Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow PHẬT GIÁO NƯỚC ĐỨC (Thích Nữ Diệu Thuận)
PHẬT GIÁO NƯỚC ĐỨC (Thích Nữ Diệu Thuận) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
14/12/2008

PHẬT GIÁO NƯỚC ĐỨC

* Thích Nữ Diệu Thuận

Trong những thập niên gần đây, Phật giáo đã trở nên phổ biến ở quốc gia này, nhiều người đã quy y và nhiều người khác đã xuất gia tu học và làm công tác truyền giáo. Tuy nhiên, lịch sử Phật giáo tại Đức vẫn còn rất mới mẻ. Thế kỷ thứ 19 là mốc thời gian có thể đó là lúc Phật giáo được truyền vào châu Âu qua các bài báo của người du lịch và nhân viên thuộc địa đang làm việc tại Á châu. Giới triết gia, nghệ sĩ và trí thức Đức là những người đầu tiên quan tâm đến tôn giáo mới này. Điều đó không có gì phải ngạc nhiên, vì nước Đức vốn đã nổi tiếng trên thế giới như là một quốc gia của các đại thi hào và triết gia lừng danh như Kant, Schopenhauer, Herder, Hegel, Nietzche, Goethe, Schilla, Hessa... là những con người được khâm phục và nể vì trên khắp thế giới.

I. ĐÔI NÉT VỀ ĐỨC VÀ NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬC CỦA ĐẤT NƯỚC NÀY.

1. Đôi nét về Đức.

Đức ( Germany), là một quốc gia ở Trung Âu. Sau đại chiến thế giới thứ hai, Đức bị chia làm hai nước: Cộng hòa Dân chủ Đức ở phía Đông và Cộng hòa Liên bang Đức ở phía Tây. Hiện nay, Đức đã thống nhất thành một quốc gia với dân số 80 triệu người và diện tích 356.000 km2. Mật độ dân cư : 217,2 người/km2; tuổi thọ trung bình 76; tử suất trẻ em: 8%; thu nhập bình quân đầu người: 24.000 đô la.

2. Những điểm nổi bậc của đất  nước này.

2.1. Con Đường Tơ Lựa Silk- Road.

Vào những năm đầu của thập niên có một đường được hình thành xuyên qua hai nền văn minh Âu-Á, đó chính là “con đường tơ lụa”. Ơ Trung Quốc hơn 2000 năm trước đây, nghề trồng dâu nuôi tằm và dệt tơ lụa rồi mang bán sang các nước Tây vực. Sau nhà Hán, Tây vực là một lãnh thổ rộng lớn nằm ở phía tây Ngọc Môn Quan và Dương Quan bao gồm miền Trung và Tây Á, bán đảo Ấn Độ, miền Đông Âu và miền Bắc Phi…. Năm 139 và năm 119 BC, Hán Võ Đế đã hai lần sai Trương Hiên đi sứ sang Tây Vức. Trương Hiên cùng đoàn tùy tùng vượt qua Thông Lĩnh đến các vùng Đại Uyển, Khang Cư, Đại Hạ, Iran, Irắc, vùng sông Amua… từ đó xuất hiện một con đường rất xa xưa, phía Đông bắt đầu từ thành Trường An. Trung Quốc chạy về phía Tây đến La Mã ở châu Âu. Các sứ giả và thương nhân phương Đông và phương Tây cưỡi những con lạc đà, được gọi tượng trưng là “Thuyền sa mạc”, vượt vùng xa mạc Goobi mênh mông, họ đi trên con đường buôn bán trên con đường chạy dài 7000km này. Theo con đường này, hàng hóa xa xưa của Trung Quốc như tơ lụa, đồ dùng bằng sắt, kỹ thuật đào giếng, kỹ thuật làm giấy đã chuyển sang Tây vực một số lượng rất lớn, ngược lại nho, ngựa, nhạc khí của Tây vực, Phật giáo Ấn Độ, Đạo Hồi…. Cũng theo con đường này mà truyền về hướng đông tràn vào Trung Quốc về phía Tây Afganistan, Iran, Irắc, Ai Cập, Hy Lạp… khoảng hơn 1000 năm từ Tây Hán đến Tùy Đường thì “con đường tơ lụa” đã trở thành một con đường quan trọng nối liền phương đông và phương Tây.

Con đường tơ lụa hiển nhiên trở thành chiếc cầu nối hai phương Đông – Tây, chính con đường này dẫn đến những cuộc giao lưu về kinh tế, văn hóa, chính trị giữa Trung Quốc và phương Tây. Con đường này thay đổi theo thời gian nhưng hướng bắt đầu vẫn ở Trường An Trung Quốc đi qua lưu vực sông Vị, xuyên qua hành lang Hà Tây… vượt qua Thông Lĩnh qua vùng Trung Á, Tây Á đến tận bờ phía Đông của Địa Trung Hải. Ngày nay nếu chúng ta đi dọc theo con đường tơ lụa ngày xưa, dù gió cát bụi thời gian đã xóa nhòa tất cả nhưng vẫn còn vươn vãi lại một vài tàn tích, cho chúng ta thấy được những đóa hoa rực rỡ của nền văn minh cổ đại.

2.2. Berlin- Thành Phố “Gấu”.

Như chúng ta biết Berlin là một thủ đô lớn của nước Đức. Berlin bắt đầu có tên trong sách sử vào năm 1244, lúc đó chỉ là một thị trấn nhỏ bên bờ sông Spree. Năm 1701 quốc vương Phổ đời thứ III, Prederick lấy Berlin làm kinh thành, từ đó về sau Berlin nhanh chóng phát triển thành trung tâm giao thông của Đức quốc.

Huy hiệu của Berlin là hình ảnh một con Gấu đen đứng dang hai chân trên một chiếc huy chương màu trắng, nó cũng được gọi là Béc-Lin, là thủ đô cũng là Thành phố lớn nhất của Đức, ngoài ra Berlin cũng là một tiểu bang của liên bang Đức. Với diện tích 883km2 dân số là 341 vạn người.

Berlin còn có biệt danh là “Thủ đô của rừng cây và ao hồ” vì thế làm cho thành phố Berlin trở nên đẹp đẻ lạ thường. Ơ đây còn có cổng Brandenburg được xem là biểu tượng của thành phố Berlin, nó nằm ở khu trung tâm thành phố, đây là một tòa kiến trúc mô phỏng theo kiểu Athen của Hy Lạp cổ, nó đánh dấu sự đấu tranh giành chiến thắng của quốc vương Prussia sau 7 năm, và thống nhất đất nước. Và bên cạnh đó tòa nhà Hội nghị cũng được xây lên vào năm 1957, có thể xem là công trình tiêu biểu cho kiến trúc hiện đại của Thành phố Berlin.

Trong thành còn có một kỳ quan khác đáng chú ý nữa đó là Bức tường thành Berlin, tường cao 3,5 – 4m có màu trắng, là kết cấu của những tấm xi măng và đá, bên trên là những ống xi măng hình tròn nhằm ngăn chặn việc lèo trèo. Dưới chân tường lắp đặt nhiều chông sắt và sắt nhọn, dưới đất lại ngầm lắp các thiết bị kim loại làm cho những kẻ muốn đào địa đạo cũng không thể dễ dàng tiến hành được. Ngoài ra còn có các đài quan sát, lưới dây thép, lôcốt, chốt chó nghiệp vụ, hào chống xe, hàng rào sắt khi đụng vào sẽ phát tín hiệu và nhiều đội tuần tra cảnh giới… chi phí xây dựng là hơn một tỷ đô la. Nó là bức tường ngăn chia đất nước Đức làm hai Đông và Tây, đến năm 1990 nước Đức được thống nhất bức tường bị phá bỏ chỉ chừa lại một đoạn để khách tham quan viếng thăm.

Thành phố Berlin hiện nay là thành phố công nghiệp chủ yếu của Đức. quan trọng nhất là ngành cơ khí, ngoài ra còn nhiều ngành khác cũng không kém phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đức.

2.3. Murnich- Thành Phố “Bia”.

Munich nằm nắp mình dưới chân Dy-ni-alps ở miền nam nước Đức, có bề dày lịch sử gần 900 năm (được xây dựng từ năm 1158), là thành phố lớn thứ ba của Đức (sau Berlin và Hamburg), nổi tiếng với những công trình kiến trúc cổ, những đại lộ lớn, đặc biệt là lễ hội bia Oktoberfest có từ gần 200 năm qua, xuất phát từ hôn lễ của hoàng tử Ludwig đệ I bang Bavaria và công chúa Therese xứ Saxony năm 1810. Cho đến nay nó trở thành truyền thống hằng năm.

Munich là một thành phố đa văn hóa với 46 bảo tàng và nhà triển lãm nghệ thuật, hơn 50 nhà hát và khán phòng biểu diễn kịch nghệ. Chỉ riêng Bảo tàng Mỹ thuật Đức mỗi năm đã đón 1,4 triệu lượt người tham quan, hơn cả dân số của Munich (1,3 triệu người). Cái tên “ Munich” bắt nguồn từ các vị tăng lữ. Đó là lý do tại sao ấn triện đầu tiên của thành phố có hình ông thầy tu khoác áo chùng đen. Các nhà thờ cổ vẫn là tiêu điểm tham quan của thành phố này. Nhà thờ Đức Bà với kiến trúc hai chóp củ hành độc đáo trở thành một trong những biểu tượng của thành phố. Tọa lạc giữa quảng trường trung tâm, tòa thị chính Munich xây dựng từ năm 1867 -1909 theo phong cách Gothic là công trình mà ai cũng muốn nhìn tận mắt bởi vẻ uy nghi của nó.

Trong lịch sử cận đại, tên Munich luôn gắn chặt với Hittle, chính đảng Nazi được ra đời ở đây. Nơi mà diễn ra biết bao tội ác nhắc đến lòng người còn oán hận, hiện nay nơi này có xây một bia kỷ niệm nhắc nhở mọi người thảm kịch này sẽ không bao giời xuất hiện nữa. Cho đến thế chiến thứ II, Munich bị tàn phá nặng nề từ một thành phố xinh đẹp trở thành hoang tàn đổ nát, những kiến trúc chúng ta thấy hiện nay đều là được trùng tu lại. Sau chiến tranh kết thúc, trong quá trình phát triển mạnh mẽ kinh tế của Đức, thành phố Munich lại trở nên tràn đầy sức sống.

Nét đặt biệt là khắp trên thế giới duy chỉ có nước Đức là có trường đào tạo các bậc về chế biến bia, cho đến cao nhất là Tiến sĩ, Đại học này được đặt tại Munich. Chính nơi đây sản xuất một lượng bia rất lớn nhất là vào những ngày của lễ hội bia.

2.4. Ruhr- Trung Tâm Kinh Tế Lớn Của Đức.

Khu Ruhr ở phía Tây nước Đức với diện tích 4.970km2 bằng ¼ diện tích cả nước. Tài nguyên trong khu Ruhr hết sức phong phú với trữ lượng than khổng lồ 2190 tỷ tấn, trong độ sâu 1200m dưới lòng đất. Chiếm 95% tổng trữ lượng than đá toàn quốc, ngoài ra Ruhr có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi, nó nằm ở trung tâm của Châu Âu cách các khu kinh tế chủ chốt của Châu Âu không xa lắm, rất thuận tiện cho việc qua lại.

Khu Ruhr của Đức không phải là nơi mà mọi người trên thế giới đều biết nhưng nó cũng không phải xa lạ gì bởi nó có ảnh hưởng rất lớn đối với sự sinh tồn của nước Đức và nền kinh tế thế giới hơn 100 năm qua. Sự phát triển của khu Ruhr có tác dụng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng công nghiệp của Đức ngày một mạnh mẽ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nó có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phục hồi kinh tế và những phát triển của Liên bang Đức. Công nghiệp than và công nghiệp gang thép của Ruhr còn có ý nghĩa toàn cầu.

Ngày nay, Ruhr có các nghành công nghiệp mới đang từng bước phát triển và thay cho các ngành công nghiệp truyền thống. Trong khu Ruhr có nhiều công viên nhà nghỉ được xây dựng, rừng và công viên ở đây chiếm 70%, chính sự xanh tươi mát mẻ của cây cỏ, hoa lá đã góp phần tạo nên sức sống tràn trề của Ruhr dù nó là một khu công nghiệp nổi tiếng nhưng lại không bị ô nhiểm, đây là một vấn đề tốt đẹp mà các nước cần phải nghiên cứu và học hỏi.

II. PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO NƯỚC ĐỨC

1. Phật Giáo Tại Đức Thời Trung Đại.

Phật giáo tại Đức vào thời Trung đại cũng đã có sự phát triển, khởi đầu từ những người Châu Âu thuộc nước Hy Lạp, chính họ là những người biết đến Phật giáo đầu tiên ở phía Tây ấy. Từ cuộc viễn chinh của Đại đế Alexander kéo dài đến nay đã bao thế kỷ, người của đạo Thiên chúa gọi nhầm những ngôi tháp của Phật giáo là Kim tự tháp. Ỏ Đức còn có những tác phẩm về Phật giáo rất sớm nhưng phần lớn đến nay đều bị thất lạc.

Qua tìm hiểu và nghiên cứu chúng ta thấy rằng Đạo Phật đến với Đức quốc qua con đường văn học suốt trong thời Trung đại, về những kiến thức về Phật giáo có mặt ở Đức qua những tác phẩm của Marco Polo (1256 – 1323), và những nhà du hành thế giới khác đã viếng thăm các nước Châu Á. Tuy lúc đầu họ có những suy nghĩ và hiểu biết về đạo Phật hết sức lệch lạc nhưng tri qua một thời gian dài biến đổi thì sự hiểu biết về Phật giáo của họ cũng được trưởng thành theo thời gian, họ có cái nhìn đúng đắn hơn về đức Phật. Và Kant một nhà triết học vĩ đại của Đức cũng nhận thức được rằng người Phật tử không tin đấng sáng tạo, người có quyền thưởng phạt sống chết, buồn vui cho con người. Ông ấy viết: “người Phật giáo phủ nhận uy thế của thần thánh và dạy rằng hạnh phúc hay khổ đau đều do chính chúng ta tạo ra”.

2. Phật Giáo Tại Đức Thời Cận Đại và Hiện Tại.

Chính vào những giai đoạn xáo trộn như hiện nay, con  người phân vân trước cuộc sống bao nhiêu thì nhu cầu xét lại gốc rễ nguồn căn làm cơ sở cho hành vi ứng xử của mình, của xã hội lại cũng bức thiết bấy nhiêu. Phật giáo là một trong số không nhiều lắm truyền thống đã làm gốc rễ văn hóa cho nảy nở nhiều nền văn minh của một bộ phận rộng lớn nhân loại. Trong chính lúc dân tộc Đức bước vào một giai đoạn quyết định cho vận mạng của mình, xét lại một yếu tố căn bản của truyền thống dân tộc như Phật giáo trước thách thức của thời đại là một việc không tránh né được.

Sự thừa nhận và cho phép Phật giáo được truyền trong đời sống tinh thần của người Đức có lẽ là công lao rất lớn của những nhà tư tưởng như Herder, Kant và Hegel, cho dù các vị này đã dành nhiều thời gian cho các tôn giáo khác và triết học Ấn, nhưng hiểu biết của các vị này về Phật giáo cũng không tệ, các tôn giáo khác thì được ví như “thuốc phiện” nhưng riêng Phật giáo thì được Hegel giới thiệu như một tôn giáo “dẫn đường”. Gần đây Phật giáo đã trở nên phổ biến ở quốc gia này, nhiều người đã quy y và xuất gia tu học cùng làm công tác truyền giáo. Tuy nhiên, lịch sử Phật giáo tại Đức vẫn còn rất mới mẻ, Phật giáo được truyền vào Châu Âu qua các bài báo của các người du lịch và nhân viên thuộc địa đang làm việc ở Á Châu. Giới triết gia, nghệ sĩ và trí thức Đức là những người đầu tiên quan tâm đến tôn giáo mới này. Và vào năm 1903 tại thành phố Leipzig đó là hội Phật giáo Đức và liên tiếp theo sau đó có nhiều hội Phật giáo khác cũng được thành lập và phát triển làm Phật giáo ở Đức ngày một lớn mạnh, nhưng đến 1933 đến 1945 dưới sự thống trị của Nazi thì cc hội đoàn Phật giáo đều bị cấm hoạt động, đến thời kỳ hậu chiến, có nhiều tổ chức Phật giáo ra đời. Vào thế kỷ 19 thông qua triết thuyết của Arthur Schopenhauer, một triết gia người Đức đã làm cho tư tưởng của Phật giáo ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Đức, qua tác phẩm: “Thế giới là ý chí v biểu tượng”, và các Tạp chí tiếng Đức như: “Liên Hoa”, “ Những người thời hiện đại”  của Giáo Hội Phật Giáo Đức nhưng đáng kể đến nhất là Herman Olderberg người đầu tiên viết về lịch sử truyền đạo  của Đức Phật Thích Ca cho thế giới Phương Tây với tựa đề: “Đức Phật – Cuộc Đời, Lời Dạy và Giáo Đoàn của Ngài” xuất bản năm 1881. Viết quyển sách này ông muốn bác bỏ luận thuyết sai lầm của một học giả nào đó có ý cho rằng, một người được lịch sử gán cho một danh hiệu nổi tiếng “Buddha” chưa bao giờ hiện hữu trên cõi đời này. Vị đó cho rằng: “Đức Phật chỉ là một nhân biểu trưng của Phật giáo. Trong khi đánh đổ luận thuyết đó, ông Oldenberg đã đưa ra nhiều chứng cứ lịch sử về cuộc đời Đức Phật lịch sử chứ không phải là một Đức Phật huyền thoại. Quyển sách đã nhanh chóng nổi tiếng và phổ biến khắp nước Đức. Đến nay, quyển sách đã tái bản hơn 14 lần và danh hiệu “ Gotama Buddha” rất quen thuộc với người dân Châu Âu ngay từ lúc ấy. Có thể nói rằng, ông Oldenberg đã khơi dậy sự quan tâm đến Phật giáo của các học giả phương Tây đối với những bộ kinh thuộc hệ Nikaya.

Giới trẻ Đức cũng trở về với Phật giáo qua tác phẩm nổi tiếng “Siddarta” của Herman Hess (1877-1962), một nhà thơ, nhà văn từng đoạt giải Nobel văn chương năm 1946. Sau khi nghiên cứu về Tin Lành giáo. Herman Hess bắt đầu tiếp xúc Phật giáo và triết học Ấn, chẳng bao lâu ông đã bị chinh phục bởi thuyết giáo này. Ông nghiên cứu Phật giáo và văn hóa Á Đông qua ba lần viếng thăm Sri Lanka Indonesia vào năm 1911. Kết quả của những công trình nghin cứu đó đã giúp ông cho ra đời cuốc “Siddarta”, xuất bản năm 1922 và nó đã nhanh chóng chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

 3. Các Tổ Chức Truyền Bá Phật Giáo Tại Đức

Về mặt truyền giáo, tại Đức có phần hơn các quốc gia láng giềng, điều đó rất cần thiết để phân biệt về các tổ chức truyền bá Phật giáo từ sự phân phối tự nhiên của nền triết học Phật giáo và các hình thức tu tập thiền. Hội Phật giáo đầu tiên được thành lập tại Đức vào năm 1903 tại thành phố Leipzig, đó là Giáo hội Phật giáo Đức (Deutsche Buddhistische Union) do đạo hữu Kant Seidenstuker (1876-1936) sáng lập và lãnh đạo. Hội đoàn này, không phải thuần là một đoàn thể của cộng đồng Phật tử Đức, mà chỉ là một tổ chức cung cấp giáo lý Phật giáo cho giới trí thức Đức. Vì mục đích này mà Hội đã thành lập một nhà in tại Leipzig và cho phát hành một tờ tạp chí có tên là Buddhistische (Phật giáo) để phổ biến chủ trương và quan điểm của mình. Sau thế chiến thứ nhất (1914-1918), vào năm 1924, bác sĩ y khoa Paul Dahlke (1865-1928) đã thành lập một Trung tâm Phật gio (TTPG) ở Berlin-Frohnau lớn nhất ở Đức. Lúc bấy giờ, những buổi thuyết giảng của bác sĩ Dahlke đã thu hút nhiều người đến nghe. Ông cố gắng giới thiệu giáo lý Vô ngã (Non ego) qua lăng kính của khoa học hiện đại. Một cộng đồng Phật giáo khác được thành lập vào năm 1931 bởi hai đạo hữu Georg Grimm (1868-1945) và Kant Seidenstucker tại thành phố Munich. Ông Grimm không tán thành khuynh hướng của bác sĩ Dahlke về một sự diễn dịch mới trong giáo lý; vị đạo hữu này cố gắng khôi phục lại giáo lý nguyên thủy của Phật giáo để tìm ra lời dạy đích thực cho đời sống hiện tại. Thông qua hoạt động truyền giáo này của Grimm, lần đầu tiên quan niệm tín ngưỡng được giới thiệu tại Đức. Đây là một cộng đồng tôn giáo mà nhiều người đã tự gọi mình là Phật tử và thọ trì năm giới cấm của nhà Phật. Năm 1935, Hội Phật giáo Theravada ra đời, cũng do đạo hữu Georg Grimm sáng lập và lãnh đạo, trụ sở của hội đặt tại Citting trên bờ hồ Ammer. Hội này đã cho ấn hành một tờ nguyệt san và quyển "Lời dạy của Đức Phật, Tôn giáo của lý trí" (The Teachings of The Buddha, The Religion of Reason), một tác phẩm của đạo hữu G. Grimm.

Tất cả các hội đoàn Phật giáo trên đã bị cấm hoạt động dưới thời thống trị của chính quyền Nazi (1933-1945) do Adol' Hitler (1889-1945) cầm quyền. Đến thời kỳ hậu chiến, có nhiều tổ chức Phật giáo ra đời. Tại Stuttgart, năm 1952, cộng đồng Phật giáo được thành lập, đến năm 1955, cộng đồng này và nhiều hội đoàn Phật giáo khác được khôi phục và thống nhất với danh xưng "Giáo hội Phật giáo Đức" (German Buddhist Union), đây là một tổ chức đã tập hợp và thống nhất tất cả các hội đoàn Phật giáo trên khắp nước Đức. Nhiều tạp chí và báo của hội lần lượt ra đời, hiện nay nổi bật nhất là hai tạp chí tiếng Đức "Liên hoa" (Lotusblatter) và "Những người thời hiện đại" (Mitwelt). Năm 1992, Hội cùng với Giáo hội Phật giáo châu Âu (European Buddhist Union) tổ chức hội nghị tại thủ đô Berlin; và cuối tháng 10 năm 1945, hội cũng đã tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm từ ngày thành lập tại Munich.

4. Phật giáo Việt Nam tại Đức :

Như nhiều cộng đồng khác, phần lớn người Việt đến định cư tại Đức vào giữa những năm bảy mươi của thế kỷ này. Hiện tại có khoảng 100.000 người Việt định cư tại đất nước này. Do chính sách phân bố của chính quyền Đức, nên người Việt ở Đức chỉ ở rãi rác nhiều vùng khác nhau trên khắp nước Đức. Dù vậy, người Việt ở Đức đoàn kết và có nhiều hoạt động để khôi phục văn hóa và ngôn ngữ Việt, chẳng hạn, họ có khoảng 40 tờ tuần báo và Nguyệt san tiếng Việt và 20 chương trình phát thanh tiếng Việt để phục vụ cho cộng đồng.

Về tình hình Phật giáo Việt Nam tại Đức, cũng như cộng đồng của mình, Phật giáo Việt Nam đã từng bước ổn định, phát triển và đi sâu vào xã hội Đức. Hiện tại có 7 ngôi chùa và 14 chi hội Phật tử do người Việt chủ xướng, có tất cả 8 đơn vị Gia đình Phật tử  gồm 500 đoàn sinh và 50 huynh trưởng và có khoảng 40 vị Tăng Ni đang lưu trú tu học tại Đức. 

Lãnh đạo tinh thần Phật giáo Việt Nam tại Đức hiện nay là Thượng tọa Thích Như Điển, viện chủ chùa Viên Giác ở thành phố Hannover. Thượng tọa đến Đức hoằng pháp vào năm 1977 sau nhiều năm du học ở Nhật Bản. Lúc đầu, Thượng tọa thành lập một niệm Phật đường Viên Giác tại thành phố Hannover để hướng dẫn tín đồ tu học. Nhưng vì nhu cầu tu học và chiêm bái của Phật tử tại gia ngày càng đông, nên Thượng tọa đã xin phép chính quyền Liên Bang Đức một khu đất rộng lớn hơn để xây chùa, cuối cùng Bộ Nội vụ Liên Bang Tây Đức đặc trách về Tôn Giáo và Văn Hóa đã chấp thuận việc trên, nên chùa Viên Giác được dời về một vùng khác cũng ở Hannover vào năm 1981. Tại đây, Thượng toạ Như Điển đã làm lại từ đầu và tiến hành xây dựng cho cơ sở hoằng pháp mới. Qua nhiều năm làm việc cật lực, cuối cùng chùa Viên Giác đã hoàn thành vào năm 1991 với tổng chi phí là chín triệu tiền mã của Đức (tương đương khoảng năm triệu rưỡi Mỹ kim).

Hiện tại, chùa Viên Giác được xem là di bảo của Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài, là Trung tâm Văn hóa Phật gio tại Đức quốc với một điện Phật chứa khoảng 700 người cùng một lúc; một thư viện rộng lớn gồm nhiều loại Kinh sách khác nhau bằng nhiều ngôn ngữ như Việt, Anh , Pháp, Đức, Nhật, Trung Hoa. Đặc biệt thư viện này có cả bộ Đại Tạng Kinh chữ Hán thỉnh từ Đài Loan vào năm 1981 gồm 100 quyển, mỗi quyển dày độ 2.500 trang qua sự tài trợ chi phí của chính quyền Đức; một nhà máy in dùng để in những sách báo của Phật giáo và những hoạt động văn hóa, từ thiện. Tất cả sở phí của nhà in như máy móc, giấy mực... cũng được chính quyền Đức tài trợ. Nhờ vậy mà tờ tạp chí Viên Giác vẫn phát hành đều đặn trong 21 năm qua, tính đến nay đã phát hành được 110 số, mỗi kỳ là 5000 số (sáu kỳ mỗi năm).

Hằng năm chùa Viên Giác thường tổ chức những đại lễ như Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên đán, quy tụ trên dưới 50.000 người Việt lẫn người bản xứ trên khắp nước Đức về dự. 

Đặc biệt, chùa Viên Giác đặt nặng vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa Phật gio và văn hóa Việt Nam tại Đức, chùa đã tổ chức in ấn và phiên dịch nhiều tác phẩn  ra Phật gio tiếng Đức và ngược lại, riêng Thượng tọa Như Điển đã cho ấn hành hơn 20 tác phẩm (cả tiếng Việt lẫn tiếng Đức) của mình để phổ biến cho Phật tử Đức đọc. Năm 1998, chùa Viên Giác còn mở thêm một trang báo điện tử gồm ba thứ tiếng Việt, Đức và Pháp để phổ biến giáo lý cho Phật tử khắp nơi đọc.

Hiện nay, có khoảng 20 tăng sinh người Việt lẫn người Đức đang theo tu học tại chùa Viên Giác, dưới sự dẫn dắt của TT. Như Điển. Đó là một điều lạc quan cho tương lai Phật gio Việt Nam tại Đức trong việc phát triển chánh pháp tại xứ sở này. Nhìn chung, tại Đức đang trên đà lớn mạnh dưới sự lãnh đạo nhiệt tâm và tận tụy của Thượng tọa Thích Như Điển.

Có thể nói, Phật giáo Theravada đã ảnh hưởng rất lớn trong các cộng đồng Phật giáo Đức ở giai đoạn đầu mới truyền giáo. Phật giáo Mahayana, bao gồm Nhật Bản, Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam, đã trở nên phổ biến sau thế chiến thứ hai. Từ những năm sáu mươi trở đi, Thiền học Phật giáo đã lan tỏa khắp đất nước này; các tác phẩm Thiền của Tanable Hajime, Hisamatsu Shinichi, Rudolf Otto, Eugen Herrigel, August Faust và đặc biệt là D. T. Suzuki, được phát hành rộng rãi để cung ứng cho trào lưu học và tu thiền ở Đức. Từ đó đến nay, nhiều trung tâm thiền đã lần lượt ra đời và nhiều Thiền sư ở Á châu được cung thỉnh sang Đức để tuyên dương pháp môn này.

Nếu năm 1962 tín đồ Phật giáo Đức chỉ có 2.000, thì hiện nay (1999) con số đó đã được nâng lên hơn 70.000 người (số lượng được chính quyền liên bang thống kê và thừa nhận). Mặc dù số lượng tín đồ Phật giáo còn ít so với các nước Á châu, tuy nhiên Phật giáo ngày nay rất phổ biến ở Đức; các nhà sách ở các thành phố lớn luôn tràn ngập Kinh sách Phật giáo và phong trào nghiên cứu và tu thiền ngày càng tăng. Thật sự là một dấu hiệu đáng mừng đối với việc phổ biến giáo lý Phật đà ở các nước phương tây.

Cập nhật ( 14/12/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online