóa, nghĩa là có một thế giới, một cõi mà con người có thể bước tới đó.

Có thể hiểu rằng, niết bàn theo Thiền tông không phải là một cảnh giới có thật ở Tây phương, là cõi cực lạc như Tịnh Độ tông quan niệm, lấy đó làm tha lực, phương tiện để đạt được tâm không, mà chính là trạng thái tâm không của một con người. Niết bàn không gì khác hơn là sự từ bỏ ba độc tham, sân, si do ngã chấp gây nên. Vô ngã là niết bàn, chừng nào con người cởi bỏ được ba độc thì chừng đó là niết bàn. Thiền tông không phủ nhận cảnh giới niết bàn, nhưng cảnh giới đó chỉ tồn tại trong tâm, ở đó không có vô – không, có – hữu, không có hạnh phúc, không có đau khổ. Niết bàn như thế có nghĩa là giải thoát, là chứng đạo, tức là Ngộ.

Đức Phật trong Kinh Bát Nhã đã nhấn mạnh Sắc bất thị không, không bất thị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. Đau khổ là cội nguồn của hạnh phúc, ngược lại, hạnh phúc cũng chính là cội nguồn sinh ra đau khổ. Diệt khổ theo quan niệm của Thiền không phải để đạt tới hạnh phúc, mà diệt khổ đồng thời diệt luôn hạnh phúc. Vì Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm như Kinh Bát Nhã Kim Cang đã nêu rõ. Tâm không bám trụ vào chỗ nào thì tâm mới hiển hiện được, mới thực sự là tâm của ta – tâm giải thoát. Đây mới chính là hạnh phúc viên mãn của con người.

Giải thoát là một trạng thái tâm không, nó như một tấm gương trong đó chứa đựng mọi thứ nhưng không giữ lại một thứ gì cả (vật chất cũng như hiện tượng), nghĩa là có mọi thứ nhưng không chấp gì cả, tức trạng thái bất nhị nguyên, vong nhị kiến, từ đó mà liễu sanh tử.

Quan điểm trên đây đã được các nhà Thiền học, các Thiền sư thời Trần như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông cũng như các vị Tổ của phái Nhị Tổ Trúc Lâm Yên Tử nắm bắt một cách sâu sắc, kiến giải và thực chứng nó một cách thành công.

Theo Trần Thái Tông, trong thế giới trần tục, mỗi con người là sự kết hợp một cách tạm thời của các yếu tố ngũ uẩn, bởi vậy, không phải là tồn tại chân thực mà chỉ là tạm thời, ảo ảnh, chốc lát và thoáng qua. Thân thể con người là cái lồng chứa mà trong đó tiềm ẩn Phật, Phật tính, như Quốc sư Trúc Lâm đã từng nói với Thái Tông: “Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm”. Thái Tông viết: “Há biết Bồ đề giác tính mọi cái tròn đầy, chẳng hay Bát nhã thiện căn mọi người đầy đủ”.

Tuệ Trung Thượng Sĩ trong Phật tâm ca nêu rằng:

Phật! Phật! Phật! bất khả kiến!

                        Tâm! Tâm! Tâm! bất khả thuyết!

                        Nhược tâm sinh thời thị Phật sinh

                        Nhược Phật diệt thời tâm diệt

                        Diệt tâm tồn Phật thị xứ vô

                        Diệt Phật tồn tâm hà thời yết[10].

Đức Phật dạy: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Phật tính của vĩnh viễn, không phụ thuộc vào không gian và thời gian, mỗi con người đều có sẵn mầm giác ngộ để tương lai thành Phật, Phật là Phật đã thành, chúng sinh là Phật đang thành. Vì Phật tính vốn có sẵn trong mọi người, nên phải biết hướng vào tự thân mình mà tìm cầu, chớ nên tìm ở bên ngoài. Trong Khóa hư lục, Trần Thái Tông viết: “Phật vô Nam Bắc quân khả tu cầu, tánh hữu trí ngu, đồng tư giác ngộ[11]; “Khái thức bồ đề giác tính, cá cá viên thành, tranh tri Bát Nhã thiện căn, nhân nhân cụ túc... Nhược năng phản chiếu hồi quang, giác năng kiến tánh thành Phật”, nghĩa là trong mỗi người đều có sẵn mầm trí tuệ Bát Nhã sáng suốt tròn đầy, nếu biết quay đầu nhìn thẳng vào mình, thì sẽ thấy được tánh (tức Phật tánh) mà thành Phật. Quan điểm của Trần Thái Tông phù hợp với Tông chỉ của Thiền mà Đại sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã nêu lên: Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Kiến tánh thành Phật tức đạt được Phật tính, tâm Phật trong tâm mình, bằng tâm mình là trở thành Phật trong đời sống hiện tại. Ở đây mục đích nhận thức là tâm (Phật), phương tiện nhận thức là tâm (chủ thể), cả hai đều nằm trong tâm (chủ thể). Quá trình truyền tâm ấn, dĩ tâm truyền tâm là quá trình trực giác, nằm ngoài mọi giáo lý văn bản, lời nói và tư duy logic, nó không cần một môi giới trung gian nào.   

Phật tại tâm, vì vậy phải tìm Phật ngay chính tại tâm mình, nghĩa là phải tìm lại cái mặt mũi nguyên xưa (bản lai chân diện mục) của tâm, cái tâm ban đầu của mỗi con người. Tìm lại cái chân tâm thì không cần tìm đâu khác (bất tòng tha lực) mà phải quay về với tự thân (phản quang tự kỷ), dùng tâm để nhận thức về tâm (dĩ tâm kiến tâm), làm cho tâm sáng lên để nhìn thấy tự tính (minh tâm kiến tính), “Tuỳ tâm này tịnh tức cõi Phật tịnh” (Đuy-ma-cật, Phẩm Phật quốc).

Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói:

                        Phật pháp tại thế gian,

                        Bất ly thế gian giác.

                        Lý thế mịch Bồ Đề,

                        Kháp như cầu Thố giác”.

                        (Phật pháp ở thế gian,

                        Vì thế gian giác ngộ.

            Lìa thế gian cầu đạo,

            Tìm sừng thỏ khác nào).

Trần Nhân Tông cũng diễn đạt tư tưởng đó trong Cư trần lạc đạo phú một cách nôm na hơn:

                        Phật ở trong nhà

                        Chẳng phải tìm xa,

                        Nhân khuẩy bổn nên ta tìm Phật

                        Đến mới hay chính Phật là ta”.

Tức hãy quay đầu lại, hướng vào nội tâm, trở về với cái trí tuệ sáng suốt của mình, tức quay về biện tâm. Hãy tìm Phật ở trong nhà chứ đừng cầu Thích Ca ngoài đường, đừng bỏ bột mà đi tìm bánh, tìm bóng mà quên gương! Người muốn giác ngộ, theo Trần Thái Tông, trước hết phải biến tâm mình thành vô tâm (tức thành hư). Nhưng việc làm đó phải được diễn ra một cách tự nhiên, vô thức, nghĩa là phải diễn ra không có chủ tâm, không có sự ngăn cản của chủ thể tác động, vì có ý thức biến tâm mình thành hư thì không thể trở thành Phật, không thể giác ngộ được.

Các Thiền gia đời Trần từ vị vua đầu tiên Trần Thái Tông đến Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa,... đều hành Thiền từ lúc còn ít tuổi, ngay trong hoàn cảnh sống của mình. Trong cuộc sống đầy phức tạp, sôi động của xã hội Việt Nam thế kỷ XIII, XIV, các vị đã ngộ đạo, xuất thế ngay trong sự nhập thế tích cực. Với họ, đời sống chính là đạo tràng, là môi trường triển khai và hiện hành của Giới, Định, Tuệ,... Ở đó, nếu tâm không thanh tịnh thì ắt là phiền não, các vị đã nỗ lực tham Thiền, đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, cả trong khi ngủ lẫn khi thức đều Thiền để xóa sạch tội lỗi bất định ở nơi tâm mình, để thấy được rằngcõi này là cõi Phật, nghĩa là ở giữa đời, giữa chốn trần lao mà vẫn thường thông suốt tất cả pháp dơ sạch, nhiễm tịnh, phiền não hay chẳng ô nhiễm, sanh tử và niết bàn, đó là cái nhìn thấy bản tính của tất cả mọi sự:

                        Ở giữa lò hồng một đóa sen”.

Các vị đã sống và hành Thiền theo tinh thần Đuy-ma-cật đã nêu: “Ví như đất cao khô ráo, hoa sen chẳng sanh. Ở nơi thấp ướt bùn lầy, hoa sen mới sanh. Chính nơi bùn lầy phiền não mới có chúng sanh khởi sanh Phật pháp. Cũng như gieo giống giữa hư không, rốt cuộc chẳng thể sanh. Gieo giống trên đất phân, hạt giống mới lên cây tươi tốt. Vậy mới biết rằng: Tất cả phiền não là hạt giống Như Lai. Ví như chẳng lặn vào đại dương thì cũng chẳng có thể có được ngọc quý vô giá. Vậy đó, chẳng vào biển lớn phiền não ắt chẳng thể được của báu Nhất thiết trí”. Cuộc đời đúng là nơi tui rèn đức tính của một Bồ tát, là nơi thử thách cho tấm lòng đại bi bao la và trí tuệ thấu suốt của con người.

2. Tư tưởng Tâm không trong đời sống xã hội thời Trần

Tính chất đặc biệt của đạo Phật thời Trần là sự gắn kết không thể tách rời giữa đạo Phật và cuộc đời. Điều mà chúng ta dễ dàng nhận thấy là ít có một nước nào Thiền sư lại làm vua và tham gia những cuộc chiến tranh giữ nước một cách tích cực như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông ở Việt Nam đời Trần. Chính “Cái tính cách Đời Đạo một thể, Đời Đạo một tướng ấy đã làm nên sức mạnh của đời Trần[12].

Đầu thời Trần, Phật giáo có vai trò hết sức quan trọng. Các nhà lãnh đạo quốc gia tầng lớp vua chúa đầu Trần, có tư thế của một vị lãnh tụ Phật giáo. Họ là những bậc anh hùng dân tộc, có tài trị nước, giỏi chiến lược, có kiến thức uyên bác, lại có tài kinh bang tế thế. Đồng thời họ còn có tư cách của một vị bồ tát tại gia, quên mình phụng sự chúng sinh, vừa có phong độ của một Thiền sư. Không những họ là những nhà Phật học uyên thâm mà còn là những nhà thực nghiệm sâu sắc. Họ hiểu rất rõ về triết lý Tâm không và đã thực hành lý thuyết ấy ngay trong cuộc sống trần tục mà họ đang sống: Vàng son nhung lụa không thể cám dỗ! Trần Thái Tông làm vua nhưng xem ngai vàng như chiếc giày rách, có thể vứt bỏ bất cứ lúc nào; vua Thánh Tông ngồi trên ngai vàng mà hành trạng chẳng khác gì Thiền sư đắc đạo, Trần Nhân Tông thì năn nỉ vua cha xin nhường ngôi thái tử cho em để xuất gia cầu đạo,... Anh Tông cũng tỏ ra là một Phật tử thuần thành,... Những ông vua đầu Trần xem việc đời như việc đạo, việc nước cũng giống như việc chùa, vì họ hiểu rằng phụng sự chúng sinh tức cúng dường chư Phật như lời đức Phật đã dạy. Hơn nữa, Thái Tông đã sớm đắc đạo qua câu nói của Quốc sư Trúc Lâm: “Trong núi vốn không có Phật, Phật tại tâm”, “phàm làm vua phải lấy ý muốn của nhân dân làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình” và lấy đó làm nền tảng tư tưởng của mình, dẫn đạo cho hậu thế, nên cả Thái Tông lẫn Nhân Tông sẵn sàng quên mình để lo cho dân, cho nước. Khi đất nước cần, vua “có thể cầm gươm lên ngựa, đi trước ba quân, xông pha giữa làn tên đạn, để cứu dân thoát ách ngoại xâm[13]. Đó chính là sự thể hiện tư tưởng Phật pháp thị nhập thế nhi phi yếm thế, Từ bi nãi sát sanh dĩ độ chúng sanh” (tức “Đạo Phật là nhập thế chứ không phải yếm thế, Từ bi có lúc phải sát sanh để cứu chúng sanh”), một nét đặc trưng của Phật giáo Việt Nam.

Thế kỷ XIII, dân tộc ta đã đứng trước những thử thách vô cùng to lớn, tưởng chừng không thể vượt qua được. Song, bằng tài năng đức độ của mình, các vua Trần đã động viên sự đoàn kết ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để đánh bại kẻ thù, đem lại sự yên bình cho dân tộc. Sau khi giành được thắng lợi, nhu cầu bức thiết là phải quy tụ nhân tâm, tái tạo và phát triển tâm lý thương yêu đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau chung sức xây dựng xóm làng và đất nước. Đạo Phật đã ít nhiều phù hợp với những nhu cầu đó; lòng từ bi bác ái của đạo Phật đã trở thành một trong những cơ sở tạo nên sự đoàn kết toàn dân để đáp ứng nhu cầu xã hội. Làm được điều nầy, có sự đóng góp của Mật tông và Tịnh độ tông, song Thiền tông đã tỏ ra có ảnh hưởng lớn hơn trong đời sống chính trị, xã hội nước ta lúc bấy giờ. Mãi đến thời kỳ hậu Tam Tổ Thiền tông mới dần dần nhường chỗ cho Luật tông.

Có thể nói, đạo Phật đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra tình cảm hiền hòa, đoàn kết, tương thân tương ái trong dân chúng, đặc biệt là trong cung đình, nơi thường xảy ra những tranh chấp, bất đồng có nguy hại đến mệnh nước, đời sống của dân trong thời phong kiến. Với lòng từ bi, đức tính hiếu sinh và tinh thần bình đẳng của một vị Thiền sư, đã giúp các vua Trần giải quyết êm đẹp những vấn đề gay cấn xảy ra trong hoàng tộc. Sử đời Trần có chép những chuyện như Trần Thái Tông tha tội chết cho anh là Trần Liễu, mặc dù Trần Liễu đã làm phản; Trần Nhân Tông sai vứt bỏ cái tráp đựng thư hàng giặc của một số quan lại nhà Trần vì cho rằng đó là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm khi kháng chiến đã giành được thắng lợi; hay chuyệnchia muỗm với Hoàng Cự Đà; chuyện Trần Khánh Dư được tha tội và được dự bàn quốc sự với vua Trần và các tướng lĩnh; chuyện các vua Trần sống gần gũi hòa đồng với quan lại, quý tộc và nhân dân, quan tâm tới đời sống của nô tỳ, nô bộc; chuyện về quân đội phụ tử chi binh của Phạm Ngũ Lão và chuyện Hưng Đạo Vương tháo đầu sắt bịt gậy để tránh tiếng thị phi, không nghe lời trăn trối của cha mà giải hòa với Thượng tướng Trần Quang Khải, để cùng lo việc nước,...

Tất cả đã nói lên rằng chủ thuyết của Phật giáo, một chủ thuyết bình đẳng, khác với tinh thần tôn ti trật tự, đẳng cấp Nho giáo, nó góp phần hạn chế và xóa đi phần nào ranh giới đẳng cấp của xã hội đầu Trần. Với những ông vua tu Thiền như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông thì chủ thuyết bình đẳng đó không phải là khẩu hiệu mà thể hiện thành đường lối, chính sách, biện pháp và cả trong cung cách ứng xử hàng ngày của họ đối với mọi tầng lớp nhân dân, mang tinh thần vạn pháp đồng nhất thể của Phật giáo nói chung, quan điểm Tâm không của Thiền tông một cách sâu sắc.

Một tác giả trong bài viết vềThiền học đời Trần cho rằng, “Thiền thuở đầu Trần đã thâm nhập sâu đậm vào vua quan, quý tộc và nhân dân đời Trần trong khí thế đi lên của dân tộc trong ý nghĩa Trời Nam khí mạnh Giặc Bắc lòng run”, ta thấy rõ cái nghĩa của chữ tâm, tâm truyền tâm đồng thời cũng là nhân nghĩa[14]. Thiền tông luôn hướng về cái tâm, giáo lý Phật tức tâm của Thiền chủ trương con người có khả năng đốn ngộ để xóa bỏ ngay cái định kiến nhân sinh thông tục trong tội lỗi mà họ thường mắc phải, tạo nên tự tín của con người, tin từ sức mạnh nội tâm để đi đến giải thoát, từ tự giác qua tha giác. Cho nên thời Trần, giai cấp lãnh đạo đã không có thái độ khinh khi ghét bỏ đối với những người phạm tội, kể cả những người phản nước hại dân, chống lại triều đình,... mà chủ trương giáo hóa để họ trở về với cái tâm hướng thiện của mình. Trần Quốc Tuấn khi viết Hịch tướng sĩ chắc hẳn đã không vượt ra ngoài khuôn khổ triết lý đạo Thiền nêu trên. Hình ảnh của vị Quốc công Tiết chế của triều đình ngồi tọa Thiền tại chùa Vĩnh Nghiêm đã nói lên đầy đủ tính chất cơ bản của Thiền tông Việt Nam thời Trần và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội. Hưng Đạo tọa Thiền không phải để tìm con đường giải thoát cho mình mà suy tư về thế sự. Trước thế mạnh của giặc, chỉ tự giác giải thoát cho mình là chưa đủ mà phải vì cả chúng sinh, phải vì vận nước!

Giặc đã chiếm mất kinh thành mà vẫn xin bệ hạ đừng lođầu tôi chưa rơi xuống đất; giặc hung hãn tàn bạo mà vẫn xem năm nay đánh giặc nhànthà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!... hẳn nhà Trần đã tạo nên một không khí xã hội đầy lạc quan, tự tin, không sợ giặc và dám coi thường sự chết. Đây vừa là nét truyền thống của dân tộc, đồng thời không thể không có sự tác động của tư tưởng Phật giáo thời nầy đang phát huy ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội.

Biên giới phía bắc tạm yên, vua Trần đồng thời quan tâm tạo sự hòa hiếu với các nước phía nam. Thượng hoàng Trần Nhân Tông sang thăm Chiêm Thành (1301), một mặt thể hiện thiện chí hòa bình, củng cố tình giao hảo giữa hai nước, cho dù Đại Việt bấy giờ là một quốc gia hùng cường trong khu vực. Đó là hoạt động chính trị. Mặt khác, sự viếng thăm của Trần Nhân Tông còn gắn với một chức năng quan trọng hơn nữa là góp phần xiển dương đạo Phật ở một đất nước vốn có truyền thống Phật giáo như Chiêm Thành, đồng thời mở rộng ảnh hưởng của tư tưởng Thiền xuống phía nam.

Bản thân vua sùng đạo và tích cực ủng hộ Phật giáo với tinh thần biện tâm như vậy, chắc chắn có ảnh hưởng không nhỏ, thu hút, lôi cuốn cả triều đình, hoàng tộc và dân chúng noi theo mà tôn sùng đạo Phật, tạo nên một xã hội quá nửa làm sư. Mỗi khi Phật giáo đã trở thành của chung của mọi người, đã đi sâu vào lòng người, thì một xã hội, trong đó đông đảo người dân sống nếp sống Phật giáo, nếp sống hướng thiện, hướng tới giác ngộ giải thoát sẽ hình thành. Một nếp sống đạo đức và trí tuệ thật sự, một nếp sống mà mọi người đều biện tâm, tức tu tâm để từ tâm mê mờ biến thành tâm sáng suốt, tâm hướng tà biến thành tâm hướng chánh và tâm tán loạn biến thành tâm định tính.

Nhà Trần dụng Phật làm phương tiện giải thoát và giáo hóa nhân dân, nên buổi đầu Trần, vua, quan lại, tướng sĩ, nhân dân; người giàu cũng như nghèo; người có học cũng như người vô học; từ người đứng đầu quốc gia cho đến dân thường một lòng tu tập, nỗ lực kiến tánh để thành Phật. Vua và các Thiền sư đắc đạo hướng dẫn, chỉ bày cho những người ít học cách tu chứng, hành Thiền. Sách sử tuy không ghi rõ cách thức tổ chức sinh hoạt Phật giáo ở các địa phương thời này, nhưng theo tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận thì thời Trần có khoảng 9.500 ngôi chùa, 30.000 tăng sĩ (chủ yếu kể từ khi Phật giáo Trúc Lâm ra đời), chỉ riêng Thiền sư Pháp Loa đã có đến 15.000 đệ tử; năm 1256, Trần Thái Tông cho đúc 330 quả chuông bằng đồng. Việc đúc một lúc quá nhiều chuông cho thấy nhà nước quan tâm đến sự phát triển Phật giáo như thế nào. Điều này Ngô Thì Sĩ có lời bàn “Đúc một lúc 330 quả chuông, lãng phí đồng để ném vào việc vô dụng, xét ra nhà Trần sùng đạo Phật lại có phần hơn nhà Lý nhiều[15]. Hoặc năm 1299, nhà nước cho in sách khoa giáo nhà Phật (quyển Phật giáo, pháp sự đạo tràng công văn cách thức) để ban bố khắp trong nước[16];… cho phép chúng ta hình dung bức tranh xã hội Phật giáo lúc bấy giờ.

Trần Nhân Tông Điều Ngự Giác Hoàng sau khi xuất gia đã đi khắp xóm làng trong nước để vận động nhân dân thực hành thập thiện. Hình ảnh của vị Thượng hoàng sống gần gũi, thân thương với dân chúng, cũng như trước đó, vua cùng chia sẻ bát cơm hẩm với người nông dân trong cơn hoạn nạn, hình ảnh các vị Thiền sư cầm quân ra trận,... đã nói lên tinh thần nhập thế sâu sắc, tính chất bình đẳng của Phật giáo thời Trần, có tác dụng kết chặt vua tôi, trên dưới, đoàn kết giữa mọi người để hoàn thành sứ mệnh cao cả của đạo và đời. Trần Quốc Tuấn đã từng tổng kết: vua tôi đồng tâm anh em hòa thuận, cả nước ra sức, nên bọn giặc phải chịu bị bắt. Đó cũng chính là cơ sở để xây dựng phương châm nới sức dân, làm kế rễ sâu gốc vững, ấy là thượng sách giữ nước của nhà Trần nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung như một bài học lịch sử vô cùng quý báu. Sức mạnh của dân tộc có được nhờ có sự đoàn kết toàn dân. Để đoàn kết nhân dân tạo ra sức mạnh của toàn dân tộc, những người lãnh đạo đất nước phải biết trọng dân, biết lo cho dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc và hòa nhập vào dân. Nhà Trần đã làm được điều hết sức đặc biệt đó, phải chăng một phần vì nhà Trần có được những ông vua Thiền sư như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông,... với một đội ngũ Thiền sư nhập thế để xuất thế.

3. Tư tưởng Tâm không trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Nguyên

Thế kỷ XIII, Đại Việt đã phải đương đầu với ba lần tấn công của quân Mông Nguyên hung hãn nhất, mạnh mẽ nhất lúc bấy giờ. Kết quả cả ba lần tấn công vào nước ta, quân Mông Nguyên đều chuốc lấy thất bại. Đại Việt giành lấy thắng lợi huy hoàng bằng những chiến công oanh liệt.

Gần bảy trăm năm qua, các nhà nghiên cứu nước ta cũng như thế giới khi phân tích sự kiện này hẳn đều thống nhất nhận định rằng: giả sử Đại Việt thua giặc Thát thì cũng là chuyện bình thường, là điều tất yếu. Vì bấy giờ cả thế giới thua chứ riêng gì Đại Việt! To lớn như Nga, như Tống; hùng mạnh như La Mã, Ba Tư nổi tiếng một thời trong lịch sử thế giới cổ đại còn thua, thì Đại Việt nhỏ như cái đấu làm sao không thua được! Vì lẽ đó, nếu thực sự Đại Việt bị thất bại trong cuộc chiến tranh chống xâm lược Mông Nguyên thì các vua Trần ắt không phải chịu trách nhiệm và tội lỗi trước nhân dân, trước lịch sử (!)

Song, lịch sử đã không diễn ra một cách bình thường như vậy. Đại Việt không thất bại mà đại thắng, không phải một lần mà đến ba lần, nhân dân Đại Việt đã đánh cho quân giặc tan tành, không còn kịp chạy thoát thân về nước để chịu tội với Thiên triều! Con bọ ngựa Đại Việt đã làm đổ lăn kềnh cỗ xe quân sự Mông Cổ!

Sức mạnh nào đã làm nên thắng lợi của nhân dân Đại Việt trong ba lần kháng chiến chống Mông Nguyên? Một điều chắc chắn là sức mạnh vật chất của Đại Việt đầu Trần không thấm gì so với sức mạnh vật chất của cỗ xe quân sự Mông Cổ. Cho nên, sức mạnh đó chủ yếu phải được làm nên bởi những yếu tố tinh thần. Napoléon Bonapatre đã từng tâm sự với La Fontaines vào cuối đời mình: “Ông có biết không, điều tôi khâm phục nhất ở đời nầy là sự bất lực của bạo lực để xây dựng nên một cái gì. Chỉ có hai sức mạnh ở đời là thanh gươm và trí tuệ. Về lâu về dài, thanh gươm bao giờ cũng bị trí tuệ đánh bại[17]. Sức mạnh của Đại Việt ở thế kỷ XIII là sức mạnh trí tuệ và tinh thần. Sức mạnh đó được tạo nên một phần vốn là tự thân của dân tộc ta, một phần do có sự tác động của tư tưởng Phật giáo, tư tưởng đóng vai trò quan trọng trong xã hội nước ta thời Trần.

Trong những nguyên nhân cơ bản làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên, có những nguyên nhân mà xem ra nước nào cũng có thể có (như lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân, nhà vua anh minh, hoàng tộc đoàn kết, có nhiều tướng giỏi, quân dân một lòng, cả nước ra sức,...). Vậy thì, vì sao các nước đều thua mà ta lại thắng? Phải chăng còn một nguyên nhân nào khác, đặc biệt hơn? Trả lời câu hỏi đó, chúng tôi cho rằng: bên cạnh những truyền thống vốn có của đân tộc, Thiền đã đóng vai trò quan trọng trong việc đánh bại giặc Mông Nguyên, tất nhiên là sự tác động gián tiếp thông qua vai trò của những bậc Thiền sư những người lãnh đạo quốc gia.

Sức mạnh tinh thần đó đã chuyển hóa thành sức mạnh vật chất to lớn để “Cử quốc nghênh địch”, “Cử quốc cự địch”, để đánh bại kẻ thù vốn có sức mạnh vật chất gấp ta bội lần.

Như đã trình bày ở phần trên, mục đích của Thiền là giác ngộ, để đạt được mục đích đó, Thiền chủ trươngdĩ tâm truyền tâm, Phật tại tâm mà tâm cũng chính là Phật, mọi chúng sinh đều có Phật tính và có thể kiến tính thành Phật, như vậy là mọi chúng sanh đều bình đẳng trong giác ngộ. Giác ngộ theo quan niệm của đạo Thiền là bất cầu tha lực mà vì Phật tại tâm nên tìm Phật phải tự tâm mình. Song, tự giác phải đi đôi với giác tha. Câu nói Quốc sư Trúc Lâm khuyên Trần Thái Tông: “phàm người làm vua nên lấy điều muốn của thiên hạ làm điều muốn của mình, lấy lòng của thiên hạ làm của mình” đã mở ra cho nhà vua hướng Thiền, con đường nhập thế tu tập. Để thành Phật không nhất thiết phải xuất gia, phải tiểu ẩn, mà có thể thành Phật ngay trong đại ẩn. Vì vậy, Thái Tông đã một mặt nghiên cứu kinh điển, hành Thiền nhưng mặt khác đã tỏ ra tích cực trong việc trị nước an dân. Vì mục đích an dân và sự trường tồn của dân tộc, vì sự tồn tại bền vững của vương triều, nhà vua đã không ngại thân chinh, cầm quân đánh giặc để cứu nước cứu dân. Noi gương vị vua đầu triều, Trần Nhân Tông và bậc thầy của mình Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ, đã hai lần ra trận, cầm quân đánh giặc.

Cả nước theo đạo Phật, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì từ vua quan đến toàn thể nhân dân đều tham gia giết giặc cứu nước. Mỗi người dân đều góp công sức, tiếng nói của mình vào cuộc kháng chiến. Một hội nghị quý tộc và tướng lĩnh ở Bình Than, hội nghị của các bô lão đại diện cho nhân dân cả nước ở điện Diên Hồng đã chứng minh điều đó. Nó xuất phát từ quan niệm Phật giáo là của mọi người, không phân biệt Bắc Nam, không kể xuất gia hay cư sĩ, tại gia, không phân biệt trí ngu, bậc vương giả hay người tôi tớ,... mọi người phải lo biện tâm, quay về biện tâm để sống với đời mà giải thoát.       

Theo quan niệm của nhà Phật thì cuộc đời là bể khổ. Cái khổ không chừa một ai. Phật giáo chủ trương diệt khổ, tức là tìm cách giải thoát con người ra khỏi bể khổ, nhưng bằng những phương pháp khác nhau. Đối với Thiền tông, cách giải thoát tốt nhất là không chấp khổ, nghĩa là làm cho khổ không có chỗ để bám. Tam Tổ Tăng Xán từng nói: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch” (Đạt đến đỉnh cao của đạo không khó, điều quan trọng là đừng phân biệt). Như vậy giải thoát, diệt khổ khó mà không khó, chỉ một điều là đừng chấp khổ mà thôi. Triết lý đó cũng được kinh Kim Cang Bát Nhã nêu lên rất rõ: Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm và được Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng như Trần Nhân Tông thọ đắc bằng chủ trương phá chấp triệt để. Mỗi khi khổ không còn chỗ bám trụ thì con người đạt tới chỗ tâm không tức tìm thấy được niết bàn.

Quân Mông Thát khi tấn công vào nước ta, mục đích của chúng là chiếm bằng được kinh thành Thăng Long. Muốn thắng giặc phải làm cho giặc mất mục tiêu, tức là biến Thăng Long thành một vùng trắng. Thực tế, vua tôi nhà Trần khi rút khỏi kinh thành Thăng Long đã làm cho giặc Thát không còn chỗ để bám víu nữa. Một đạo quân viễn chinh xâm lược từ xa tới đây, việc cung cấp lương thảo hết sức khó khăn; việc cung cấp tại chỗ là điều kiện cần thiết và có tính quyết định đối với sự thành bại của chúng. Mỗi khi điều kiện đó mất đi, thì quân giặc rơi vào thế khủng hoảng trầm trọng; điều kiện sinh hoạt khó khăn, thiếu thốn, bệnh dịch hoành hành, lại thường xuyên bị quấy phá, sinh lực bị tiêu hao, tinh thần tướng sĩ bị hoang mang cực độ dẫn đến sự thất bại tất yếu.

Ngược lại, biết giặc rấp tâm xâm lấn nhưng rất tỉnh táo, không sợ giặc, tìm cách diệt giặc, làm mất mục tiêu của giặc do đó mà thắng giặc.

Giặc rấp ren ngoài biên cương, sứ giả nghênh ngang đi lại ngoài đường, yêu sách đủ điều, lớn tiếng doạ nạt,... nhưng người dân Đại Việt không hề tỏ ra sợ hãi, nao núng; bình tĩnh, chủ động tìm cách chống lại.

Ta thấy nhà Trần bắt giam sứ Nguyên, trả lời một cách mỉa mai không quen cỡi ngựa đường xa,... nên không sang chầu; tiếng hô đồng thanh Quyết chiến!; câu trả lời Hãy chém đầu thần rồi hãy hàng!; Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin Bệ hạ đừng lo. Đầu tôi còn, xã tắc còn; sự khẳng định năm nay đánh giặc dễ!... toát lên tinh thần lạc quan, tự tin, thái độ quyết tâm đánh giặc và chấp nhận cái chết một cách ung dung, quát vào mặt kẻ thù Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!... Tất cả như chứa đựng một chất men được tạo nên từ tư tưởng yêu nước, thân dân, tinh thần tự chủ của nhân dân ta và cùng với nó là tư tưởng Thiền hòa quyện trong giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam.

Hai hình ảnh trên đây có những nét tương đồng, song như thế không có nghĩa là hệ quả trực tiếp của nhau, mà hình ảnh về cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên được tạo ra từ chủ trương, chính sách và phương lược chiến tranh của những người lãnh đạo quốc gia, trong đó đặc biệt là những ông vua Thiền sư với sự thụ đắc tư tưởng Tâm không một cách sâu sắc, cũng như sự cảm nhận tư tưởng đó của quần chúng nhân dân tín đồ Phật giáo trong xã hội thời này.

Đành rằng, kế thanh dã được nhân dân thực hiện theo mệnh lệnh của nhà vua. Đó là một điều chắc chắn. Song, không loại trừ những người dân thực hiện chủ trương này một cách chủ động. Họ biết phải hy sinh như thế nào, hy sinh những gì. Điều đó có nghĩa tư tưởng tâm không không chỉ có ở các Thiền sư, ở tầng lớp lãnh đạo đất nước, mà còn có ở cả những người dân mộ đạo, họ tu tâm dưỡng tính theo triết lý đạo Phật mà tầng lớp vua chúa, quan lại đang ra sức tu tập. Tất nhiên, không phải ai cũng có thể hiểu được triết lý cao siêu của Thiền, nhưng những người lãnh đạo quốc gia, có thể thông qua chủ trương chính sách của nhà nước để dân chúng đến với Phật giáo, đến với Thiền để họ có một nhân sinh quan phù hợp, một cuộc sống tốt đẹp và có ý nghĩa trong xã hội đương thời.

Vua và triều đình dám bỏ kinh thành Thăng Long về cùng nhân dân tổ chức kháng chiến; nhân dân dám bỏ nhà cửa ruộng vườn, mồ mả tổ tiên,... theo vua đi đánh giặc,... điều đó vừa mang tinh thần, truyền thống vốn có của dân tộc một cách sâu sắc, vừa thể hiện nhân sinh quan Phật giáo của người Việt Nam thế kỷ XIII.

Vua Trần Thái Tông đã lấy lời dặn dò của Quốc sư Viên Chứng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình, nên vua luôn đặt mọi quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi cá nhân. Vì sự tồn vong của tổ quốc mà vua phải bỏ cuộc sống cung đình lọng vàng chiếu gấm để xông vào nơi lửa đạn. Trần Nhân Tông cũng hai lần rời xa cung điện, sống cuộc sống kham khổ như mọi người dân, thậm chí chia nhau bát cơm hẩm để có ngày thắng lợi; vua chủ trương lấy ý muốn của nhân dân làm ý muốn của mình mà tổ chức hội nghị Diên Hồng để rồi cùng với dân đánh giặc giữ nước. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẹp bỏ thù riêng, phò vua vượt qua cơn hoạn nạn của đất nước,... Ngược lại, người dân cũng nhận ra rằng tổ quốc còn thì gia đình còn, cá nhân còn; nước mất thì chút quyền lợi cỏn con của bản thân mình há giữ được chăng? Vì vậy mà họ sẵn sàng hy sinh tất cả để giữ được cuộc sống của mình trong nền độc lập dân tộc.

Cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên của nhân đân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Qua cuộc kháng chiến, tư tưởng Thiền càng có điều kiện thuận lợi để thể nghiệm sự đúng đắn của tính chất nhập thế, từ đó mà đi vào lòng dân tộc. Đến lượt nó tự tạo cho mình một mảnh đất màu mỡ để tiếp tục phát huy vai trò và ảnh hưởng trong đời sống xã hội Việt Nam thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV, cũng như được kế thừa vào những thế kỷ sau.

------------------------

Trần Thuận, “Tâm không” – tư tưởng chủ đạo của Phật giáo thời Trần, Tạp chí KHXH,số 4 (50), năm 2001.



[1]. Thiền uyển tập anh, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.79.

[2]. Taisen Deslimaru (1992), Chân Thiền Zen, Ngô Thành Nhân và Trần Đình Cáo dịch, Nxb. Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh, tr.66.

[3]. Tuệ Trung Thượng Sĩ  với Thiền tông Việt Nam, Sđd, tr.318.

[4]. Tuệ Trung Thượng Sĩ  với Thiền tông Việt Nam, Sđd, tr.318.

[5]. Tuệ Trung Thượng Sĩ  với Thiền tông Việt Nam, Sđd, tr.84.

[6]. Thiền học đời Trần, Sđd, tr.261.

[7]. Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng là Tổ của Thiền sư Vô Ngôn Thông.

[8]. Tuệ Trung Thượng Sĩ  với Thiền tông Việt Nam, Sđd, tr.260-261.

[9]. Thiền học đời Trần, Sđd, tr.261.

[10].Phật không thể thấy, tâm không thể nói. Khi tâm sinh thì Phật cũng sinh, khi Phật diệt thì tâm cũng diệt. Chẳng nơi nào diệt tâm mà còn Phật, chẳng lúc nào diệt Phật mà còn tâm”. Dẫn theo Tuệ Trung Thượng Sĩ  với Thiền tông Việt Nam, Sđd, tr.121-122.

[11].Phật không kể Nam hay Bắc đều có thể tu tập và cầu được. Người tuy trí ngu phân biệt, nhưng ai nấy đều có sẵn một lòng giác ngộ”.

[12]. Thiền học đời Trần, Sđd, tr.155.

[13]. Thiền học đời Trần, Sđd, tr.273.

[14]. Tuệ Trung Thượng Sĩ  với Thiền tông Việt Nam, Sđd, tr.277.

[15]. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập I, Sđd, tr.479.

[16]. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập I, Sđd, tr.556.

[17]. Thiền học đời Trần, Sđd, tr.294. 

Cập nhật ( 07/09/2015 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online