Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow Ý vị Thiền trong thơ Đào Tấn
Ý vị Thiền trong thơ Đào Tấn PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Đình Thu   
27/04/2016

Ý vị Thiền trong thơ Đào Tấn

* Nguyễn Đình Thu

Đào Tấn (1845-1907), tự Chỉ Thúc, hiệu Tô Giang và Mộng Mai, biệt hiệu Tiểu Linh Phong Mai Tăng hay Mai Tăng, người làng Vinh Thạnh, tổng Nhơn Ân, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định (nay là thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, Bình Định), là một nhà văn hóa lớn của thế kỷ XIX đã chứng kiến những năm đầu của thế kỷ XX, được tôn vinh là một trong những vị tổ của ngành sân khấu Việt Nam.


Ông đã sáng tác và hiệu đính gần hai chục vở tuồng, trong đó có những vở đã trở thành kinh điển như San Hậu  Trầm Hương các. Thế nhưng Đào Tấn còn là một nhà thơ với tập Mộng Mai ngâm thảo gồm nhiều bài thơ và từ, tuy bản chính thất lạc nhưng phần lớn đã được sao lục và trong vài chục năm qua đã được phổ biến rộng rãi. Về mặt quan trường, Đào Tấn đỗ cử nhân năm Tự Đức 20 (1867) và trải qua hơn ba mươi năm phục vụ dưới các triều Tự Đức (1848-1883), Đồng Khánh (1886-1888) và Thành Thái (1889-1907) thời nhà Nguyễn, kinh qua các chức vụ Tham tri, Phủ doãn, Tổng đốc, Thượng thư, Hiệp tá Đại học sĩ, Cơ mật viện Đại thần… nghĩa là đã dự vào hàng nhất phẩm triều đình. Sau khi vua Tự Đức mất, trong tình trạng bất ổn ở kinh thành Huế giữa lúc xảy ra vụ phế lập các vị vua Dục Đức (1883), Hiệp Hòa (1883) và Kiến Phúc (1883-1884), ông lấy cớ thọ tang cha bỏ quan về nhà; và dưới triều Hàm Nghi (1884- 1885), có lúc ông đã lánh lên Linh Phong tự (còn gọi là chùa Ông Núi) ở Phù Cát Bình Định để tránh những liên lụy với phong trào Cần Vương.

Bài viết này nhằm trình bày ý vị thiền trong thơ Đào Tấn dựa trên những thi phẩm của ông đã được người sau sao lục.

 

1. Ảnh hưởng Phật giáo đối với Đào Tấn

Theo nhà nghiên cứu Lộc Xuyên Đặng Quý Địch trong tập chuyên khảo về Đào Tấn có tựa “Mai viên cố sự” thì thân mẫu của Đào Tấn vốn là một Phật tử thuần thành, thờ Phật tại nhà, vào những năm cuối đời đã phát nguyện ăn chay trường và đã giữ được đến lúc lâm chung. Dẫn “Tang sự trích biên” của Đào Tấn kể về việc làm đám tang cho mẹ, Lộc Xuyên nhận định, “Bà cụ đã biết dặn con cháu đừng khóc lúc bà mất, mà nên niệm Phật để cầu bà được vãng sinh tịnh độ, chứng tỏ bà đã hiểu thiền lý, thì không phải là hạng Phật tử tầm thường.” [1.126]. Như vậy, mặc dù là một nhà nho, Đào Tấn có thể đã chịu ảnh hưởng Phật giáo từ lúc còn thơ ấu.

Trong “Linh Phong tự ký” được soạn vào lúc ông lánh nạn trên chùa Ông Núi, Đào Tấn tự khẳng định, “Giữa niên hiệu Kiến Phúc – Hàm Nghi, Tấn tôi bỏ quan về nhà ở phía nam Kinh đô, gởi thân nơi cửa Thiền để tránh loạn, kiệu chàm gậy trúc từng qua lại núi này, chùa này. Người xưa một năm ở núi quá nửa, Tấn tôi lúc bấy giờ cũng tương tự như thế”[1, 53]. Đoạn này cho thấy trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở chùa Ông Núi, con người và tâm hồn Đào công đã hòa nhập vào đời sống tu hành hướng tới sự giác ngộ, tiếp cận được những điều vi diệu trong tư tưởng và triết lý nhà Phật. Ngay cả giai đoạn sau này, khi đã xuống núi quay trở lại làm làm quan, tâm hồn ông cũng luôn hướng về Linh Phong tự, về đời sống Phật giáo với bao xúc cảm, rung động Thiền; bằng cớ là vào năm 1895, ông đã vận động trùng tu chùa Ông Núi khi đang là Thượng thư Bộ Công dưới triều Thành Thái.

Qua những biểu hiện trong thơ của Đào Tấn, có thể gọi ông là một Thiền nhân với một cái tâm dù ở đâu thì khi nào cũng luôn hướng đến cõi Thiền.

2. Ý vị Thiền trong thơ Đào Tấn

Trước hết, ta hãy nhìn nhận con người Thiền của Đào Tấn qua đời sống tu hành. Tu hành là phương pháp giúp con người đạt tới chỗ đắc đạo nhằm thoát khỏi tình trạng vô minh, vượt qua bể khổ, luân hồi, nghiệp chướng để được về với cõi Niết-bàn vô sinh, vô diệt. Trong thơ Đào Tấn, đời sống tu hành của tác giả không được hé lộ một cách đầy đủ mà chỉ phảng phất. Ta không bắt gặp trong thơ ông một con người suốt ngày ngồi thiền, tụng kinh niệm Phật. Cũng chẳng bắt gặp một nhà sư giảng đạo cho các đệ tử nghe về thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo qua những bài kệ.

Ở Đào Tấn, ta lại bắt gặp một tu sĩ phóng khoáng, vừa như thực hiện lại vừa như phá bỏ những giới luật nhà Phật. Một mặt, ông khẳng định khả năng học thiền già dặn của mình, cũng ăn chay cho tâm hồn thanh tịnh, mặt khác, lại là một túy nhân với những biểu hiện đời thường vốn có, như trong bài Tặng Mai tăng do chính ông viết để tự tặng mình:

tho va tu 

“Nam quốc Mai Tăng lão học thiền 

Đạm tương tố phỉ tác xuân diên

Túy đồi lạc hạ liên hoa mạo

Bối hậu quần cơ tiếu dục điên”.

(Sãi Mai nước Nam học thiền già dặn / Dưa suông tương nhạt đặt làm tiệc xuân / Say chuệnh choạng làm rơi chiếc mũ cánh sen / Các cô gái nấp sau lưng cười rũ rượi).

Hai câu thơ sau gần như đối lập với hai câu thơ trước khiến người đọc dễ nhầm tưởng đó là bức tranh biếm họa về đời sống tu hành của Mai Tăng. Nhưng không, cần phải hiểu rằng Đào Tấn không tu hành theo lối khổ hạnh, mà tư tưởng của ông ở đây có phong vị Cư trần lạc đạo của Trần Nhân Tông, rằng:

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
 tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.

Nghĩa là sống ở đời cứ tùy duyên mà vui với đạo, đói thì ăn mà mệt thì ngủ, của báu có sẵn trong nhà việc gì phải tìm ở đâu, khi trước cảnh mà không để tâm thì chẳng cần phải hỏi đến thiền. Chẳng những thế, ở một bài thơ khác, bàiTúy hậu, chính thiền nhân Đào Tấn cũng đã thừa nhận về sự “phá giới” của mình sau những cơn say:

“Kim nhật hứng lai câu phá giới
Hoàng hoa ly lạc túy tây phong”.

(Hôm nay hứng đến phá bỏ hết các giới luật / Hoa cúc bên rào rơi ngã vì say gió tây).

Như vậy, cái “lão học thiền” của Mai Tăng đã thể hiện ngay ở cách tu hành theo tinh thần “phá chấp” triệt để, không còn chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt vào giáo lý, kinh điển của Phật, của Tổ. Chỉ có những người học thiền già dặn như Đào Tấn mới nhận ra điều đó và mới có đủ dũng khí để tu như vậy. Cũng Lộc Xuyên Đặng Quí Địch cho biết: Đào Tấn lên Linh Phong tự cũng “không đầu sư”  “đã học Thiền từ cái nguồn kinh sách phong phú” theo kiểu tự tu, tu tại tâm, tu tại gia trong suốt cuộc đời mình [1, 124-126].

Con người thiền Đào Tấn trong thơ thể hiện chủ yếu ở sự giác ngộ, nhận thức được tư tưởng, triết lý nhà Phật. Trong thơ Thiền của mình, tác giả dùng không ít những phạm trù, thuật ngữ, những hình ảnh, âm thanh của đời sống Phật giáo để nói lên tư tưởng, triết lý nhà Phật như: “Thiền cơ”, “vô”, “hữu”, “dục”, “an bài”, “phúc”, “không”, “độc tọa”, “vô ngôn”, “nhơn”, “tự tại”, “Di- lặc”, “chung”, “chung thanh”, “tự”, “tự môn”… Tuy nhiên, Mai Tăng không chủ trương thuyết pháp, giảng đạo cho người khác như những vị thiền sư mà nghiêng về hướng giác ngộ, nhận thức cho chính mình. Ông nhận thức được cái nội lực phi thường “nhất tiếu không” mà một mình sắp đặt mọi việc của Phật Di-lặc trong bài thơ Dạ du Di Lặc điện ngẫu hứng khi nửa đêm đến thăm điện thờ Phật Di-lặc:

“Di Lặc nguyên lai bản đại hùng
Lãn tàn cao cứ Phạn vương cung
Cổ kim quân độc an bài đắc
Thương hải phù vân nhất tiếu không”.

(Di-lặc vốn là một vị bồ-tát rất dũng mãnh / Lười nhác ngồi chễm chệ nơi cung Phạn vương / Ông riêng xếp đặt việc xưa nay / Chuyện biển xanh và mây nổi thì chỉ một tiếng cười không).

Chính cái cười của Di-lặc trước “biển xanh và mây nổi” là dũng khí của kẻ tu hành, “vô úy” – không sợ trước mọi đổi thay, thăng trầm, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, như Vạn Hạnh từng nói với đệ tử:

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
”.

Còn sự “lười nhác” kia đâu phải là thói xấu, đó là cái tâm của kẻ tu hành không vướng bận, không can thiệp vào việc đời, phần nào giống với tinh thần “vô vi” của Đạo giáo. Trong bài “Tự Phật”, ngay ở nhan đề, tác giả đã nhận thức được cái cốt lõi của quan niệm về Phật. Ai tu hành cũng mong muốn thành Phật. Nhưng Phật ở đâu? Phật không ở trong kinh kệ mà tụng niệm, cũng chẳng ở thế giới Tây phương cực lạc mà đi tìm, “Phật ở mình”, trong lòng mình, là chính mình. Với hình thức đối đáp tự nhiên, có khả năng khắc sâu vào tâm trí người đọc, thông qua hình tượng hóa thân Di-lặc, tác giả đã trình bày kiến giải về cái thể và cái tướng của Phật tính:

“Hòa nam khấu thỉnh Di-lặc Phật
Phúc như hứa đại tàng hà vật
Tiếu vân trung hữu nhất đoàn băng
Chỉ thị không không vô xứ ngật”.

(Kính cẩn xin hỏi Phật Di-lặc / Trong bụng chứa vật gì mà to thế? / Cười đáp: trong ấy có một khối băng / Chả ăn gì cả, chỉ là trống rỗng).

Cái thể trong suốt như băng và cái tướng to lớn bên trong “trống rỗng” chính là cái chân như, Phật tính, là cõi Niết-bàn. Đó là biểu tượng cho thế giới siêu hiện thực vô sinh vô diệt, vô thủy vô chung tồn tại trong tâm tưởng của người đã thành Phật. Tác giả còn thấy được cái chân như ở hình ảnh nước suối như trong bài thơ đề trên vách đá chùa Ông Núi mà thi sĩ Quách Tấn đã sưu tầm được: Thanh tuyền tế ẩm chân tri sự (Nhấm ngụm nước suối trong thấu hiểu mùi đạo chân như) hay ở hình ảnh Khả ái Sơn Ông vô sở hữu (Ông núi đáng yêu không của cải) trong bài thơ Phỏng Linh Phong tự quy châu phong vũ đại tác được ông sáng tác sau khi đi thăm Linh Phong tự trở về bằng thuyền mà gặp lúc mưa to gió lớn. Không dừng lại ở đấy, thiền nhân còn bàn đến chuyện nhân duyên, đến lòng từ bi, đến nỗi bi ai của phận người. Duyên hay nhân duyên là khái niệm chỉ mối quan hệ nhân quả nhằm giải thích cho khổ đế và tập đế của đạo Phật. Tác giả không chỉ trò chuyện về nhân duyên: “Nhất dạ thiền phòng thoại cựu nhơn” như trong bài thơ Du Ngũ Hành sơn mà còn nói về nhân duyên như trong bài thơ đề trên vách đá chùa Ông Núi dẫn trên “Ngẫu tùy ngâm tuyết khấu đàn thiền” (Ngẫu nhiên vừa ngâm vịnh về tuyết vừa lạy trước đàn thiền). Đào tiên sinh nhận ra “Phong trầnkhông mãn y” (Bụi đời luống phủ đầy áo) trong bài thơ đề sau bức ảnh có tựa là Mai Tăng tiểu chiếu cũng là nhận ra tấm thân khốn khổ, bụi bặm của những kiếp người sau những năm tháng mưu sinh, vật lộn. Vì lo toan, tính toán mà rốt cuộc còn lại chỉ là mái đầu tóc bạc, được ông cảm thán “Lưỡng cá thanh xuân các bạch đầu” (Hai kẻ thanh xuân giờ đây đầu đều đã bạc) khi cùng với phu nhân đến thăm Diệc Cổ tùng lâm ở Nghệ An vào đêm lễ đàn xã tắc trong bài thơ Hoa triêu dạ dữ nội hữu Diêu Tiên khanh du Diệc Cổ tự. Nhận thức về nỗi khổ của con người nói chung và của chính mình nói riêng dẫn đến nhận thức về thay đổi đã được ông thể hiện bằng câu “Ưu thiên mấn dĩ ban” (Lo chuyện không đâu tóc cứ bạc dần) trong bài thơ Cửu nhật. Và từ đáy lòng sâu thẳm, con người thiền của tác giả đã toát lên tình thương, lòng từ bi, tinh thần cứu khổ cứu nạn theo tư tưởng Phật giáo; tinh thần đó không chỉ biểu hiện ở mong muốn dùng 108 tiếng chuông tượng trưng cho sự giải thoát 108 sự phiền não trong thế gian, thể hiện trong câu thơ“Bách bát chung thanh khước thụ điên” (Một trăm lẻ tám tiếng chuông vang động tận đọt cây), mà còn thấy rằng mình vốn là kẻ sĩ hiền lành, cũng nên vào trọn cửa Phật, rằng “Giai sĩ từ bi ninh thị Phật” (Kẻ sĩ cao khiết có lòng từ bi thà là Phật thiệt) khi viết lên vách đá chùa Ông Núi. Về cuối đời, ông còn nhận thấy cuộc đời làm quan của mình chỉ như giấc mộng, phần nào thấy được cái hư huyễn của cuộc đời, của thân xác như Vạn Hạnh đã nói trong bài kệ bảo đệ tử:“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô”. Như vậy, đi từ nhận thức cho tới tự nhận thức, Đào Tấn đã đề cập đến nhiều phương diện tư tưởng và triết lý của Phật giáo.

Đi sâu vào mảng thơ thiền của Đào Tấn, ta còn thấy những cảm xúc, rung động, những cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống đượm màu sắc thiền, lúc ẩn lúc hiện. Nhìn thấy hòn đá nhỏ xinh đẹp, ông đưa nó về làm bạn:

“Ngẫu quá Vân quan đắc hảo thạch
Huề lai tiểu ốc bạn thư vi”.

(Qua cửa ải Hải Vân tình cờ nhặt được viên đá đẹp / Đem về ngôi nhà nhỏ cho nó làm bạn với sách phòng văn – Đắc thạch).

Cử chỉ đó xuất phát từ cảm xúc nhân văn, từ cái nhìn bình đẳng vô biệt, yêu thương đến cả những sinh linh nhỏ bé, những vật vô tri vô giác của thiền nhân. Những người phàm phu tục tử sao có được những cảm xúc, cử chỉ như vậy? Thế giới thơ thiền Đào Tấn còn phủ một cảm xúc miên man, mông lung, đứt nối của người, của cảnh rất khó nắm bắt. Đó là cảm giác man mác về thời gian trong một đêm mưa gió, khi “Hai kẻ thanh xuân giờ đây đầu đều đã bạc”. Là cõi hoài niệm về một khách giang hồ bao năm chưa có dịp về lại ngôi chùa cũ hay một ông quan ngất ngưởng cưỡi bò vàng với cốt cách và không khí thực hư như Lão Đam cưỡi trâu trong truyền thuyết:

Hoàng độc thi nhân kim bất tại
Dữ quân thùy phục đính tao phùng
”.

(Nhà thơ cưỡi bò vàng nay không còn nữa / Hỏi ai là kẻ trở lại để cùng người hẹn cuộc tao phùng – Vãng đăng Hồng sơn phỏng Thiên Tượng phế tự xuất sơn hữu tác).

Con mắt thiền nhân đã khiến những bức tranh thiên nhiên trong thơ ông cũng mang đậm màu sắc thiền. Thơ thiền thường có những bức tranh thiên nhiên mơ hồ, huyền ảo. Đào Tấn cũng hay lựa chọn chất liệu “khói”, “mây”, “ráng chiều” để làm cho bức tranh nhạt nhòa, mờ ảo như đi vào cõi hư vô của Thiền: “Lạp trượng vân yên đệ kỷ trùng” (Chống gậy vượt lên mấy tầng mây khói – Vãng đăng Hồng sơn phỏng Thiên Tượng phế tự xuất sơn hữu tác). Ở đấy, ta bắt gặp Đào Tấn như một tiên ông đang du ngoạn cảnh tiên trên thiên đường mịt mù mây khói, con người như vô ý, quên đi thực tại hiện hữu để hợp nhất với thiên nhiên vào cõi vô cùng vô tận. Một tiếng chuông ngân mang mang trong đêm trăng mờ cũng là một không gian huyền diệu mang màu sắc thiền mà Đào công nắm bắt được:

Khiêm lăng tây lộ nguyệt hoàng hôn
Tùy trứ chung thanh khấu tự môn
”.

(Đường phía tây Khiêm lăng ánh trăng nhòa nhạt Lần theo tiếng chuông ngân đến gõ cửa chùa – Dạ quá Hòa Quang tự ngẫu chiếm).

Cảnh mưa gió mịt mù phủ kín lối về của con thuyền trên sông nước vừa như thực vừa như ảo quả là một bức tranh tuyệt diệu:

Khả ái Sơn Ông vô sở hữu
Chỉ>tương phong vũ tống quy châu
”.

(Đáng yêu thay Ông Núi chẳng có gì cả / Chỉ đem gió mưa mà tiễn thuyền sư trở về – Phỏng Linh Phong tự quy châu phong vũ đại tác).

Trong thơ thiền Đào Tấn có những bài chỉ có tác giả đối diện với cảnh trên núi cao như núi Hồng, núi Ông. Cảnh vật ở những nơi ấy không chỉ đẹp mà còn vắng lặng, thanh tịnh đến bất ngờ. Còn gì thanh tịnh hơn khi một mình lên ngôi chùa hoang trên đỉnh núi Hồng với:

“Cội hàn tùng lẻ loi tựa lưng ngôi chùa đổ
Khối đá im lìm nằm giữ lấy chuông hư”.

(Vãng đăng Hồng sơn phỏng Thiên Tượng phế tự xuất sơn hữu tác).

Ở bức tranh vắng lặng ấy, hình ảnh ngôi chùa, cây tùng, phiến đá như những sinh thể sống hiện lên thật hồn nhiên, tự nhiên. Phật giáo phủ định tư duy lý tính, suy luận mà đề cao trực giác, trực cảm. Vì thế, cảnh vật hiện lên trong con mắt thiền nhân thường bất ngờ nắm bắt được trong cuộc sống với dáng vẻ tự nhiên, trong trẻo nhất. Hình ảnh “Bích vân hương thảo mãn Tàng Chân” (Cỏ thơm mây biếc phủ đầy động Tàng Chân – Du Ngũ Hành sơn) cũng là một trong nhiều bức tranh thiên nhiên mang dáng vẻ tự nhiên, trong trẻo của Thiền.

Ở Đào Tấn, dù ẩn tu hay xuống núi làm quan, tác giả đều có sự thống nhất ở một tấm lòng, một tâm hồn luôn hướng đến Phật, luôn quan tâm đến các chùa chiền, nhà sư; lấy sự thăm viếng, trò chuyện chốn thiền môn làm niềm vui để quên đi mọi phiền muộn, tuế toái của cuộc đời.

Chỉ có hơn chục bài thơ Thiền mà tác giả nhắc đến rất nhiều tên chùa, điện, động – nơi tác giả trực tiếp đặt chân tới thăm viếng: chùa Linh Phong (Ông Núi), chùa Hòa Quang, chùa Diệc Cổ, chùa Thiên Tượng, điện Di Lặc, động Tàng Chân… Có lúc, tác giả một mình đi du ngoạn cảnh chùa, đôi khi lại cùng nội hữu là phu nhân Diêu Tiên đến thăm lại chùa cũ như một chứng tích về tuổi thanh xuân của mình. Mỗi khi rảnh không có việc gì làm hay buồn phiền vì chuyện quan trường, tác giả lại mượn cớ đến thăm các sư:

Độc tọa hàn nha vô nhất sự
Tiếu tương sơn mính tặng sơn tăng”.

(Một mình ngồi ở cửa quan khốn khổ không việc gì làm / Bèn đem trà núi tặng cho nhà sư ở núi, buồn cười thật! – Tặng tăng).

Để được trò chuyện (Nhất dạ thiền phòng thoại cựu nhơn  Du Ngũ Hành sơn). Đặc biệt suốt cuộc đời của mình, ngoài nỗi hoài hương, ông còn nhớ đến Linh Phong tự như một nỗi niềm khắc khoải, mong đợi:

Ưu thiên mấn dĩ ban
Linh >Phong hồi thủ xứ”.

(Lo chuyện không đâu tóc cứ bạc dần / Chùa Linh Phong là nơi ngoảnh đầu lại – Cửu nhật).

3Kết luận

Đạo Phật do có nhiều điểm tương đồng với tâm thức, truyền thống của người Việt nên đã sớm được nhân dân ta đón nhận. Dù có lúc thăng trầm song một dòng chảy văn học mang âm hưởng Thiền vẫn chưa hề đứt đoạn. Đối với Đào Tấn, dù không xuống tóc đi tu nhưng qua thơ ta thấy được từ đời sống đến nhận thức tác giả đều chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiền tông. Chính chất Thiền trong con người Đào Tấn đã góp phần làm cho một trọng quan triều đình mà lại rất gần gũi với nhân dân, sống nhân ái chan hòa, thấu hiểu được thế thái nhân tình trong xã hội ba đào đầy biến động. ■

 

Tài liệu tham khảo:

[1] L. X. Đ. Q. Địch, Mai viên cố sự, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, (2005).

[2] Nhiều tác giả, Đào Tấn nhà thơ nghệ sĩ tuồng xuất sắc, Ty Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình, (1978).

[3] Nhiều tác giả, Đào Tấn trăm năm nhìn lại, NXB Hội Nhà Văn, (2008).

[4] V. N. Liễn (chủ biên), Thư mục – Tư liệu về Đào Tấn, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nghĩa Bình – Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình – Nhà hát tuồng Nghĩa Bình, (1985).

[5] V. N. Liễn (biên khảo), Đào Tấn thơ và từ, NXB Sân Khấu, Hà Nội, (2003).

[6] T. N. Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam (tái bản lần thứ 2), NXB Giáo Dục, TP.HCM, (1999).  

 
< Trước   Tiếp >
TRANG WEB GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH BẠC LIÊU Số 166 Bản ra thường kỳ năm 01/02/2017 - Phật lịch 2560

Các danh mục khác

Thăm dò ý kiến

Google đánh giá

Google Page Rank
Powered by: Viet IT

Alexa xếp hạng

Statistics

OS: Linux v
PHP: 5.4.45
MySQL: 5.5.47
Thời gian: 05:38
Caching: Enabled
GZIP: Disabled
Thành viên: 5
Tin tức: 4014
Liên kết web: 0

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online