Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow TRÁI TIM TRĂNG SÁNG
TRÁI TIM TRĂNG SÁNG PDF In E-mail
Người viết: Thích Nữ Tuệ Đăng   
03/04/2016

TRÁI TIM TRĂNG SÁNG

* Thích Nữ Tuệ Đăng

Thơ được xem là đỉnh núi cao giữa bình nguyên ngôn ngữ, là tiếng nói sâu thẳm nhất của con tim. Mỗi đạo nhân dường như đều mang trong mình một con người thơ bất tuyệt, dù có làm thơ hay không “nhà thơ là người đã từ tốn hiển bày một thế giới như thắp lên một ngọn đèn rồi lẳng lặng ẩn mình trong bóng tối, để cho thơ tự nói”. Khi đưa ra nhận thức sâu xa này nữ thi sĩ Emily Dickinson đã cảm nghiệm được cái ảo diệu của Thiền, cái năng lực chuyển hóa khổ đau thành cái đẹp và triển khai cuộc sống con người đến vô hạn của thơ và đạo.

“Khi hồn thơ có mặt

Đau khổ được biến hình

Giọt nước mắt ảm đạm

Thành hạt ngọc long lanh

Do đâu có nghệ thuật

Nếu không nhờ đau thương

Và ý thức đau thương

Kết tinh thành tuệ giác”.

      (Khi hồn thơ có mặt – Ngọa bệnh ca 1)

            Ni trưởng Thích nữ Trí Hải, chúng ta có thể tìm thấy nơi Người một người Thầy, một người bạn tâm linh. Người đã đi vào chiều sâu của cuộc sống, đã biến những khổ đau thành đối tượng của nghệ thuật của tư duy, khiến nó không còn mãnh lực khống chế mình, với những khổ vui tạm bợ. Vừa là một nghệ sĩ thực hiện việc ấy qua nghệ thuật vần điệu thi ca, lại vừa là đạo sĩ Ni trưởng qua thiền định chuyển hóa khổ đau thành tuệ giác qua chính sự sống của mình như một tác phẩm nghệ thuật. Saigo, vị thiền sư thi sĩ sống vào thế kỷ thứ 12 ở nước Nhật là con người khao khát được chết dưới bóng hoa đào và trong ánh trăng sáng không phải là một thánh nhân kỳ đặc xa lạ mà là một con người ai cũng có thể gần gũi. Ni Trưởng dường như cũng sống trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Một con người là bạn của tất cả, một con người cũng nao nao buồn vô cớ trước một bóng hoàng hôn nơi chân trời xa mơ:

“Núi nằm trường mộng cuối chân mây

Mù tỏa sông xa hút dấu ngày

Lau lách im hơi rừng nín tiếng

Lưng trời lạc lõng cánh chim bay.”

                                                            (Sầu vạn cổ)

             Tâm hồn trong suốt và rỗng rang của hành giả tu thiền vẫn đứng trên bờ của giải thoát và cái đẹp vô thường, trên bờ của bóng tối và ánh sáng; từ không gian tĩnh lặng của bãi vắng chiều hôm, tâm hồn ấy bay lên vào hoàng hôn đi vào cánh chim ngàn hoặc thể nhập vào “chú hải âu bên nghềnh đá”, nhìn trời biển thấm thía cái hương vị cô liêu. Cái đẹp luôn luôn phát tiết ra ngoài từ một tâm hồn tỏa sáng trí tuệ và tràn ngập yêu thương. Đối tượng suy tư của Ni trưởng là vấn đề sống chết, phải nói là đối tượng quán chiếu thì đúng hơn.

“Đời sống và nỗi chết

Như một cặp song sinh”.

            Thông thường, người đời quan niệm sống và chết là hai tình trạng hoàn toàn trái ngược nhau mà không biết rằng chúng ta sống và chết trong từng phút giây trong cuộc đời, sự sống và cái chết được thiền nhân cảm nghiệm một cách sâu sắc:

“Sống trong hơi thở vào

Chết cùng với hơi ra

Ngày đêm liên tục chuyển

Kiếp số như hằng sa.”

xxx

“Hít vào ta còn đó

Thở ra đã hết ta

Ta hòa cùng với gió

Thành vũ trụ bao la.”

(Sống chết)

            Niệm hơi thở và hơi thở ra là con đường thiền định đi vào thực tại: vô ngã, vô thường, không. Cứ đi vào công phu tu tập, thiền giả dần dần thấy rõ các thực tại giải thoát phong phú nằm đằng sau các ngôn ngữ của pháp môn thiền định. Ni trưởng đã có kinh nghiệm rất thật, chiếu soi đến tận nguồn của đời sống, chạm sát thực tại, nắm trọn và sống hẳn trong lòng thực tại.

“Ta như làn sóng nhỏ

Giữa đại dương cuộc đời

Sống có khi còn mất

Biển cả không đầy vơi.”

(Sống chết)

Cái chết là sự trở về hòa nhập vào vũ trụ bao la, “như thị bất sinh bất diệt” đối với hành giả tu thiền không phải là ý niệm trừu tượng chút nào mà trái lại rất thực tế và chỉ thẳng đầy năng lực bởi vì dù đó là thực, như, hay không đều nằm giữa lòng những sự kiện sống động và cụ thể trong vũ trụ đang vận hành.

“Bầu trời trong và xanh

Gió ban mai tốt lành

Vũ trụ như chìm đắm

Trong thiền định vô sinh

Chim chóc đang ca múa

Mừng lễ hội bình minh.”

………………………

       xxx

Thiên nhiên như vũ trụ

Như bài ca vô thanh

Tâm hòa cùng vũ trụ

An trú tâm bất sinh

( Triêu dương ca)

            Thiền nhân không bao giờ xa rời những sự kiện thực tế ở thế gian, không đứng riêng cũng không ở ngoài thế giới của danh sắc. Thiền nắm trọn vũ trụ, như là, đang là, trong lòng bàn tay. Buổi sáng Ni trưởng lắng “nghe chim hót, buổi chiều ngắm trăng lên, thấy vườn hoa xuân nở, áng mây lành dìu dịu, nhìn ngọn tre xanh, nghe hơi thở của mình  hòa tan trong gió, sự sống mong manh mà mênh mông”. Các sắc tướng dường như có mà không, phải chăng tất cả vạn tượng đều là hiện tướng của bản thể chân như bất diệt giữa dòng đời vô thường biến đổi. Cái tâm hòa cùng vũ trụ vốn vô tướng, bất sinh được Ni trưởng gọi là “kỳ quan của vũ trụ”.

“Kỳ quan của vũ trụ

Ở trong tim mỗi người

Khi quay về nương tựa

Cái tâm Phật bản lai.”

(Kỳ quan- Ngọa bệnh ca 1)

            Thiền sư Ngô Ấn chỉ cho chúng ta bí quyết là dùng cái tâm vô niệm, vô tướng để thể nhập vào chân tánh.

“Chân tánh hư vô khó đến nơi

Chỉ hư tâm đạt đến mà thôi”.

            Còn Ni trưởng, Người đã dùng chỉ và quán đó là khả năng tạo cho đương niệm một cánh cử tự động luôn luôn khép lại trước các đối tượng trong đó có đối tượng phiền não, và thực hiện công phu này đến mức độ phấn khởi, phát sinh hỷ lạc thì đương nhiên các ảnh tượng khách trần không có chỗ đứng trong tâm và nó bị mời ra khỏi đương niệm, ra khỏi căn nhà tâm lý của mình bất cứ lúc nào; dù phải đối duyên xúc cảnh, tâm vẫn an nhiên.

“Như người gỗ ngắm hoa

Như hồ gương chiếu nguyệt

Đá núi cũng xếp hàng

Ngắm kỳ quan diễm tuyệt”.

(Người gỗ- Ngọa bệnh ca 1)

            Sống là sống từng phút giây đổi mới trong hiện tại, sống bằng an lạc của đương niệm, bằng thực tại có thật đang trôi chảy. Con người sống trong thiền định là đi về với con người đích thực, đi ra khỏi những tiếc nuối về quá khứ, những mơ ước tương lai, không bị cuốn trôi bởi dòng thác vọng tưởng hiện tại. Thiền nhân thấy nghe trong suốt bằng hiện lượng:

“Tiếng chim kêu ríu rít

Không gian thoảng hương lài

Đốt lư trầm thanh khiết

Cúng dường chư Như Lai”.

xxx

“Vũ trụ nhiệm mầu này

Sắc, thanh, hương, vị, xúc

Cũng là chân tánh cảnh

Khi chẳng thuộc về ai.”

(Tánh – Ngọa bệnh ca 1)

            Thiền nhân như hoàn toàn trợt khỏi thân xác, luôn cả sự vật và tâm giới chính mình, không có trung gian xen lẫn giữa nội tâm và ngoại cảnh. Từ cái bản vị thanh tịnh, trong suốt, khoáng đạt tuyệt đối này đạo nhân nhìn ra thế giới gọi là nhiều vô số với cỏ hoa, sông núi, muôn vật và sẽ bảo rằng tất cả đều đẹp, đều hài mãn. Trước tiên cần phải chứng nghiệm cái tâm rỗng rang, trong suốt thì tình yêu thiên nhiên với vô vàn sự vật muôn hình muôn vẻ mới bộc phát một cách tự nhiên.

“Mảy trần không dính hư không nọ

Mây tạnh trăng soi sáng một miền”

(Vô niệm – Ngọa bệnh ca 2)

            Với phong thái giải thoát, Ni trưởng nhận thấy thực hữu tràn đầy kia không ở nơi đâu xa xôi và không lúc nào không phải là quê hương thân thiết.

“Hào quang tỏa rạng từ tim ấy

Tịnh độ là đây chẳng phải xa”.

(Vẫn ở nhà- Ngọa bệnh ca 2)

            Chân tâm, pháp giới tánh như lòng mẹ bao la chan  hòa khắp đất trời, về sống với chân tâm là chúng ta về đến nhà hạnh phúc như con cùng mẹ gặp lại nhau (Chân tâm và thân thức). Thể tính của chúng ta vẫn sáng trong, chưa từng bị mê hoặc, chưa từng bị nhiễm ô, chỉ cần quay lại tự tâm là ta có thể làm hiển lộ nó, thể tính bản nhiên, không rơi vào nhị biên, chẳng phải có hoặc không.

“Có cũng không mà không cũng không

Giác mê mê diệt: giác không không

Vì sao thế?

Vì vướng có, khổ đau càng thống thiết

Chấp không, tội nghiệp cũng mênh mông

Ngộ tâm ấy Phật, ly trần cấu

Rừng tía không xa chốn bụi trần”

(Có không mê giác – Ngọa bệnh ca 2)

Giản dị biết dường nào nhưng tại sao chúng ta cứ mãi hì hục tháo gỡ và quét sạch? Vì tất cả khái niệm và sự chấp trước đều không thật, buông bỏ được tức là đã tháo bỏ bức màn che lấp trí quán chiếu vào tận cùng bản chất đời sống và thực tại. Ngày xưa ngài Triệu Châu thường dạy đồ chúng “buông hết đi”, ngài Thạch Sương tổ chức những thiền hội “ngồi như cây khô” nhằm mục đích là đưa học nhân đến tận cùng bờ mé ý thức, khi mà mọi phân biệt so đo toan tính đã chết bặt, tư tưởng lặng dừng.

“Tượng đá ngồi Nam Hải

Nhập thiền không vô biên

Xuất thiền trăng sao nở

Mây vầy hội đào nguyên”.

(Thiền định)

            Bậc triết nhân khi quan sát hiện tượng giới, nhìn cảnh dâu bể đổi thay, nguồn cảm hứng rất khác với thường nhân. Mỗi bài thơ của Ni Trưởng đều sáng ngời đạo tâm, đều hướng đến bản tính chân thật trong mỗi sự vật:

“Mây đi ai biết bao giờ lại?

Xa tắp chân trời dấu nhạn bay?

Ánh lửa về đâu khi diêm tắt?

Ai nghe tiếng vỗ một bàn tay?”

(Công án)

            Mọi rào cản nhân tạo mà con người tạo dựng giữa thiên nhiên, người khác và chính mình cần được dẹp bỏ nhanh chóng nhờ tuệ giác vì chỉ khi nào dẹp sạch hết chúng ta mới nhìn thấy đến tận cùng trái tim sinh lực của con người, của thiên nhiên và cùng chung sống với thiên nhiên và muôn loài. Ni Trưởng đem mắt thương nhìn vào cuộc đời, tấm lòng nhân hậu của Người trải rộng đến bao mảnh đời bất hạnh:

Xót xa, thương cảm người bán bánh mì già yếu giữa ngày Đông giá rét:

“Em nghe chăng mưa đang rưới giọt đồng

Và gió buốt cắt da người lam lũ.”

(Hai cảnh đời)

Thương em bé mồ côi bạc phận:

“Thân em khác gì chim

Lạc đàn tìm tổ ấm

Không bà con thân thích

Lạnh giá trong mồ im”.

(Cánh chim côi – Báo ân ca)

Thương em gái nhỏ tử nạn trong lũ nguồn. Ni trưởng ví em như cánh hoa giạt nguồn tan nát giữa mưa bão rét buốt:

“Ngừng thôi nước ơi

Cho em an nghỉ

Tiễn em dù chỉ

Một vầng trăng soi”.

(Cánh hoa giạt nguồn)

Thương cô gái bán ve chai nghèo khó cần mẫn.Thương em bé quê vừa chăn bò vừa học bài thi, đi học về còn thổi cơm giúp mẹ, cắt cỏ và chở phân, thương nỗi nhọc nhằn vất vả của tuổi thơ ở quê nghèo. Buổi trưa nghe tiếng súc vật kêu mà lòng Người quặn thắt buồn thương. Đi đường gặp xe vận tải chở đầy bò, nhìn đôi mắt u buồn dáo dác của những chú bò sắp vào lò sát sinh, Ni trưởng khởi lòng bi mẫn:

“Các em như Bồ-tát

Xả thân để giúp đời

……………………

Khi tàn hơi kiệt sức

Người đem giết em tôi”.

Đối với các em thiếu nhi bé bỏng, Ni trưởng đã gởi gắm tình thương yêu trìu mến tuổi xanh, qua những “Vần thơ của bé” trong lành, tươi mát, ngọt ngào như dòng suối hiền hòa:

“Quả bóng lửng lơ

Giữa trời xanh mơ

Bé lơi tay nắm

Bóng lên tít mờ

……………….

……………….

Mẹ bồng con ngoan

Bé con sẩy mộng

Thôi đừng khóc nữa

Bóng thật cũng tan”.

(Bóng hạnh phúc)

 

Thương yêu những sinh vật nhỏ bé: như mèo chó bị bỏ hoang đều được Ni trưởng nuôi dưỡng chăm sóc, tưng tiu. Vì cuộc đời đầy dẫy khổ đau nên “đại bi” là diệu dược cứu thoát và xoa dịu nỗi đớn thống của mọi sinh linh:

“Tâm đại bi như hoa

Nở từ chân không tuệ

Đại bi như ánh sáng

Tỏa từ ngọn đèn thiền”

(Hơi thở ca)

      Bi là bàn tay xoa dịu đau thương, là ánh sáng làm cho cuộc đời trở nên có ý nghĩa nhiệm mầu. Trí hay tuệ được mô tả như đôi mắt sáng, như ngọn đèn phản chiếu toàn vũ trụ một cách như thật. Ngọn đèn và ánh sáng không thể phân ly, cũng thế bi và trí là hai khía cạnh của bồ đề tâm.

“Nhưng tuệ giác chân không

Không thấy một hay khác

Mà chan hòa khắp chốn

Ôm vũ trụ vào lòng”.

(Hơi thở ca)

Phát Bồ đề tâm là chúng ta đã nghe được tiếng gọi của “tình yêu nhập thể” và đáp ứng tiếng gọi ấy. Ni trưởng sống tràn đầy niềm thâm tín và thể hiện bồ đề tâm trong suốt cuộc đời tu tập và hành đạo. Người sống hòa hội với thiên nhiên, yêu mến thiên nhiên, xem thiên nhiên như một bằng hữu thân thiết, đầy thiện chí và có sức sống nội tại hoàn toàn y hệt như chính mình, luôn sẵn sàng hòa điệu với nguyện vọng chính đáng. Trong những lúc “dạo vườn” Ni trưởng đã trò chuyện cùng thảo mọc một cách thân thương: Em sen trắng, chị sen hồng, hoa khế, bằng lăng tím, bác tùng, gởi niềm yêu thương đến lá cây, đá cuội, chim hoa, mây gió. Đối với tất cả loài hữu tình, vô tình Ni trưởng đều dành cho con người, thiên nhiên một tấm lòng thương yêu vô tận, dường như Người muốn ôm trọn vũ trụ vào đôi mắt và đáy tim. Có khi Người lại còn hòa nhập vào cánh bướm để lắng nghe kinh:

“Con sẽ làm cánh bướm

Nhiễu quanh tòa Kim Cương

Nghe thầy giảng Bát Nhã

Trong thế giới mười phương.”

(Báo ân ca)

            Cùng hòa tan vào cái nhất thể, bản tánh của chúng ta và thể tánh cảnh giới sự vật đồng là một pháp giới tánh bao la rộng lớn. Khi được hỏi: Thế nào là pháp thân thanh tịnh? Thiền sư Vân Môn đáp: Hoa thược lan. Trước mắt của Vân Môn là hoa thược lan. Vậy thì pháp thân của đời sống là hoa thược lan. Hay là một cánh hoa đỏ của Krishnamurti: “Sáng nay hoa là vĩnh cửu, vượt thời gian và tư tưởng, bao dung tình yêu và niềm vui… hoa sẽ chết đi chiều nay, nhưng ẩn tàng sự sống”.

“Cùng chung sống dưới mái trời xanh

Đầy dẫy quanh ta những phép lành

Chiều xuống toàn hồ hoa xếp cánh

Sáng ra lại nở trước bình min”.

(Phép lạ- Ngọa bệnh ca 2)

Nơi đóa sen Ni Trưởng đã nhìn thấy chiều sâu vô tận cái đẹp huyền ảo của tâm thiền. Cũng giống như hoa thược lan của Vân Môn, hoa sen trên hồ trở nên bao la, che phủ cả không gian, cả thế giới, là pháp thân, là đạo mà vẫn là mình.

“Từng giọt mưa rơi giọt giọt thơ

Từ đầu trút xuống thật bao la

Qua mưa thấy nhiệm mầu hoàn vũ

Tín hiệu từ nơi cõi “mật đa””.

(Mưa- Ngọa bệnh ca 2)

            Mỗi giọt mưa dù nhỏ thế nào đều có trăng sao trong lòng. Chính vì vậy, ta có thể nói cái bao la của giọt nước là cái vô hạn của ánh trăng. Chiều sâu của giọt nước là đỉnh cao của vầng trăng, cũng như chiều sâu của tâm đại bi là đỉnh cao của trí tuệ giải thoát.    Trong kinh Thí dụ vầng trăng (Nguyệt dụ) Đức Phật dạy chúng ta: “Hãy học theo vầng trăng, trăng không hề vướng mắc điều chi. Trăng có không gian vô tận nên trăng tuyệt đẹp và thong dong”.

“Vàng gieo ngấn nước chiếu hà sa

Vô tận kho tàng đấy chẳng xa

Lồng lộng trăng soi trời Bát Nhã

Mang mang sương gội đỉnh Lăng Già”.

(Trăng biển Thổ Châu – Báo ân ca)

            “Nguyệt ấn vạn xuyên” là hình ảnh vầng trăng in bóng khắp muôn sông, trăng tuy có một nhưng lại hiện bóng muôn nơi nên có thể bao hàm vạn tượng. Cùng với muôn dòng nước trăng đi và ta đi. Đi là trở về với vầng trăng trong tâm hồn mình… và bên cạnh chúng ta trái tim trăng sáng của Ni trưởng tỏa rạng hạnh nguyện Phổ Hiền đang chiếu soi từng bước chân đồng tử trên nẻo đường tìm về nguồn mạch tâm linh.

“Vỡ tan bóng hình

Vầng trăng trong nước

Vẫn còn sơ nguyên”. 

 
< Trước   Tiếp >
TRANG WEB GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH BẠC LIÊU Số 170 Bản ra thường kỳ năm 01&15/08/2017 - Phật lịch 2561

Các danh mục khác

Thăm dò ý kiến

Google đánh giá

Google Page Rank
Powered by: Viet IT

Alexa xếp hạng

Statistics

OS: Linux v
PHP: 5.4.45
MySQL: 5.5.47
Thời gian: 02:23
Caching: Enabled
GZIP: Disabled
Thành viên: 5
Tin tức: 4090
Liên kết web: 0

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online