Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow ĐỨC PHẬT THÍCH CA - MỘT NHÀ KHOA HỌC BẬC THẦY
ĐỨC PHẬT THÍCH CA - MỘT NHÀ KHOA HỌC BẬC THẦY PDF In E-mail
Người viết: Administrator   
18/05/2008

ĐỨC PHẬT THÍCH CA MỘT NHÀ KHOA HỌC BẬC THẦY  

          Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người đã giác ngộ hoàn toàn, nên chúng ta gọi người là Phật. Giác ngộ là thấy hết chân lý vũ trụ và nhân sinh. Từ chỗ giác ngộ này đức Phật chỉ dạy cho các môn đồ còn ghi chép lại thành tạng kinh. Trong tạng kinh chúng ta thấy chứa đầy những chân lý, dù trãi qua hơn  25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu tạng kinh ngày càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học ngày nay một cách không ngờ.

            Như chúng ta đã biết ! Đức Phật ra đời vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, thế mà thời ấy đức Phật nhìn trong vũ trụ thấy thế giới nhiều không thể kể hết, nên trong kinh thuộc Hán tạng có những câu : Hằng hà sa số thế giới. Nghĩa là thế giới nhiều như cát ở sông Hằng. Đến nay các nhà thiên văn học nhờ viễn vọng kính nhìn thấy trong bầu trời hư không có biết bao nhiêu là thế giới của những hành tinh khác... Chính đây là bằng chứng cụ thể.

            Phật giáo cho rằng 1.000 thái dương hệ hợp thành 1.000 tiểu thế giới, 1.000 tiểu thế giới hợp thành 1.000 trung thế giới, 1.000 trung thế giới hợp thành 1.000 đại thế giới, 1.000 đại thế giới được gọi là một quốc độ Phật. Như vậy là một quốc độ có vô số thái dương hệ. Thế thì trong vũ trụ cuối cùng có bao nhiêu quốc độ ? Kinh Di đà nói rõ: Từ Tây phương vượt qua 10 vạn triệu triệu quốc độ Phật có thế giới gọi là Cực Lạc, nghĩa là ở trái đất ta ở đến Cực Lạc Tây Phương có đến 10 vạn ức Phật độ. Cho nên đức Phật Thích ca nói : 10 phương hư không là vô cùng vô tận, thế giới mênh mông là không bờ bến. Điều này nói với chúng ta rằng, trong hư không có vô vàn hành tinh, hư không là mênh mông không kể xiết. Vậy nếu không phải là bậc tiên tri tiên giác, có một trí tuệ vĩ đại, uyên bác như vậy thì không sao miêu tả được mặt thật về vũ trụ vĩ đại, thần bí bao la mênh mông như thế. Thí dụ, Phật nói: Trong một bát nước có bát vạn tứ thiên trùng... Vào thời đó mà Đức Phật đã nhìn thấu suốt trong một bát nước có vô số vi sinh vật.

            Lại nữa, có lần đức Phật cùng các thầy Tỳ kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá cây rơi lả tả và những lá vàng úa sắp rời cành, đồng thời có những chồi non vừa nảy lộc và những mầm vừa nhú lên khỏ vỏ cây. Ngài dạy các Tỳ kheo, thế giới đang hoại, sắp hoại, và đang thành sắp thành, cũng như lá cây trong rừng đang rụng sắp rụng và đang nảy chồi sắp nảy chồi. Vì thế đức Phật dạy : Thế giới có bốn thời kỳ : Thành, trụ, hoại, không. Ngày nay các nhà khoa học cũng thừa nhận thế giới phải trải qua bốn thời kỳ như thế. Đây chính là cái nhìn thích hợp giữa Phật học và khoa học.

            - Về vạn vật : Sự sinh thành và hoại diệt trên đời, dưới con mắt trí tuệ của đức Phật đều do duyên khởi. Nếu nói đến duyên khởi thì có sinh ắt phải có diệt, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt ... Chúng ta thấy rõ Phật học và khoa học tuy thời gian cách xa mà không có giới tuyến ngăn cách.

            - Về con người : Trọng kinh Hán Tạng có nói : Nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung chi trú. Nghĩa là ngày nay chúng ta chỉ cần có chút ít kiến thức khao học là không còn nghi ngờ gì nữa.

            - Về lực nghiệp : Nhà Phật nói do sức nghiệp thúc đẫy và thu hút mọi vật hình thành, khi mãn nghiệp thì hoại diệt, cũng do động lực của nghiệp nên mọi vật sinh hoạt trong một trật tự nhất định.

            Đạo Phật đặt ở trọng tâm của mỗi con người, chỗ thấy biết của đạo Phật đúng là sự thật hợp chân lý, nên trãi qua thời gian dài mà vẫn không sai chạy hay lạc hậu. Đối với đức Phật mà nói, Ngài không dùng cái thấy biết tuyệt vời ấy để phân tích ngoại cảnh, sử dụng ngoại cảnh để phục vụ con người. Mà Ngài chỉ dùng cái thấy cái biết ấy để soi sáng thẳng vào con người, để thấy biết tường tận về con người thể xác lẫn tinh thần. Biết rõ con người rồi Ngài dạy biết sống đúng với tư cách con người đồng thời chuyển hóa thân tâm để được an lạc trong hiện tại và mãi mãi ở tương lai. Có lần đức Phật ngự tại Kosambi cùng với các thầy Tỳ kheo đi vào rừng cây Simsapa, Ngài dùng tay nắm một nắm lá cây đưa lên hỏi các thầy Tỳ kheo : Lá cây trong tay ta nhiều hay là cây trong rừng nhiều? Các thầy Tỳ kheo thưa... lá cây trong tay Thế tôn rất ít so với lá cây trong rừng. Phật dạy : Cũng thế chỗ ta thấy biết nhiều như lá cây trong rừng, nhưng điều ta dạy các ông ít như lá cây trong nắm tay này. Điều này khiến cho chúng ta thấy rõ những gì mà Ngài dạy cho chúng ta trong hiện tại là những điều cần thiết giải quyết mọi khổ đau cho kiếp sống con người, vì tuổi thọ con người quá ngắn không đủ để học hết mọi điều trên thế gian này.

            Cho nên phần hệ trọng nhất nơi con người là tinh thần có thể sai sử mọi nghiệp thiện và ác của con người ... Vì vậy bao nhiêu lời khuyên răn dạy dỗ của Ngài đặt nặng sự chuyển hóa nội tâm. Vì nội tâm con người được soi sáng bởi trí tuệ thì các nghiệp mới được chuyển hóa và sau khi kết thúc cuộc đời của một con người trên thế gian này sẽ là phần thưởng cho sự an vui nơi cực lạc. Đây là trọng tâm cứu khổ chúng sinh của đức Phật Thích ca, cũng là của đạo Phật.

            Vì vậy, Phật giáo nhìn chúng sinh đều bình đẳng trong bản tính, chỉ có sai khác trên nghiệp tướng. Nghiệp tướng là cái sinh diệt biến động, diệt biến động là tạm bợ, tạm bợ dù sai khác đến mấy cũng không quan trọng. Chính cái tối quan trọng là bản tính thường hằng của chúng sinh. Cho nên đức Phật thường dạy : “Tất cả chúng sinh đều có tánh Phật”, đó là lối nhìn bình đẳng của Phật giáo. Thấy thấu được lẽ này, chúng ta sẽ dứt được tâm tự cao ngã mạn và không còn dám khinh thường một ai. Đây là nền tảng đạo đức chân thật, nên Bồ Tát thường Bất Khinh thấy ai cũng nói : “Tôi không dám khinh các Ngài, vì các Ngài sẽ thành Phật”. Đã có sẳn tánh Phật thì người nào tu chẳng được, chỉ do chưa thức tỉnh và lười nhác mà thôi. Do cái nhìn thấu suốt này, người tu theo đạo Phật không bao giờ có tâm kỳ thị với bất cứ nhóm nào, cũng không có tâm khinh khi miệt thị ai.

            Đạo Phật lấy giác ngộ làm gốc rễ, lấy giải thoát làm hoa trái, lấy từ bi làm nhựa sống. Bốn yếu tố này rất thân thiết với nhân loại văn minh. Bất cứ một nền văn minh chân chính nào cũng đòi hỏi ở con người phải có đủ trí tuệ sáng suốt, thong thả tự do, tình thương làm vơi cạn đau khổ con người, bình đẳng không chấp nhận giai cấp, không kỳ thị tôn giáo, chủng tộc , màu da. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này, dù nói văn minh vẫn chưa thật sự văn minh. Đứng từ góc độ này mà nhìn, chúng ta thấy Đức Phật quả thật đã đi trước các nhà khoa học khá xa ; tương lai dù nhân loại văn minh đến đâu cũng khó qua mặt được đạo Phật.

            Đức Phật đã tìm ra qui luật của vũ trụ và nhân sinh này, không phải là một nhân vật thần thoại mà là một đại đạo sư đã sống thật sự trên thế giới này. Ngài không bao giờ tự coi mình là một siêu nhân mà chỉ cho mình là một con người đã hiểu được chân lý tuyệt đối : định luật thiên nhiên phổ quát, bí mật của đời sống và nguyên nhân chính của khổ đau và hạnh phúc. Ngài không tự thần thánh hóa.

            Tấm gương cao quý của Ngài là nguồn cảm hứng cho tất cả mọi người, sắc diện thanh tịnh và khoan thai của Ngài đã xoa dịu nỗi lòng của kẻ phiền não. Lời dạy của Ngài luôn đem lại lợi ích cho những ai có diễm phúc được nghe và thực hành. Ý chí sắt thép của Ngài, trí tuệ sâu xa, tình thương bao la, từ bi không biên giới, lòng vị tha, sự rứt bỏ can đảm (cuộc đời trần tục), thanh tịnh tuyệt đối, nhân phẩm hấp dẫn và phương pháp gương mẫu được sử dụng để trình bày giáo lý và sự thành công cuối cùng của Ngài - tất cả những yếu tố trên là lôi cuốn một phần năm nhân loại trên thế giới ngày nay, họ hoan hô và tôn kính vị thầy như một Giáo chủ tối thượng.

            Chúng ta phải thừa nhận rằng Ngài là một khoa học gia toàn hảo trong việc nghiên cứu đời sống, một nhà tâm lý học toàn bích đã phân tích bản chất của tâm đến mức độ giáo lý của Ngài được tán thưởng như một phương pháp khoa học. Những khám phá mới của khoa học chưa bao giờ mâu thuẫn với giáo lý của Ngài. Với những nhà triết học vĩ đại và những nhà tư tưởng không thành kiến, Ngài là một vị thầy hiểu rõ tình trạng và viễn cảnh của thế giới này. Với những nhà luân lý học, giáo lý của Ngài là quy tắc, kỷ luật cao nhất. Ngài tượng trưng cho sự toàn bích. “Ngài là  người mẫu toàn hảo cho tất cả những đức hạnh mà Ngài thuyết giảng”. Với những nhà duy lý học, Ngài là một vị thầy cao thượng có tư tưởng phóng khoáng nhất. Với những nhà tự do tư tưởng, Ngài là vị thầy khuyến khích con người tự do suy nghĩ để tìm ra chân lý. Đối với những người hoài nghi, Ngài là một vị Thầy rất nhã nhặn và siêu việt đã hướng dẫn nhân loại vượt ra mọi khổ đau của cuộc đời và hướng đến cõi an lạc giải thoát.  

Thích Nguyên Thế

 

Cập nhật ( 23/05/2008 )
 
< Trước   Tiếp >
TRANG WEB GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH BẠC LIÊU Số 166 Bản ra thường kỳ năm 01/02/2017 - Phật lịch 2560

Các danh mục khác

Thăm dò ý kiến

Google đánh giá

Google Page Rank
Powered by: Viet IT

Alexa xếp hạng

Statistics

OS: Linux v
PHP: 5.4.45
MySQL: 5.5.47
Thời gian: 06:16
Caching: Enabled
GZIP: Disabled
Thành viên: 5
Tin tức: 4014
Liên kết web: 0

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online