Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow QUAY LẠI CHÍNH MÌNH
QUAY LẠI CHÍNH MÌNH PDF In E-mail
Người viết: Thích Đạt Ma Phổ Giác   
28/10/2016

QUAY LẠI CHÍNH MÌNH

* Thích Đạt Ma Phổ Giác

NỘI DUNG:

Quay lại chính mình để sống đời thanh thản

Ta là chủ quyết định cuộc đời của mình

Thiền là biết cách làm chủ thân miệng ý

Giàu hay nghèo đều có nỗi khổ riêng

Con người do mê lầm nên sống trong đau khổ

Tướng mạo và hành động tốt xấu có thể thay đổi được

 

Chết là lẽ đương nhiên

Phật an nhiên tự tại trước mọi khen chê

Bất mãn nhưng phải tùy duyên

Phật tự tại trước mọi sóng gió cuộc đời

 

QUAY LẠI CHÍNH MÌNH ĐỂ SỐNG ĐỜI THANH THẢN  

Con người cần làm việc để phục vụ an sinh đời sống hằng ngày, con người cần vật chất, con người cần tình cảm, con người cần tinh thần, con người cần tâm linh và con người cần sự hổ trợ cho nhau về mọi mặt, biết cách nương tựa vào nhau để cùng thay đổi phát triển tốt đẹp bền vững, lâu dài. Có vật chất đầy đủ để đảm bảo an sinh đời sống cho con người trong phạm vi nhất định nào đó, tùy theo phước nghiệp của mọi người đã gieo tạo. Có tình cảm để con người biết kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống mà làm tròn bổn phận trách nhiệm đối với gia đình, người thân, và dấn thân đóng góp phục vụ tốt cho xã hội.

Có con người tâm linh cùng với trái tim hiểu biết thì chúng ta sẽ tin sâu nhân quả mà không làm các việc xấu ác, mà hay làm các việc thiện lành tốt đẹp, ta biết cách chuyển hóa những tâm niệm, lời nói, và những hành động luôn làm tổn hại người, vật do sự chấp ngã gây ra, để chúng ta sống với tính biết sáng suốt của mình là Phật tính.

Khi sống được với tính biết sáng suốt, chúng ta sẽ không bị dòng đời cuốn trôi bởi những việc xấu ác, mà biết cách dung hòa sự sống để làm tròn trách nhiệm, bổn phận đối với gia đình người thân và đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội.

Khi ta sống mà thường biết rõ mình có hòn ngọc vô giá ngay nơi sắc thân này thì rác rến phiền não không còn đáng làm ta lo ngại, vì rác chính là hoa, rác làm đẹp thêm cho hoa nếu ta biết gieo trồng tưới tẳm đúng mức. Chính vì vậy, phiền não tức bồ đề, ta cứ một bề chăm sóc, vun bồi đóa hoa lòng rộng mở để làm hương thơm cho đời thì những rác rưởi tham ái, ghét bỏ, giận hờn, bực tức, tránh né hay hủy diệt đều được sáng trong theo thời gian.

 

LẠC QUAN LUÔN GIÚP MỌI NGƯỜI TRẺ KHỎE VÀ SỐNG HẠNH PHÚC

Sư phụ chúng tôi dạy rằng: “Học tập, làm việc, uống ăn làm nên sự sống. Tu là hơi thở quyết định sự sống. Thân thể này thiếu tu cũng như thiếu hơi thở trong chừng phút giây là chết ngay.” Sư ông chúng tôi chủ trương tu, học và lao động như cái đỉnh ba chân không thể thiếu trong cuộc sống. Lao động như ăn cơm, học hỏi như uống nước, tu như là hơi thở. Chúng ta ai cũng có con người tâm linh, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.

Con người là quan trọng hơn hết, nếu chúng ta biết tin sâu nhân quả, tin chính mình là Phật và biết thương yêu bình đẳng, san sẻ giúp đỡ cho nhau bằng tình người trong cuộc sống. Đó chính là sự cần thiết và quý giá nhất trên đời, kính mong mọi người hãy nên suy xét, quán chiếu cho tường tận để lấy đó làm kim chỉ nam mà luôn làm tròn bổn phận đối với gia đình người thân và sống có ích cho xã hội.

Có một anh chàng nọ làm nghề lái xe sống rất lạc quan, yêu đời dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng không làm anh buồn lòng, nản chí. Trong một tai nạn bất ngờ anh bị cưa một chân, bạn bè đến thăm mới hỏi cuộc sống anh lúc này ra sao, anh vui vẻ trả lời bây giờ chỉ tốn tiền mua một chiếc giày thôi! Rõ ràng, người lạc quan dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng không làm cho họ thất chí nản lòng mà sinh ra buồn khổ, bởi mọi thứ đến với ta tốt hay xấu đều do nhân quả chi phối.

Theo tâm lý học Phật giáo: Thái độ sống lạc quan, yêu đời sẽ giúp cho chúng ta có thêm nghị lực sống, ý chí quyết tâm cũng như cách vượt qua stress và hơn thế nữa là tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể. Chắc bạn nghĩ đó là chuyện không thể phải không?

Nhưng các nhà khoa học đã chứng minh thái độ sống lạc quan, tích cực sẽ kích thích việc sản sinh hormone endorphin có tác dụng làm giảm đau và serotonin giúp điều hòa tâm trạng, hệ miễn dịch được tăng cường dẫn đến tăng sức đề kháng cơ thể, một liều thuốc tự nhiên kỳ diệu. Ngược lại thái độ bi quan, tiêu cực sẽ sản sinh cortisol, gây teo tế bào thần kinh và dẫn đến mất trí nhớ, kích thích tăng huyết áp và đường huyết, làm xơ cứng động mạch, gây ra bệnh tim mạch. Bi quan tiêu cực thật sự là liều thuốc độc đối với cơ thể.

Khi chúng ta là một người bình thường có đầy đủ sáu căn, có cơm ăn áo mặc, có công ăn việc làm ổn định, có cuộc sống ấm no bên gia đình người thân và những người xung quanh, thì chúng ta đã may mắn hơn nhiều người khác. Do đó sống lạc quan với thái độ tích cực, yêu đời, tức là chúng ta có cơ hội tốt để làm tròn bổn phận đối với gia đình và đóng góp lợi ích xã hội một cách nhiệt tình thì còn gì mà bi quan. 

Thay đổi tư duy và tin sâu nhân quả là quy luật sống. Những ai chỉ biết bám víu và tiếc nuối vào quá khứ thì sẽ đánh mất mình trong hiện tại. Chúng ta tư duy tích cực để nhận ra bản chất của cuộc đời, nhờ vậy chúng ta biết cách làm chủ bản thân để không bị rơi vào trạng thái bi quan, chán nản.

Bi quan là kẻ thù của nhân loại

Có nhiều người nói đạo Phật rất bi quan vì cho rằng “đời là bể khổ”, sự thật không phải như vậy. Người bi quan thường có thói quen nghĩ rằng việc sắp đến đều là xấu cả, nên chán nản, không tin tưởng, hoặc mất niềm tin vào hiện tại và tương lai. Đạo Phật chỉ nói rằng sống làm người thì phải chịu khổ về thể xác lẫn tinh thần. Giáo lý của đạo Phật được phát xuất từ kinh nghiệm dựa trên thực tế cuộc sống, cho nên làm thế nào để chúng ta thoát khỏi khổ đau lẫn thể xác và tinh thần.

Những lời Phật dạy về con người, về cuộc đời chính là cách thức, giúp ta suy tư, nghiệm xét nhờ vậy mà có một hiểu biết chân chính để sống tốt hơn. Những người chưa biết đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, họ cho rằng đạo Phật là chán đời, bi quan, yếm thế, làm cho con người trốn tránh trách nhiệm đối với gia đình người thân và xã hội.

Đạo Phật nói “vô thường”, để cho chúng ta thấy rõ được bản chất mọi hiện tượng sự vật không thực thể cố định mà cố gắng tu tập để sống tốt hơn và biết cách làm chủ bản thân. Nhiều người cứ nghĩ rằng thân tâm và hoàn cảnh đều vô thường thì không nên siêng năng làm việc. Nghĩ như thế thật là hiểu lầm lời Phật dạy. Chúng ta hiểu được lý vô thường thì mình sẽ bình tĩnh an nhiên trước những thay đổi bất ngờ, và ta sẽ có thể không bị khổ đau chi phối nặng nề khi mất mát chia lìa.

Hiểu được vô thường, con người mới dám hy sinh tài sản của cải, hoặc hy sinh thân mạng để làm những việc có lợi ích chung. Thật ra đạo Phật mới là đạo rất yêu đời, vì biết rõ bản chất từ con người cho đến muôn loài vật đều chịu sự chi phối của vô thường. Con người thì sinh, già, bệnh, chết hoàn cảnh sự vật thì thành, trụ, hoại, không nhờ hiểu biết như vậy ta sẽ bớt buồn khổ khi sự việc đổi thay. 

Ngày xưa có một người sống sung sướng trong cảnh vương giả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan như vậy mà vẫn quyết chí xả bỏ tất cả để ra đi tìm cầu chân lý, giúp cho chính mình vượt thoát khổ đau. Trải qua một chặng đường dài trên 11 năm, Ngài đã tu chứng dưới cội Bồ đề biết cách làm chủ bản thân để thoát khỏi khổ đau sinh già bệnh chết. Ngài thấy rõ ràng chúng sinh luân hồi sinh tử lăn lên lộn xuống trong ba cõi sáu đường giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường là do mình tạo ra. 

Nếu chúng ta là người vui vẻ lạc quan, yêu đời thì khi nhìn thấy những chiếc lá rơi đó là sự tuần hoàn sự sống của cây, bởi chúng ta đang nhìn cuộc sống qua lăng kính màu hồng. Còn nếu ta là người bi quan luôn than thân trách phận, nhìn cuộc sống bởi một màu xám xịt chúng ta sẽ cảm thấy u buồn, sầu khổ trước những hiện tượng tự nhiên đó.

Khi chúng ta lạc quan thì cuộc sống của bản thân minh và người khác dễ dàng có sự cảm thông để giữ mối liên hệ thân thiết? Càng sống lạc quan, chúng ta càng có thái độ mạnh mẽ để vượt qua những vướng mắc của cuộc đời. Như chúng đã biết, thân và tâm của con người luôn có sự ảnh hưởng mật thiết với nhau. Bất cứ một sự thay đổi nào về mặt tâm lý cũng sẽ ảnh hưởng đến thể chất và ngược lại. 

Bi quan sẽ làm cho mọi người sợ hãi và bất an

Khi chúng ta sợ hãi một điều gì đó, tim sẽ đập nhanh và tay chân run lẩy bẩy. Khi chúng ta cảm thấy bối rối, e thẹn trước mặt người bạn khác phái, hai má bạn bỗng đỏ ửng, chân tay bạn trở nên luống cuống, cảm thấy thừa thãi. Cũng vậy, khi chúng ta bi quan, buồn phiền, sức khỏe sẽ bị ảnh hưởng một phần nào. Trái lại, khi ta sống lạc quan, vui vẻ, thì sức khỏe của chúng ta sẽ tốt hơn rất nhiều. Thường những người cô đơn dễ rơi vào bế tắc và hay bi quan chán nản, dẫn đến sức khỏe tiều tụy mà mau chết sớm.

Cùng mang một căn bệnh như nhau, nhưng người lạc quan có khuynh hướng mau lành bệnh hơn, trong khi đó kẻ bi quan dễ làm cho bệnh tật trở nên trầm trọng. Đó cũng là lý do mà vì sao các bác sĩ luôn khuyến khích bệnh nhân phải cố gắng duy trì một thái độ lạc quan và không lo lắng sợ hãi sẽ mau chóng phục hồi bệnh. 

Mỗi sáng thức dậy, chúng ta chỉ cần dành một chút thời gian để ngồi thiền, lạy Phật, Bồ tát coi như chúng ta đã thực tập một bài thể dục hoàn chỉnh làm cho thân và tâm, cảm nhận trạng thái khỏe khoắn, thoải mái, yêu đời và sống lạc quan suốt cả ngày!

Trong cuộc sống, thái độ bi quan dễ khiến chúng ta nhìn mọi sự việc trên đời như một màu đen tối. Người bi quan sẽ dễ dàng đánh mất chính mình, sau những vất vả, khó khăn, vì họ nghĩ rằng không còn lối thoát. Chúng ta vì sao mà cảm thấy buồn phiền, chán nản với cuộc sống, vì chúng ta chỉ thấy mặt xấu mà không thấy mặt tích cực? Rất nhiều người vì không tin sâu nhân quả, không tin khả năng chính mình nên cái thấy còn hạn hẹp bởi do lòng tham lam, ích kỷ do đó dễ sinh ra bất mãn đổ thừa tại, bị, thì, là…

Thái độ sống lạc quan là điều cần thiết để giúp chúng ta sáng suốt nhìn thấy bản chất của cuộc đời là luôn đối lập nhau. Thái độ bi quan có thể khiến chúng ta nhìn đời hoàn toàn bằng một màu xám xịt, nhưng thái độ sống lạc quan lại giúp chúng ta làm việc có hiệu quả cao.

Sống lạc quan để lòng an ổn

Người bi quan làm việc một cách lề mề, chậm chạp cho nên công việc khó đạt được kết quả cao. Nhiều khi công việc không đến nỗi vất vả, nhọc nhằn cho lắm, nhưng vì bi quan nên họ tự tạo thêm áp lực cho mình. Trong khi đó, những người sống lạc quan họ hiểu rằng, con người khó có thể làm nên những thành quả lớn lao nếu lúc nào cũng bi quan, chán nản về cuộc sống.

Thái độ lạc quan của họ có ảnh hưởng một cách hết sức tích cực đến tinh thần làm việc của nhiều người khác, nhờ vậy họ dễ dàng vượt qua những khó khăn chướng ngại. Nói cách khác, chúng ta đừng bận tâm suy nghĩ quá nhiều đến những gì có thể xảy ra với mình, mà hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp mình đang làm và hướng tới. Có một thực tế mà chúng ta cần phải thừa nhận, khi chúng ta vui thì những người xung quanh cũng sẽ dễ dàng cảm thấy vui theo. Trái lại, khi buồn thì chúng ta cũng làm ảnh hưởng đến những người xung quanh chúng ta.

Mỗi sáng thức dậy, chúng ta tâm niệm rằng hôm nay sẽ cố gắng sống với thái độ lạc quan vì ta đã tin chính mình là chủ nhân ông của bao điều họa phúc. Trong cuộc sống, nếu chúng ta sống lạc quan là đã thể hiện một con người có nhân cách đạo đức, biết san sẻ yêu thương nâng đỡ người khác khi gặp bất hạnh. Sống giữa cuộc đời nhiều oan trái, bởi những tâm niệm tham lam ích kỷ, ganh ghét tật đố, thù hận do người khác đem lại, chỉ có những người biết mở rộng tấm lòng mới có thể sống lạc quan.

Con người sống lạc quan là con người biết tự vươn lên vượt qua chính mình để ngày càng sống tốt hơn. Người sống bi quan sẽ dễ dàng làm nản lòng nhiều người khác, cho nên sống lạc quan có thể giúp mọi người vượt qua mặc cảm tội lỗi và làm mới lại chính mình. Ngay cả những người đang chìm sâu trong cơn tuyệt vọng, thậm chí muốn tự tử để kết liễu cuộc đời vì họ cảm thấy không có lối thoát do bi quan, chán nản chính lạc quan là liều thuốc bổ để giúp họ vượt qua số phận tối tăm.

 

TA LÀ CHỦ QUYẾT ĐỊNH CUỘC ĐỜI CỦA MÌNH 

Người sống độc thân sẽ không phải bị ràng buộc đời vào đời sống hôn nhân gia đình hạnh phúc lứa đôi. Chúng ta tự do với chính cuộc đời mình mà thoải mái làm việc đóng góp lợi ích xã hội. Chúng ta sẽ thảnh thơi tự do giao tiếp gặp gỡ nhiều người, nói cười vui tươi. Sống độc thân là một diễm phúc để chúng ta có cơ hội rèn luyện thân tâm khỏi vướng bận về tình cảm cá nhân giữa mình và người.

Để giữ cho trái tim của chúng ta khỏi phải vá víu vì những men say tình ái của đời sống lứa đôi. Cũng như dòng nước đổ xuống sẽ không bao giờ chảy ngược trở lại. Thời gian cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua sẽ không bao giờ có thể quay lại, đó là sự thật nhưng ít ai quan tâm để ý.

Học vấn, kiến thức, hiểu biết những điều ta học được từ sách vở không quan trọng bằng kinh nghiệm sống, sự trải nghiệm và những điều học hỏi được từ cuộc đời. Trải qua thất bại và học hỏi từ chính những thất bại đó làm cho chúng ta trở nên chững chạc hơn trong cuộc sống.

Thời gian là một tài sản vô giá và quý trọng nhất trong cuộc đời, nên thời gian là vàng là bạc. Bởi thế khi còn thời gian thì chúng ta sẽ có thể làm được nhiều việc, mà đóng góp lợi ích cho nhân loại. Trong cuộc sống với bộn bề công việc cùng bao nỗi lo toan, chúng ta cảm thấy quá mệt mỏi và căng thẳng nên đi chùa lễ Phật để cầu khẩn van xin mong sự trợ giúp của Phật pháp để giải tỏa những bế tắc.

Thực tế cho thấy khi chúng ta biết buông xả những lợi danh hay thù hận, thì tâm ta mới trong sáng để vượt qua những cám dỗ của phiền não tham, sân, si, mà cảm nhận được niềm vui. Có buông xả được thì lòng ta mới rộng mở, ai có làm điều gì xúc phạm ta cũng dễ dàng tha thứ, mà nếu có buồn giận chỉ trong thoáng chốc rồi cũng bỏ qua. Nhưng chúng ta phải biết buông xả không có nghĩa là buông bỏ, dẹp hết tất cả mọi công ăn việc làm để chỉ lo cho bản thân mình. Không có nghĩa là chối bỏ, trốn tránh trách nhiệm đối với gia đình người thân và xã hội.

Là người Phật tử chân chính, chúng ta biết buông xả những thói quen có hại cho người, vật nhưng phải luôn có trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Nhằm phát huy Bồ đề tâm chúng ta ngày càng thêm vững chắc, để ta có cơ hội trả ơn công lao sinh thành của cha mẹ, mà vẫn chu toàn mọi việc. Chúng ta làm việc tốt hơn, sống có ý thức và trách nhiệm bằng trái tim hiểu biết. Lẽ sống chính là hoài bão và sứ mệnh của cuộc đời, là giá trị nền tảng của chính mình. Khi ta sống có ý thức trách nhiệm ta sẽ biết mình là ai, mình sống để làm gì, mình sẽ dùng 60 năm cuộc đời này để làm tròn bổn phận đối với gia đình người thân và đóng góp lợi ích xã hội.

 

CON NGƯỜI KHÓ BUÔNG XẢ DO DÍNH MẮC QUÁ NHIỀU

Những người đang yêu nhau tha thiết không muốn rời xa nhau vì đam mê, vì say đắm, vì luyến ái nhớ nhung chắc có lẽ sợ nhất là mất người yêu…Có người thì sợ mất gia đình người thân mà mình yêu quý nhất như cha mẹ lo cho con cái, như vợ chồng thương yêu nhau, như anh em cùng vui vẻ thuận thảo thương mến nhau… Và những người đang thăng tiến trên con đường công danh, sự nghiệp thì có lẽ sợ mất quyền cao chức trọng và sợ không còn ai cung kính, tôn trọng khi bị thân bại danh liệt…

Nói chung tất cả chúng ta sợ bị đánh mất rất nhiều thứ, toàn là những điều có liên quan đến sự sống gia đình và xã hội!...Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, quý giá nhất mà chúng ta đã đánh mất nó từ lâu đó là chính mình! 

Chúng ta đừng bao giờ vì muốn được lòng một ai đó mà tự đánh mất chính mình… Thế gian này đã từng có rất nhiều người đánh mất cả cuộc đời chỉ vì quyền lợi riêng tư, mong được có địa vị danh vọng và mau thăng quan tiến chức mà sống trong lừa đảo, dối trá, bóc lột kẻ dưới…Chính vì vậy, “Nhận biết chính mình” mới là điều cần thiết và quan trọng nhất.

Nếu chúng ta biết tất cả mọi thứ trên đời, trên thông thiên văn, dưới am tường mọi sự việc mà lại không biết chính mình là ai, là gì, mình từ đâu đến và sau khi chết đi về đâu, thì sự hiểu biết ấy chỉ đáp ứng được giá trị bên ngoài nên không thể giúp ta hoàn thiện chính mình để thật sự sống bình yên, hạnh phúc. 

Người xưa nói “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thắng ở đây không chỉ là thắng theo kiểu chiến trận, thắng ở đây cũng chưa hẳn là thắng người hay thắng kẻ thù mà thắng ở đây là thắng chính mình. Chúng ta chiến thắng những dục vọng thấp hèn có tính cách, tham lam, sân hận, si mê để vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời nhờ biết cách làm chủ bản thân để không bị các thói quen xấu ác có tính cách làm tổn hại cho người và vật. 

Chúng ta cần biết được chính mình để sống tốt hơn trong mối quan hệ với gia đình người thân, với bạn bè, với đồng nghiệp và với tất cả mọi người trong xã hội.

 

CHÁNH TÍN NHÂN QUẢ PHÁ TRỪ MÊ TÍN

Đạo Phật chủ trương lấy nhân quả làm nền tảng của sự sống để phản ảnh mọi lẽ thật hư trong cuộc đời này bằng ánh sáng trí tuệ, nhằm thấu suốt nguyên lý thế gian. Mọi lẽ thật giả đều hiện bày sau khi có sự chiêm nghiệm và suy xét bởi ánh sáng giác ngộ, nhận thấy lẽ thật rồi mới khởi lòng tin đó là "chánh tín". Ngược lại, tin mà không hiểu rõ cội nguồn của mọi lý lẽ là tin càn tin bướng, người tin như thế là "mê tín".

Chính vì thế người học đạo cần phải có lòng tin, song lòng tin ấy đã trải nghiệm qua sự quán chiếu, suy xét và có chọn lọc kỹ càng. Mê tín là lòng tin mù quáng không thấy đúng lẽ thật, không thấy đúng chân lý vì mê muội. Như tin ông đồng bà cốt, tin xin xăm bói quẻ, tin ngày lành tháng dữ, tin số mạng sang hèn, tin coi tay xem tướng, tin cúng sao giải hạn, tin có một người ban phước giáng họa v.v... Những lối tin này không có logich, không đủ bằng chứng, không có lợi ích, nên gọi là mê tín, vì đi ngược lại với giáo lý nhân quả. 

Sao gọi là mê tín?

Mê tín là lối tin mù quáng khiến con người mất hết khả năng suy đoán và phán xét của mình. Một số người chủ trương mê tín làm mê hoặc thế gian, để hưởng lợi cho riêng mình. Một cuộc sống ấm no và bền vững bởi con người văn minh, một dân tộc có hiểu biểu chân chính vì đã thông suốt mọi lý lẽ, không cho phép sự mê tín len lỏi trong dân tộc mình. 
Mê tín do tâm mong cầu quá đáng - Con người khi mong cầu một điều gì mà quá khả năng mình thì dễ sinh mê tín. Ví như có một người muốn vay một số vốn lớn làm ăn, không biết việc làm ăn này sẽ đạt được kết quả tốt hay xấu. Tự nhiên lòng họ thấy băn khoăn lo lắng không biết hỏi ai, tin ai. Nghe nói có một ông thầy nào đó biết được quá khứ vị lai đoán trúng được vận mệnh của mọi người, họ liền tìm đến để cầu cho được. Chỉ tốn tiền quẻ có năm bảy trăm hoặc vài ba triệu, biết việc làm cuả mình thành công hay thất bại thì ai mà không ham. Chính vì lòng tham và sự mong cầu quá đáng mà dẫn con người ta đến mê tín dị đoan.  
Mê tín do tâm lo lắng sợ hãi – Con người ta hay lo lắng sợ hãi, suy nghĩ vu vơ là gốc sinh ra mọi điều mê tín. Có những người bị tai nạn dồn dập, vừa té xe bị thương lại bị người giựt nợ, con trai thi rớt, con gái bị bệnh.. mất bình tĩnh, nghe đồn ông thầy đó coi tay xem tướng rất giỏi và có thể trừ được tà ma yêu tinh quỷ mị. Hoặc có người sợ vận sui hạn xấu, nên đầu năm đến chùa cúng sao giải hạn, cầu cho tròn năm cuộc sống được hanh thông, gia đình được an vui may mắn. Hoặc có người vì thương cha mẹ đã quá cố, sợ cha mẹ chết rơi vào địa ngục chịu đói khổ nhọc nhằn, họ bèn nhờ thầy cúng dán lầu kho, xe cộ, giấy tiền vàng bạc, lễ cúng đốt xuống cho cha mẹ được an hưởng nơi âm ty... Mọi sợ hãi đều bắt đầu từ sự mê tín.

Đã làm người ai cũng có thể ước mơ hay mong cầu một điều gì đó, rồi tình trạng lo lắng sợ hãi, trong bầu vũ trụ bao la này với thiên nhiên huyền bí, chính vì chưa thấu rõ hết nguyên lý nhân duyên quả nên con người dễ dàng rơi vào mê tín dị đoan. Dù là người học cao hiểu rộng nhưng trong tâm vẫn có niệm mong cầu và sợ hãi hoặc quá tham lam, họ sẽ bị mê tín dị đoan chi phối.

Nếu chúng ta đã tin sâu nhân quả, tin mình là chủ nhân ông của bao điều họa phúc thì ta chỉ cần phát tâm làm việc tốt có lợi ích cho mình và người thì điều tốt sẽ đến. Người quá tham lam hay mong cầu những điều thiện lành đến với mình, thì ta chỉ việc gieo nhân quả tốt, còn quả đến sớm hay muộn là do duyên phụ thuộc. Thế mà, chúng ta không ứng dụng ngay cội gốc, lại chạy theo ngọn ngành, hao phí tiền bạc một cách vô ích, đó gọi là mê tín.

 

THIỀN LÀ BIẾT CÁCH LÀM CHỦ THÂN MIỆNG Ý  

Phật dạy: Thân và Tâm luôn có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau. Thiền là một nguồn năng lượng dồi dào nhưng lại không tốn kém tiền bạc mà còn giúp con người có được trí tuệ sáng suốt và một thân thể khỏe mạnh. Ngoài ra, Thiền cũng có khả năng chữa được rất nhiều bệnh tật mà nhiều khi y học hiện đại phải bó tay.

Thiền còn có khả năng thanh lọc thân và tâm, đem đến cho con người sự sáng suốt, thông minh, lanh lợi, nhạy bén, trí nhớ, sắc đẹp, chống lão hóa,…để họ có một đời sống an vui hạnh phúc, bằng tình người trong cuộc sống. Vì thân và tâm là một sợi dây vô hình không thể tách rời nhau, nếu tâm bị nhiễm bệnh nặng thì thân làm sao khỏe mạnh lâu dài được. 

Trong tâm của mỗi người luôn luôn tồn tại những tâm niệm thiện và ác. Tâm niệm thiện như: tâm từ bi hỷ xả, khoan dung, độ lượng, giúp đỡ sẻ chia, khiêm tốn,… Một tâm trong sáng, sâu lắng,… cũng làm cho thân của ta trang nghiêm, quý phái, đẹp đẽ hơn rất nhiều. Ngược lại, những tâm niệm xấu ác như: tham, sân, si, ganh ghét, tật đố, chấp trước, phiền não, hận thù, kích động, hủy diệt,…làm cho đầu óc căng thẳng,… làm cho thân uể oải, mệt mỏi, mất năng lực đề kháng, nên cơ thể suy yếu, dễ sinh nhiều bệnh tật.

Thiền là biết cách điều hòa hơi thở, thở vô ta biết ta đang thở vô, thở ra ta biết ta đang thở ra, bao nhiêu tâm niệm phải quấy, tốt xấu, đúng sai tự nhiên bị tan hòa vào hơi thở, do ta làm chủ được vọng niệm. Chính vì vậy, hơi thở làm nên chất liệu sống, giúp ta chuyển hóa những thói hư tật xấu mà sống đời bình yên, hạnh phúc. 

Tóm lại, người Phật tử tại gia đã có một đời sống ổn định về vật chất, kế đến là phải biết cách điều hòa thân, tâm. Thân và tâm liên quan mật thiết với nhau, chúng không thể tách rời nhau, thân khoẻ mạnh và hoạt động lợi ích cho nhiều người thì tâm mới dễ dàng an định, không bị phiền muộn khổ đau chi phối.

Chấp tâm suy tư nghĩ tưởng là thật nên mọi người tranh đấu giết hại lẫn nhau

Do vô minh mà sinh ra vọng động. Do có vọng động mà sinh ra vọng thức. Do có vọng thức mà sinh ra phân biệt có đủ thứ ta, người, chúng sinh. Do có sự phân biệt ta người, mà sinh ra xúc chạm. Do có sự xúc chạm mà sinh ra cảm thọ. Do có cảm thọ mà sinh ra tham ái, luyến tiếc, và từ đó bám víu, dính mắc vào sự hiện hữu của nó, nên sống chết, khổ não, ưu sầu, buồn lo đủ thứ. 

Phật dạy ngay nơi thân vô thường đó có tính biết thanh tịnh sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, sự vật như thế nào thì biết rõ như thế đó. Có vật thì thấy có vật, không vật thì thấy không vật vì tính biết ấy vẫn thường hiện hữu đâu có vắng thiếu bao giờ? Tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế. 

Còn tâm suy tư nghĩ tưởng, hết nhớ chuyện này đến nhớ chuyện kia, không lúc nào dừng nghĩ. Khi thì nghĩ tốt, lúc thì nghĩ xấu, có khi thì hiền như nai tơ, có lúc thì lại dữ như cọp sói. Như người có chút ít công phu do kiên trì, bền bỉ, biết cách buông xả vọng niệm, nên có khi ngưng bặt mọi suy nghĩ.

Vậy lúc đó chẳng lẽ mất mình hay sao? Tuy không có suy nghĩ phân biệt, nhưng vẫn thấy, vẫn nghe rõ ràng từng hình sắc, âm thanh. Mắt vẫn thấy hình ảnh sự vật, tai nghe thấu suốt mọi âm thanh lớn nhỏ, trời nắng thì biết nóng, gió thổi đến thì biết mát. Vậy ngay khi đó là ai biết?

 

TIỀN BẠC LÀM KHÔNG CHÂN CHÍNH BỊ 5 NHÀ CUỐN TRÔI TRONG HIỆN TẠI HOẶC MAI SAU

Tiền bạc nếu làm ra không chân chính thường hay bị năm nhà cuốn trôi: lũ lụt, hỏa hoạn, trộm cướp, bị vua quan tịch thâu và con cái bất hiếu phá sản.

Nhà lũ lụt: Chiến tranh, thiên tai, sóng thần, động đất, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra trên thế gian này. Nó đã tàn phá tài sản, vật chất của con người dưới mọi hình thức, bởi do nhân xấu mà ta đã gieo tạo từ vô thủy kiếp đến nay.

Nói đến lũ lụt, đất nước Việt Nam ta năm nào cũng có, nhiều nhất là hai tỉnh miền Trung, Bắc, luôn gây thiệt hại về tài sản và mất mát con người. Trong những tình huống như vậy, ai mà không ngậm ngùi, thương xót với sự mất mát, đau thương đó. Nhiều người không hiểu nên cho rằng số trời đã định, hay ông trời đang trừng phạt. Chúng ta cần phải hiểu cho rõ ràng thấu đáo, ông trời ở đây là chỉ cho luật nhân quả đang vận hành theo nguyên lý duyên khởi.

Ta khai thác tàn phá thiên nhiên một cách bừa bãi, nên tạo ra sự mất cân đối, và ai làm như vậy thì sẽ bị gió nghiệp cuốn vào vòng quỷ đạo đó mà chịu quả báo, cho nên có người bị, có người không. Thậm chí, có nhiều người đến sáu mươi bẩy tuổi mới xây cất được căn nhà khang trang, tậu được miếng vườn nho nhỏ để an hưởng tuổi già. Đùng một cái, một trận lũ xảy ra cuốn trôi hết tất cả, nên cuối cùng tay trắng vẫn hoàn trắng tay.

Sự mất mát đau thương đó ai mà không buồn khổ, kẻ tin theo truyền thống có ông trời tạo ra thì chấp nhận số phận đã an bài mà oán trách đấng tối cao. Người tin sâu nhân quả thì ngay nơi mất mát đó, họ cố gắng nhiều hơn để làm các việc có lợi ích cho nhân loại. Do đó, không có chuyện gì đương nhiên khi không mà xảy ra, mọi thứ đều có nguyên nhân tốt xấu của nó. Hiểu được như vậy rồi thì ta sẽ cố gắng tránh xa những việc làm xấu ác mà hay làm các việc thiện lành, tốt đẹp.

Nhà hỏa hoạn: Tất cả mọi tai nạn hầu như đều do con người gây ra. Trong sự vô ý tình cờ hay trong lúc giận dữ, ta có thể hủy phá hết tất cả. Lũ lụt hay hỏa hoạn là những tai nạn bất ngờ chỉ trong chớp mắt cuốn trôi tất cả, hoặc thiêu rụi sạch sành sanh.

Mọi việc xảy ra không có gì là đương nhiên khi không, hay ngẫu nhiên, tất cả đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Trong quá khứ, ta có thể phá hủy thiên nhiên, khai thác tài nguyên quá mức, hoặc vô tình làm cháy sạch tài sản của người khác. Nói cho rõ hơn, nhân vô tình có quả vô tình, nhân gian tham trộm cướp thì bị mất mát trở lại theo sự diễn biến của nhân quả.

Nhà trộm cướp: Kẻ ăn không ngồi rồi, lười biếng lao động, ham thích hưởng thụ nhiều, nên dễ sinh tâm trộm cướp, lường gạt của người khác. Trộm là lén lấy, cướp là công khai giành giựt lấy. Phạm vào tội trộm thì nhẹ hơn, một cái là lén lấy vì còn sợ người khác thấy. Còn cướp là hiên ngang công khai lấy trước mặt mọi người, dùng thế lực trấn lột, và có sự đe dọa, hoặc lợi dụng quyền thế để bắt buộc người đưa.

Xã hội lúc nào cũng lên án hai hành động này, và có luật pháp hẳn hòi để xử phạt. Nguyên nhân chính để xảy ra tệ nạn xã hội này là do lòng tham của con người. Từ lòng tham đó, con người muốn ăn không ngồi rồi để hưởng thụ, do quan niệm chết là hết, không có nhân quả, nghiệp báo. Một số người vì suy nghĩ lầm lẫn như vậy nên suốt cả cuộc đời rơi vào vòng tệ nạn xã hội, nhẹ thì nghèo cùng khốn khổ, nặng thì tù tội, bệnh tật, chết yểu.

Nhà vua quan tịch thu: Thời phong kiến độc tôn, vua là trên hết, thay trời trị vì thiên hạ, nên có quyền sinh sát trong tay. Khi làm vua thì theo tập cấp cha truyền con nối, được quyền ăn trên ngồi trước hưởng thụ mọi nhu cầu tối cao theo ý muốn riêng tư của mình.

Ngày xưa, có những luật lệ lạ đời, không có con trai kế thừa thì khi chết đi, gia sản phải được sung vào công quỷ của nhà vua. Hoặc một người làm sai bị tịch biên tài sản, và nặng hơn thì chu di cả ba họ theo cách diệt cỏ phải diệt tận gốc. Nếu ta không gian tham, trộm cướp, lường gạt của người khác bằng nhiều hình thức, thì làm gì ta bị vua quan tịch thu hoặc chế tài.

Thế giới con người ngày nay tuy không còn chế độ phong kiến vua quan như xưa kia nữa, nhưng luật pháp vẫn có điều lệ rõ ràng, ai có công thì thưởng, ai có tội thì trừng. Tuy nhiên, vẫn có những người không phạm tội, nhưng mà tình ngay lý gian, hoặc do thiếu trách nhiệm, nên phải bị tù tội và chịu bồi thường tiền bạc. Những trường hợp oan nghiệt như vậy là do quả xấu của quá khứ còn xót lại, nay hội đủ nhân duyên đến hồi phải trả.

Nhà con cái bất hiếu phá sản: Trong các sự mất mát đau thương của nghiệp trộm cướp, bị con cái bất hiếu, phá sản là nặng nề nhất. Bởi vì cha mẹ nào mà lại không thương con cái của mình, chính vì lẽ đó mà có nhiều gia đình phải tán gia bại sản, chịu tù tội và khổ sở vì con cái. 
Nhiều khi cha mẹ vì quá thương con nên chiều chuộng, cấp dưỡng quá mức mỗi khi có yêu cầu.

Cha mẹ vì mải mê lo công danh sự nghiệp, buôn bán làm ăn, nên không cần quan tâm, chăm sóc, con cái muốn gì được nấy. Thực tế trong cuộc sống, có rất nhiều gia đình cha mẹ làm lụng nhọc nhằn vất vả cả đời, vì thương con không đúng cách mà phải chịu cảnh tan nhà, nát cửa, khổ đau, nghèo đói.

Tóm lại, tiền bạc của cải làm ra không chân chính sẽ bị năm nhà cuốn trôi và phá sạch, nhưng nặng nề nhất là bị con cái bất hiếu phá sản. Cha mẹ vì thương con một cách mù quáng, chỉ biết làm ra tiền để chu cấp thôi, do đó làm cho con cái ỹ lại và lười biếng. Ai có thói quen như thế thì suốt cả cuộc đời chỉ báo cha, báo mẹ mà thôi, chẳng bao giờ thành công trong cuộc sống.

 

GIÀU HAY NGHÈO ĐỀU CÓ NỖI KHỔ RIÊNG 

Có hai gia đình nọ là bà con hàng xóm và là bạn bè thân thiết với nhau. Một người thì thật là giàu, cái gì cũng có. Một người thì thật là nghèo, cái gì cũng không.

Một hôm, người bạn nghèo sang nhà người giàu than thở số phận của mình sao quá nhọc nhằn, khổ sở, cuộc sống lúc nào cũng thiếu thốn, khó khăn. Chị nhà giàu liền nói: “bộ chị tưởng gia đình tôi sung sướng lắm sao! Từ khi giàu có đến giờ, tôi phải nhọc nhằn thức khuya dậy sớm chạy theo công việc đầu tắt mặt tối, không dám một ngày lơ lỏng, ăn không ngon, ngủ không yên, cứ nơm nớp lo sợ bị trộm cướp viếng thăm, lúc nào cũng sợ mất mát, thiệt thòi, khổ lắm chị ơi! Chị bạn nghèo nghe nói thế liền đáp, “nếu vậy thì chị chia bớt cho tôi đi, tôi thà chịu khổ một chút cũng không sao.” “Đâu được chị, bao nhiêu năm trời ròng rã cực khổ làm lụng vất vả, nhín ăn bớt mặc mới có được cơ nghiệp hôm nay”.

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy, chị bạn tuy giàu nhưng lại tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt, có của cải thà để hư hao, mục nát, không dám đem ra san sẻ hay giúp đỡ cho ai. Giàu như thế đâu có lợi ích gì cho nhân loại. 

Như có ông tỉ phú kia khi chết để lại một gia tài kết sù không có người thừa kế, cuối cùng tài sản bị sung vào công quỹ. Hằng ngày ông chỉ ăn cháo và cơm đạm bạc, mặc loại vải gai rẻ tiền, đi bằng loại xe cũ kỹ, trong khi gia tài có hơn 8 triệu đồng tiền vàng, chưa kể đất đai, ruộng vườn, nhà cửa. Khi còn sống ông làm việc quần quật suốt ngày không dám nghỉ ngơi, thấy người nghèo khổ đến xin miếng cơm, chén cháo sống qua ngày thì ông xua đuổi, “ráng làm lấy mà ăn, đồ hạng người làm biếng!” Cả đời ông chưa từng giúp một ai hay cho ai cái gì, thậm chí những người làm công trong nhà cũng không được no cơm, ấm áo.

Tuy nghèo nhưng biết nhân nghĩa, sẵn sàng giúp đỡ, sẻ chia với người khốn cùng để giúp họ qua cơn hoạn nạn, khó khăn. Nghèo như vậy cũng nên nghèo vì vẫn còn làm lợi ích thiết thực cho người khác. Chúng tôi cũng từng kể về câu chuyện chứng kiến trực tiếp trong cuốn “gieo trồng phước đức” về một gia đình người chồng bị chết trong cơn bão lũ, để lại 1 vợ cùng 6 đứa con thơ dại. Đứa lớn nhất chỉ mới 14 tuổi, cả gia đình đang ở nhà tạm để chờ cứu trợ trong cơn bão lũ, mặt mày đứa nào cũng đã xám xịt vì đói khát lâu ngày.

Ấy thế mà khi nhận được phần quà không đáng là bao, người vợ loay hoay sớt ra làm hai phần rồi nhanh chân cầm phần kia đem đi đâu đó. Lát sau cô quay trở lại, cười nói, “gia đình con may mắn được đoàn cứu trợ giúp đỡ, song bên cạnh còn nhiều gia đình khó khăn hơn gia đình chúng con, họ cũng chịu cảnh đói rét, thiếu thốn nhiều ngày”.

Tấm lòng cao thượng và sự hy sinh, chia sẻ của vị thí chủ ấy chỉ có các bậc Bồ Tát mới thực hiện được. Bản thân chúng tôi nhiều năm đi làm từ thiện mới thấy lần đầu có người thật sự nhân nghĩa, chan chứa tình yêu thương nhân loại bao la như thế. Nhìn lại việc làm của mình chẳng đáng là bao, chúng ta cần phải học tập và bắt chước hành động cao thượng từ người phụ nữ ấy. Miếng ăn mình cần để sống qua ngày mà dám dứt ruột để sẻ chia cho người khác.

Điều này quả thật rất hiếm có trên đời! Ngẫm lại việc này chúng tôi dặn lòng phải cố gắng hơn nữa để việc làm của hội ngày càng thêm phát triển, và càng thêm nhiều cá nhân tích cực hơn bằng cách mỗi tháng chỉ cần nhịn một hai bữa sáng để dành dụm giúp đỡ người khó khăn qua cơn hoạn nạn. “Kết nối yêu thương- Từ thiện duyên lành- Sẻ chia cuộc sống” là tâm nguyện của chúng tôi sau thời gian vấp ngã, được Phật pháp cứu vớt để làm lại cuộc đời.

 

GIA ĐÌNH NGƯỜI THÂN LÀ NỀN TẢNG CỦA XÃ HỘI

Con người ta ai cũng quý trọng thân này vì cho rằng nó là ta, thật của ta, nên cứ mãi chạy theo vào trường đời danh vọng, để làm sao cho có thật nhiều tiền bạc, của cải, vật chất sung túc, đầy đủ, dư dã. Từ chỗ bám víu lo cho thân này, nên tìm cách vơ vét, bóc lột về cho riêng mình thật nhiều, đã lo cho ta rồi đến của ta, vợ ta, con ta, cha mẹ ta, người thân của ta, đất nước ta v.v…

Chính vì quan niệm sai lầm trên, nên Phật thí dụ bà vợ thứ ba là gia đình người thân. Khi ta giàu có, quyền cao chức trọng thì ai cũng đến chúc mừng, tán thán, rồi nhờ vã, ăn theo để được giúp đỡ và kiếm chác chút đỉnh. Gia đình, người thân là nền tảng để phát triển hình thành nên một xã hội nếu trong gia đình biết sống hiếu thuận với ông bà cha mẹ, kính trên nhường dưới, vui vẻ, thuận thảo với anh em và sẵn sàng giúp đỡ, sẻ chia khi gặp người bất hạnh. 

Có ông lão đã gần 90 tuổi, nhưng không bao giờ biết lo tu tâm dưỡng tánh, nên suốt cả cuộc đời nhọc nhằn, lao khổ trăm bề. Lúc còn trẻ thì lo gầy dựng sự nghiệp để lo cho thân này, nên ráng làm thật nhiều tiền rồi lấy vợ, sinh con đẻ cái, con cháu, chắt chít đầy nhà. Đông con, đông cháu nên suốt ngày ông cứ vì thế mà bận rộn, lo hết việc này lại đến việc kia, không có thời gian nghỉ ngơi.

Hôm đó, trên đường đi giáo hóa, Phật biết ông sắp hết duyên phần, vì lòng từ bi nên Phật ghé nhà muốn ông thức tỉnh về sự vô thường, không dính mắc vào tình cảm, gia đình, người thân, để ông hồi tâm thức tỉnh trở lại, khi ra đi được an ổn, nhẹ nhàng mà sinh về cõi lành. Do đó, Phật đọc bài kệ vô thường cho ông nghe nhằm nhắc nhở và cảnh tỉnh.

Ông nói bài kệ hay quá chừng, nhưng bây giờ tôi chưa rãnh để học bài kệ đó được, phải lo coi thợ thầy, nhân công, để làm cho xong căn nhà mát năm gian, phiền Phật khi khác ghé lại để ta cùng nhau tham khảo nghĩa lý bài kệ. 

Chiều hôm đó, người nhà chạy đến tịnh xá báo tin ông đã bị cây rớt trúng vào đầu, chết liền tại chỗ. Câu chuyện trên là một bài pháp sống nhằm nhắc nhở hàng Phật tử chúng ta phải ý thức việc tu hành của mình. Khi còn trẻ thì ta phải nương nhờ sự lo lắng, giúp đỡ của cha mẹ về mọi phương diện, đến khi lớn khôn, trưởng thành thì ta có vợ có chồng và sinh con đẻ cái, gầy dựng giống nòi nhân loại. Sau khi lo tròn trách nhiệm chu toàn cho con cháu rồi, ta phải biết sắp xếp thời gian để tu tập chuyển hóa, sống vui vẻ hạnh phúc tuổi già để chuẩn bị cho đời sống kế tiếp được vuông tròn tốt đẹp hơn.

Trường hợp của ông già trên thật là diễm phúc mới có nhân duyên gặp Phật, nhưng vì ông ta cứ mải mê gầy dựng sự nghiệp thế gian mà cuối cùng bị tai nạn, chết bất đắc kỳ tử. Chết như vậy thì ba thứ thân thương nhất mà mình hằng ngày phải lo lắng cưu mang; trước tiên là lo cho thân này nên cố gắng phải làm ra thật nhiều tiền bạc của cải để đáp ứng mọi nhu cầu cho thân, rồi kế đến là cho con ta, cùng với những người thân thuộc, bà con hai bên.

Nhưng đến khi ra đi, những thứ đó đâu thể giúp được cho mình, cụ thể như ông trưởng giả đó kêu ba bà vợ phát tâm đi theo, có bà nào chịu đâu. Duy chỉ có bà vợ thứ tư khỏi cần phải hỏi, bởi bà đại diện cho việc làm và những thói quen của ta mỗi ngày, ta làm tốt hay xấu, đúng hay sai, có phước hay có tội, nhiều ít gì thì nó vẫn sẽ theo ta trong cuộc hành trình của đời sống kế tiếp.

Vậy chủ yếu cuộc sống của thế nhân hằng ngày ngoài công việc lo tròn trách nhiệm, bổn phận với gia đình người thân, ta cần phải sắp xếp thời gian tu hành để gầy dựng cho đời sống kế tiếp được tốt đẹp và hoàn chỉnh hơn.

Hiện tại, ta phải biết gieo tạo nghiệp lành thuần thục khi còn mạnh khỏe, đến lúc gần chết, tâm niệm cũng phải lành thì mới chắc chắn bảo đảm đi đến cõi lành. Còn nếu bình thường tạo nghiệp lành mà lúc gần chết tạo nghiệp dữ thì chưa bảo đảm đi đến cõi an vui, tốt đẹp. Còn nếu hiện tại khi ta chưa biết tu, lỡ gây tạo nghiệp dữ nhiều, lúc gần chết tâm niệm biết thay đổi thì cũng có thể chuyển đổi được phần nào nghiệp xấu ác trước kia, vì nghiệp không cố định. 

Phật vì lòng từ bi thương xót, muốn giúp cho ông lão ý thức việc sống chết mà lo thúc liễm thân tâm, chuẩn bị cho đời sống kế tiếp được tốt đẹp hơn, nên đến nhà khuyên nhủ, chỉ dạy, nhưng ông lão nào có hay biết gì. Ông còn hẹn Phật chờ đến khi nào rãnh rỗi thì hãy đến rồi cùng bàn luận nghĩa lý của bài kệ. Do đó, ông phải chịu chết bất đắc kỳ tử, chết như vậy thì khó lòng siêu thoát, vì đang còn dính mắc vào việc làm dang dỡ.

Nhiều khi, thần thức của ông phải chịu loanh quanh, lẫn quẩn trong nhà, vì luyến tiếc việc làm chưa xong, chính vì vậy mà ông có thể trở thành con ma vất vưỡng. Vì ông nghĩ thân này lâu dài bền chắc, bám víu vào sự nghiệp tài sản và lo lắng, cưu mang cho gia đình, người thân quá mức mà bị họa chết bất đắc kỳ tử như vậy. Người cư sĩ tại gia hãy suy tư, nghiền ngẫm lời Phật dạy qua câu chuyện trên, để chúng ta ý thức việc tu hành, biết cách sắp xếp hài hòa trong mọi công việc mà có thời gian hoàn thiện chính mình.

 

TU HÀNH CẦN PHẢI PHƯỚC ĐỨC ĐẦY ĐỦ

Người có đức thì không bị danh vọng, tiền tài, sắc đẹp, ăn ngon, ngủ kỹ chi phối, nên ta có thể làm lợi ích cho nhiều người mà không bị các thứ được mất, khen chê, tốt xấu, khổ vui sai sử và làm ô nhiễm.

Người có phước đức là người có cuộc sống ổn định về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Cuộc sống trong gia đình trên thuận dưới hòa, biết khiêm cung, lễ phép với người trên, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ kẻ dưới, luôn hiếu thảo với ông bà cha mẹ, biết dạy dỗ con cái điều hay lẽ phải, tránh xa bạn ác, gần gũi bạn lành.

Người đủ ăn đủ mặc,

Là người có phước đức,

Do đó nên ít lo,

Nhờ vậy mà dễ tu.

Là người Phật tử chân chính, chúng ta hãy nên biết phát huy hai mặt phước và đức song hành với nhau, giúp người vì tấm lòng tôn kính quý trọng, không phân biệt kẻ sang người hèn. Người có tấm lòng rộng mở mới có thể làm việc bố thí, cúng dường một cách vô điều kiện, có nghĩa là bình đẳng trong việc giúp đỡ, san sẻ, như trường hợp của ông Cấp Cô Độc.

Tuy ông giàu có bậc nhất trong thiên hạ nhưng ông vẫn khiêm cung; trên thì cung kính, tôn trọng người tu hành chân chính, biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ; dưới thì bình đẳng bố thí, yêu thương, giúp đỡ tất cả mọi người.

Ông là bậc mô phạm xứng đáng để hàng hậu học chúng ta bắt chước làm theo. Chính từ tấm lòng rộng mở để nâng đỡ tha nhân mà tâm ích kỷ của ta được chuyển hóa, tâm tham lam được giải trừ, tâm bỏn sẻn được thay đổi, tâm từ bi được tăng trưởng, tâm bao dung và độ lượng được phát triển, tâm buông xả được sáng ngời bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.

Ăn thì hết cho thì còn

Trong lịch sử Phật giáo, Cấp Cô Độc là tấm gương sáng ngời về hạnh bố thí, cúng dường Tam bảo và hết lòng cưu mang, giúp đỡ nhiều người bất hạnh với tinh thần thương yêu bằng trái tim hiểu biết, luôn sống vì lợi ích tha nhân. Ngài là một cư sĩ tại gia xứng đáng được người đời tặng cho danh hiệu vẹn toàn về hai mặt phước và đức.

Làm phước, bố thí, cúng dường hay nâng đỡ cho nhau là con đường dẫn đến tình yêu thương nhân loại, là cách thức để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc, nhằm giúp cho ta và người cùng ngồi lại bên nhau để được sống bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.

Trong dân gian Việt Nam có câu: Ăn thì hết, cho thì còn. Tại sao có chuyện lạ đời như vậy? Câu này nghe nói như ngược đời, nhưng thực tế quả thật không sai chút nào. Cái gì ta đang hưởng thụ, tiêu xài cho riêng mình thì không còn, nên nói ăn thì hết. Còn cái gì ta đang có mà dám đem ra giúp cho người thì cái đó mới chính là của ta, nên mới nói cho là còn.

Giống như người có tiền gửi vào ngân hàng, khi nào cần thì ta rút ra xài. Bố thí, cúng dường hay san sẻ, giúp đỡ là nấc thang đầu tiên giúp mọi người gần lại bên nhau vì sự yêu thương, quý mến, nên ta dễ dàng cảm thông và tha thứ, khoan dung và độ lượng; do đó thấy ai cũng là người thân, người thương của mình.

Đạo lý nhà Phật giúp ta mở rộng tấm lòng từ bi sáng ngời về hạt giống yêu thương từ việc bố thí, giúp đỡ chúng sinh bình đẳng qua nhiều hình thức. Từ đó, ta thấy việc làm bố thí, chia sẻ quan trọng ở tâm chân thành, nhờ vậy chúng ta sống với nhau có yêu thương và hiểu biết bằng tình người trong cuộc sống.

Bố thí cúng dường là con đường dẫn đến tình yêu thương nhân loại ngày càng thêm gắn bó, sâu sắc với nhau, bởi sự giúp đỡ, sẻ chia làm giảm bớt ân oán, hận thù. Bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia là nấc thang đầu tiên giúp các vị Bồ tát từng bước tiến lên con đường Phật đạo. Nhờ đóng góp, giúp đỡ, sẻ chia mà tâm ta an lạc, bình yên, hạnh phúc, nên ta thấy ai cũng là người thân, người thương của mình mà sống với nhau bằng trái tim hiểu biết. 

Nếu nói về làm phước, bố thí, cúng dường thời Phật còn tại thế thì khó có ai có thể bì kịp với cư sĩ Cấp Cô Độc. Khoảng cuối đời, cư sĩ Cấp Cô độc bị bệnh nặng.

Được tin, Phật bảo ngài Xá Lợi Phất và ngài A Nan trực tiếp đến thăm hỏi bệnh của ông có thuyên giảm chút nào hay không. Cấp Cô Độc trả lời, “Dạ, bệnh tình của con không hề giảm bớt mà còn nặng thêm, cơ thể của con đau nhức rã rời, khó bề qua khỏi”. Nhân đó, thầy Xá Lợi Phất mới chỉ dạy pháp tu rốt ráo cho cư sĩ quán niệm về Phật-Pháp-Tăng.

Phật là bậc giác ngộ chân chánh, là người tỉnh thức, là người đã vượt qua cạm bẫy cuộc đời, là người thấy đúng như thật, biết rõ thực hư của cuộc đời, là bậc đáng được tôn kính và xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của mọi người.

Pháp là những lời dạy vàng ngọc của Ngài, giúp cho mọi người chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.

Tăng là đoàn thể sống hòa hợp, hạnh phúc dưới sự chỉ dạy của Phật, vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn cho mọi người biết được chân lý của cuộc đời mà cùng tu theo. Cư sĩ thường xuyên quán niệm như thế thì sẽ được tăng trưởng phước báo và dần hồi giảm bớt tội chướng cùng với các phiền não khổ đau. Sau khi mạng chung sẽ được tái sinh vào các cõi Trời Người mà hưởng phước an vui, hạnh phúc.

Và cư sĩ nên tinh cần quán chiếu, soi sáng như sau: con mắt thấy sắc không bị sắc làm lay động, thấy chỉ là thấy, thấy một cách rõ ràng, không lầm lẫn, sự vật như thế nào thì biết như thế đó, không một niệm nghĩ suy phân biệt, cái này đẹp hay cái kia xấu, vì con mắt và hình sắc không phải là tôi và của tôi. Tương tự tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. 

Cư sĩ hãy nên xem xét, quán sát rằng, mọi pháp đều do nhân duyên sinh và nhân duyên diệt, không có thực thể cố định, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Trong thân này do 4 chất đất-nước- gió-lửa hòa hợp lại mà hình thành, không có gì là thực thể cố định cả. Cái được gọi là ta, là của ta, nó cũng không thật. Ai chấp vào đó thì sinh ra luyến ái, bám víu, mà lầm tưởng là thật ta, nên mới chấp ngã rồi muốn chiếm hữu.

Ai nghĩ và làm như vậy tức là người vô minh; do vô minh mà sinh ra vọng động; do có vọng động mà sinh ra vọng thức; do có vọng thức mà sinh ra phân biệt có đủ thứ ta-người, do có sự phân biệt ta-người mà sinh ra xúc chạm; do có sự xúc chạm mà sinh ra cảm thọ; do có cảm thọ mà sinh ra tham ái, luyến tiếc, và từ đó bám víu, dính mắc vào sự hiện hữu của nó, nên sống chết, khổ não, ưu sầu, buồn lo đủ thứ. Cư sĩ nên tinh cần quán chiếu sâu sắc như thế, cái gì có hình tướng đều vô thường, bại hoại, nên không có thật ngã”. 

Nghe đến đây, cư sĩ Cấp Cô Độc nước mắt ràn rụa vì đã nghe được điều chưa từng nghe từ trước đến nay. Ngài A Nan thấy thế, tưởng cư sĩ bất an, không kham nỗi giáo pháp siêu tuyệt giải thoát, nên mới hỏi Cấp Cô Độc, “cư sĩ vì sao lại thế?” Lúc này, Cấp Cô Độc mới nói trong nghẹn ngào, xúc động, “không ngờ đến giờ con mới được nghe giáo pháp thậm thâm, vi diệu, sâu xa như thế, giúp con thể nhập được lời dạy của Phật nên con mới xúc động như vậy”. Ngài A Nan nói, “giáo pháp này đức Phật thường xuyên hướng dẫn cho chư Tăng Ni”.

Nếu vậy, xin phiền thầy nói lại với Phật, hãy nói pháp giác ngộ giải thoát này để hướng dẫn cho hàng cư sĩ chúng con được biết để tu theo”. Nói xong, Cấp Cô Độc cảm thấy trong lòng an ổn, nhẹ nhàng, vì đã thâm nhập được đầy đủ pháp giác ngộ, giải thoát. Sau khi hai thầy Xá Lợi Phất và A Nan ra về, một hồi sau Cấp Cô Độc an nhiên xả bỏ xác thân và được sinh về cõi trời thứ 33 để hưởng phước báo vô lượng, vô biên, muốn gì được đó.

 

CON NGƯỜI DO MÊ LẦM NÊN SỐNG TRONG ĐAU KHỔ  

Ốc sên con một hôm thắc mắc hỏi mẹ: Mẹ ơi! Tại sao chúng ta từ khi sinh ra phải đeo cái bình vừa nặng, vừa cứng trên lưng như thế mà các loài khác không có như vậy? Ốc sên mẹ nói: Vì cơ thể chúng ta không có xương để chống đỡ, nên phải mang cái vỏ cứng bên ngoài để bảo vệ thân này. Chị sâu róm không có xương, tại sao chị ấy không cần đeo cái vỏ như mình vậy hả mẹ? Vì chị sâu róm sẽ biến thành bướm nhờ có đôi cánh nên tung bay đó đây và nhờ bầu trời bảo vệ. Ủa sao! Cô giun đất cũng không có xương, cũng không biến hóa được, tại sao cô ấy không đeo cái vỏ như mình vậy mẹ? Vì cô giun có khả năng chui xuống đất được, nên lòng đất sẽ che chở cô ấy.

Nghe mẹ nói như thế ốc sên con vừa khóc, vừa nói: Loài ốc chúng ta thật bất hạnh hơn các loài khác, bởi vì không có bầu trời bảo vệ, và lòng đất cũng chẳng che chở cho chúng ta. Vì vậy mà chúng ta phải đeo cái vỏ nặng nề này. Ốc sên mẹ nói với con rằng chúng ta không dựa vào trời, cũng chẳng dựa vào đất, chúng ta phải dựa vào chính bản thân mình để được sống và tồn tại.

Hình ảnh mẹ con ốc sên nói chuyện với nhau về cái vỏ bọc để che thân nó mang ý nghĩa do ngu si chấp thân làm ngã, nên phải bị đọa vào loài ốc sên để chịu quả báo. Loài bướm, loài giun được ví như các tín đồ cuồng tín không hiểu lẽ đúng sai của cuộc đời nên chấp nhận đấng tối cao ban phước giáng họa để sống một đời mê muội chẳng hiểu biết gì!

Cuộc sống của muôn loài vật được sinh ra bởi do thói quen chấp trước nhiều đời nên mới có thân tướng hình dạng khác nhau. Làm người dù xấu xí đen đúa khó coi nhưng vẫn tốt hơn các loài vật vì còn biết suy nghĩ, tìm tòi, nghiệm xét, phân biệt tốt xấu, đúng sai. Các loài súc sinh chỉ sống theo nghiệp nên không có khả năng suy nghĩ, do đó chịu sống một kiếp tối tăm mê muội vì đã hoàn toàn đánh mất chính mình.

Con người hơn các loài vật là ở chỗ biết phân biệt nếu gặp người khác chỉ dạy nhắc nhở hoặc tự chiêm nghiệm, suy xét nên dễ nhận ra sự sai xót của mình mà thức tỉnh trở lại. Khi chúng ta luôn sống với chánh niệm tỉnh giác nhờ vậy ta lúc nào cũng để hết tâm ý vào những gì mình đang tiếp xúc. Chúng ta biết quan sát sự việc đang diễn ra một cách rõ ràng, tường tận và trung thực. Nhờ vậy, ta dễ dàng làm chủ bản thân mà không đánh mất chính mình để bình thản an nhiên trước mọi xung đột, đổi thay của dòng đời nghiệt ngã.

 

OAN TRÁI TRONG CUỘC ĐỜI

Phật dạy yêu thương xa lìa khổ, oán ghét gặp nhau khổ, mong cầu không được như ý khổ. Nhờ có khổ như vậy nên chúng ta mới đến chùa tìm hiểu học hỏi, mong sao để được hết khổ. Nhưng phần đông rơi vào tình trạng lấy cảnh chùa làm nơi trốn tránh cuộc đời, trốn tránh trách nhiệm, bổn phận đối với gia đình người thân.

Cuộc sống thế gian có quá nhiều đau khổ nay mình biết chùa muốn tu, muốn dứt bỏ gia đình người thân, nhưng không ai cho phép? Nhiều người muốn vào chùa thọ bát quan trai một ngày một đêm nhưng gia đình không cho phép.

Ở đây chúng đang thấy một sự thật, vì mỗi khi trong gia đình có sự bất hòa thì phần lỗi ít nhiều gì đó đều do hai bên, không biết thông cảm cho nhau, không thực sự thương yêu nhau.

Tu học là nhằm mục đích để tỉnh thức, nhận ra những điều sai lầm mà trước đây mình không hề hay biết. Ai cũng muốn thương và được thương yêu một cách bình đẳng. Ngày nay, vợ chồng ly dị là chuyện thường. Sống chung mà không biết thương yêu nhau, chỉ làm khổ nhau thì tốt hơn là nên ly dị. Nhưng nhiều khi ly dị xong ta lại cảm thấy cô đơn, muốn đi tìm một người tình khác để yêu, để cưới và để rồi lại ly dị.

Nhiều lúc khổ quá, muốn đi tu, nhưng tu làm sao cho yên khi tình cảm dành cho nhau vẫn còn ướt át? Và chúng ta nên nhớ tu không phải là dứt hết tình nghĩa, mà là thay đổi quan niệm sống để không quá bi lụy trong tình yêu. Nếu chúng ta dứt hết tình cảm thì đâu còn là người nữa, tu như vậy vô tình ta ví mình như gỗ đá chăng?

Tu là sửa, là chuyển, là thay đổi. Từ đau khổ chuyển thành an vui, từ tình thương yêu ích kỷ, thành tình thương yêu bình đẳng, vị tha. Vào chùa học đạo mà chỉ biết thương Phật tượng, Phật gỗ mà không biết thương yêu kẻ khác thì đó chưa phải là người tu chân thật. Phật là người đại từ, đại bi thương tất cả chúng sinh một cách bình đẳng mà không phân biệt thân hay sơ.

Cuộc sống của chúng ta khi có mặt trên cõi đời này là phải ăn với uống để bảo tồn mạng sống, lớn lên rồi lấy vợ, lấy chồng để phát triển giống nòi nhân loại. Từ đó sinh chấp ngã và muốn chiếm hữu để bảo vệ gia đình mình, đất nước mình, người có quyền cao chức trọng nếu không tin sâu nhân quả sẽ tham nhũng làm lãng phí, gây thiệt hại trầm trọng tài sản của chung.

Có khi nào trong cuộc sống với bộn bề công việc, ta biết dừng lại để tự hỏi chính mình sinh ra đời để làm gì? Chắc chắn ai cũng nói rằng để lập gia đình, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường? Để gầy dựng sự nghiệp tương lai cho bản thân và gia đình? Từ quan niệm đó chúng ta chạy theo tiền tài, danh lợi, địa vị, tình yêu, sắc đẹp, của cải, và ăn sung mặc sướng!

Thật chất ta lớn lên lấy vợ lấy chồng không phải để thỏa mãn tình cảm nhục dục hay lấp vá khoảng trống cô đơn, mà là để học sự thương yêu và biết cách hòa hợp khi sống chung với nhau trong một mái ấm gia đình.  
Tất cả mọi người trên thế gian này ai cũng phải điều biết "tu tâm", nghĩa là chúng ta chừa bỏ những tâm niệm xấu ác có tính cách làm tổn hại cho người và vật. Nhờ vậy, chúng ta ngày càng mở rộng tấm lòng từ bi rộng lớn, để san sẻ nỗi khổ niềm đau, làm vơi bớt sự bất hạnh và sống tốt hơn, bằng tình người trong cuộc sống. 

Con người có tu mới sống được an vui hạnh phúc và khi gặp cảnh mất mát khổ đau của bản thân và gia đình, cũng không làm cho ta phải thất chí nản lòng vì ta đã có niềm tin nhân quả, niềm tin chính mình, hạnh phúc hay khổ đau là do mình tạo lấy.

 

HỌC HỎI PHẬT PHÁP ĐỂ BIẾT CÁCH BUÔNG XẢ

Khi đến chùa nghe pháp, chúng ta phải chú ý lắng nghe, nếu nghe xong mà không hiểu gì hết, thật là uổng công, vô ích biết chừng nào! Chúng ta tu học như thế biết đến bao giờ mới được trí tuệ rộng lớn. 
Phật pháp tuy khó nghe, nhưng chúng ta đang nghe và đã nghe, chẳng lẽ nghe xong rồi trả lại cho thầy hay sao?

Nếu đã như thế, chúng ta phải sanh tâm hổ thẹn, biết đây là nghiệp chướng sâu dày do nhiều đời không gieo trồng hạt giống trí tuệ, nên bây giờ mới bị lú lẫn, ngu ngô như thế. Biết được như vậy, chúng ta hãy nên thành tâm sám hối, cố gắng siêng năng, tinh tấn học hỏi chuyên cần.

Tại sao có người nghe một hiểu mười, nghe mười hiểu trăm, còn ta nghe xong chẳng hiểu gì hết. Bởi ta không gieo nhân thông minh trí tuệ, nên phải chậm lụt hơn người và kém hiểu biết. Biết được vậy rồi, chúng ta phải làm sao cố gắng học hỏi thêm nhiều hơn nữa để thông suốt lời Phật dạy, mà biết cách tu hành nhằm chuyển hóa phiền muộn khổ đau thành an vui, hạnh phúc. 

Kinh Phật thường dạy: Văn, tư, tu khi nghe pháp rồi chúng ta phải suy nghĩ, xem xét tìm ra nguyên nhân tốt xấu, đúng sai để ta bắt đầu tu sửa phiền não tham sân si thành vô lượng trí tuệ và từ bi. Ta không gieo nhân trí tuệ thì làm sao có quả thông minh sáng suốt. Có người sở dĩ thông minh, sáng suốt là do họ đã học hỏi và huân tập nhiều đời, không có gì là do bỗng nhiên khi không mà có được.

Ngài Lục tổ Huệ Năng cũng dốt nát, quê mùa, làm nghề đốn củi nuôi mẹ, chỉ nghe một câu kinh liền ngộ đạo và sau đó phát tâm xuất gia tu hành thành Tổ để lại nhục thân cho đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn. Trong suốt 8 tháng trời, ngài chỉ làm một việc giã gạo, nấu cơm; ấy thế mà Ngài được truyền y bát, làm vị Tổ thứ sáu lịch sử Thiền tông Trung Hoa. Sau này, Ngài đã báo trước ngày giờ ra đi trước 3 tháng và để lại nhục thân không bị hoại cho đến ngày hôm nay.

Khi đến chùa nghe pháp, chúng ta cố gắng học hiểu rõ ràng nghĩa lý lời Phật dạy, để rồi sau khi ra về nhớ đó mà ứng dụng, thực hành. Nghe học như thế thật sự mới có lợi ích thiết thực và xứng đáng là người Phật tử chân chính.

Nếu chúng ta đã đến chùa khi nghe thì hiểu, khi về thì quên, nên đụng chuyện phát sinh đủ thứ phiền não, làm cho mọi người mất niềm tin và không còn muốn tu học nữa. Tu học như thế vô tình phỉ báng Phật pháp; cho nên, chúng ta phải cố gắng tu học trí tuệ rộng lớn để chuyển hóa u mê, tối tăm thành trong sáng, thanh tịnh, chuyển hóa khổ đau thành an vui, hạnh phúc. Nghe pháp và tu học như vậy mới xứng đáng là người Phật tử chân chính.

 

TƯỚNG MẠO VÀ HÀNH ĐỘNG TỐT XẤU CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC  

Nhiều người rất từ bi và bao dung độ lượng nên có khuôn mặt phúc hậu hiền lành, người dịu dàng lương thiện thường có khuôn mặt xinh đẹp dễ nhìn. Người xấu ác thể hiện nét mặt hung dữ, rất nhiều người có phẩm tính không tốt, vẻ mặt thường cay nghiệt, nên dễ làm tổn thương nhiều người khác. Tướng mạo sẽ biểu lộ ra vận mệnh tương lai của một người theo hai chiều hướng tốt và xấu, tướng do tâm sinh cho nên từ tâm biết được vận mệnh của chính mình.

Đặc thù của tướng mạo có quan hệ với sự di truyền của bố mẹ, như màu da sắc tộc, tính nết của con người hoặc đẹp hay xấu đều ảnh hưởng nửa đời trước của chính mình, nghĩa là ảnh hưởng từ kiếp trước, nửa đời sau của một kiếp người, chính là mình tự quyết định. Chính vì vậy mọi người sẽ chịu trách nhiệm đối với hành vi của chính mình trong khoảng thời gian nhất định nào đó.

Lòng từ bi là một yếu tố quan trọng để kết nên một con người có phúc hậu. Người có thiện tâm, thường tỏa ra từ trường khiến nhiều người khác cảm thấy dễ chịu nên thích gần gũi tiếp xúc. Ngược lại người xấu ác tất khó nhìn, thậm chí người đó có khuôn mặt đẹp đẽ, thì trên mặt cũng lộ ra chỗ khiếm khuyết khiến người không thích, người xưa nói khuôn mặt không có duyên, khiến nhiều người không muốn hợp tác trên nhiều lĩnh vực. 

Chúng ta hãy hiểu rằng, tướng mạo là có thể từng bước thay đổi theo thời gian! Nhất là một khuôn mặt xinh đẹp phúc hậu sẽ có một lực hấp dẫn, khiến người sinh lòng mến mộ. Chính vì vậy, muốn có tướng mạo đẹp phải từ nội tâm trong sáng và từ bi. 

Một con người cam tâm chịu thiệt về mọi mặt, lại nhận được càng nhiều vì tâm họ trong sáng thuần khiết. Con người có thể chịu thiệt thòi một chút cũng không sao, nhân duyên tốt và cơ hội tốt sẽ đến nhiều hơn mình mong muốn. 

Người thích chiếm phần hơn thường chẳng được gì cả, vì họ phải bỏ ra con tôm để bắt con tép. Người có ánh mắt tiểu nhân, tâm địa nhỏ hẹp thường chỉ phô trương chủ nghĩa cá nhân, chẳng khác nào loài ốc sên chuyển thế. Mỗi người phải biết nỗ lực vun bồi duyên phước của mình. Đối xử tử tế với người thân, quan tâm người bên cạnh, biết khoan dung độ lượng với những người làm mình tổn thương, để mở rộng lòng rộng lớn.

Nội tâm trong sáng có thể bao dung người khác gọi là lòng từ vô hạn. Luôn vui vẻ hòa hợp với mọi người là một năng lực rèn luyện và biện pháp tốt nhất để hóa giải phiền muộn khổ đau là hãy quên đi. Không tranh giành là lòng từ bi rộng lớn, thấy biết thật giả phân minh là trí tuệ, biết đủ chính là buông xả.

 

KHIÊM TỐN ĐỂ XẢ BỎ TÂM CỐNG CAO NGÃ MẠN

Khiêm tốn để được học hỏi và xả bỏ tâm cống cao ngã mạn: là một loại đức hạnh làm chỉ cho người khác thương mến chúng ta, vì nó trái ngược tính cống cao ngã mạn, chỉ đưa đến sự hiềm thù mà oán ghét lẫn nhau. Nếu chúng ta muốn mọi người thích gần gũi mến thương, thì ta phải biết khiêm tốn. 

Người biết khiêm tốn luôn được mọi người yêu mến, quý trọng. Người khiêm tốn là người luôn có tấm lòng từ bi quảng đại, biết bao dung và độ lượng trong mọi vấn đề. Chúng ta hãy tâm niệm như sau:“Xin cho tôi được làm đất, để mọi người được dẫm lên”.

Người sống ở đời biết khiêm tốn mới học hỏi được nhiều điều hay, tu dưỡng phẩm chất đạo đức thanh cao, để làm gương sáng cho người học hỏi bắt chước tu tập theo. 

Người biết khiêm tốn là đi ngược lại với tâm cống cao ngã mạn, nên được nhiều người mến thương, người trí hoan hỷ chỉ dạy và giúp đỡ trong làm việc và tu sửa đạo đức. Nếu chúng ta tìm cầu danh vọng, phú quý giàu sang mà không thực hành hạnh khiêm tốn, thì khó mà thành tựu như mong muốn. Người hiểu biết nhiều và có địa vị cao thì càng phải khiêm tốn nhiều hơn nữa, đối với những người thấp kém hơn mình. Nhờ vậy, cuộc sống có nhiều ý nghĩa hơn, bởi ta biết thương yêu mọi người bằng trái tim hiểu biết. 

Người Phật tử chân chính phải có lòng yêu thương người vật, biết khiêm tốn nhún nhường trước mọi người, và hằng xét lại lỗi mình để tìm cách sửa đổi cho tốt. Như vậy, người khiêm tốn luôn đem lại niềm an vui hạnh phúc cho nhân loại, bằng tình người trong cuộc sống với tấm lòng từ bi rộng lớn.

 

HỒI HƯỚNG PHƯỚC ĐỨC MỖI KHI LÀM VIỆC TỐT

Hồi hướng phước báu mỗi khi làm việc thiện, có nghĩa là ta hoan hỷ muốn cho nhiều người khác cùng làm việc tốt với mình, nhờ vậy nhân loại sẽ bớt khổ đau nhiều hơn. 

Chúng ta có thể hồi hướng phước báu cho những người đang sống, vì có nhiều người đang sống trong si mê lầm lạc. Chúng sinh ở thế gian đâu phải ai cũng có hiểu biết chân chính, nên mỗi khi ta làm việc thiện hay tu tập được an lạc, để hồi hướng công đức cho mọi người cũng được như ta.  
Ngoài việc hồi hướng phước đức cho những người cùng sống với ta, chúng ta cũng cần phải hồi hướng cho những chúng sinh sống trong cảnh giới quỷ đói, đang thèm thuồng khao khát miếng ăn vật thực bằng sự tưởng tượng của con người. 

Chỉ cần chúng ta có lòng thành, mỗi khi ăn uống hay làm điều gì có ích cho người, ta hãy hồi hướng cho kẻ dương người âm được hưởng phần phước báu, đó là ta đang mở rộng lòng từ bi đến với muôn loài. Chính vì vậy, mỗi khi chúng ta làm điều gì có ích lợi hoặc thiện lành như giúp đỡ người khác, ta điều hồi hướng để mọi người được chung hưởng. 

Tóm lại, chúng ta muốn việc hồi hướng có lợi ích cho tất cả chúng sinh thì ta phải biết giữ giới, bố thí, thiền tập, tùy hỷ việc làm tốt, khiêm tốn, không cống cao ngã mạn và vận dụng lời Phật dạy để ngày càng được sống tốt hơn bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.

 

TÙY HỶ VIỆC LÀM TỐT CỦA NGƯỜI KHÁC ĐỂ CHUYỂN HÓA TÂM GANH GHÉT

Tùy hỷ công đức để chuyển hóa tâm ganh ghét tật đố: là hoan hỷ với những ai đã làm những việc thiện lành tốt đẹp bằng cách chia sẻ hay nâng đỡ người khác. Như thấy người làm việc giúp đỡ kẻ khác vượt qua cơn hoạn nạn. 

Đa số chúng ta, ai cũng mang sẵn thói quen ganh ghét tật đố, cống cao ngã mạn, tham danh hám lợi... Bởi có những tính xấu ấy, nên khi thấy ai làm điều gì tốt đẹp, chúng ta liền có phản ứng ngay bằng cách chỉ trích phê phán đúng sai về người đó. 

Vậy thế nào là tùy hỷ công đức? Tùy hỷ là vui theo, công đức là những điều lành, điều tốt, những điều đem lại lợi ích, hạnh phúc cho người khác. Nghĩa là thấy ai làm việc gì tốt, có công đóng góp lớn cho xã hội thì ta đều hoan hỷ phát tâm vui mừng và còn tán thán người đó. Hoặc thấy họ làm điều phước thiện, chúng ta hoan hỷ vui vẻ với việc làm của người, mừng thế gian có thêm một người tốt và bớt đi một người xấu. Sự hoan hỷ vui vẻ giúp cho con người sống yêu thương gần gũi với nhau nhiều hơn, bằng trái tim hiểu biết. 

Người phát tâm làm việc bố thí, chính họ đã khởi lòng từ bi thương xót giúp đỡ người khác. Thấy người bố thí, ta phát tâm tùy hỷ hoặc tìm cách trợ giúp theo, chính ta đã chuyển hóa được tâm ganh ghét tật đố ích kỷ của mình..

Phật ví dụ ngọn lửa của một cây đuốc dù đem trăm ngàn cây đuốc khác đến mồi, ngọn lửa ấy vẫn không bị hao mòn mà còn làm cho chung quanh đó sáng thêm. Tuy cùng làm một việc làm phước thiện, mà người phát tâm nhỏ hẹp thì công đức sẽ có giới hạn, người phát tâm rộng lớn thì công đức vô cùng tận. Trong kinh Phật dạy: “Người phát tâm rộng lớn để bố thí vật chất, của chỉ bằng hạt cải mà quả báo như núi Tu di. Ngược lại, người ôm lòng nhỏ hẹp bố thí, của bằng núi Tu di, công đức chỉ bằng hạt cải”. 

Khi thấy người làm việc bố thí, chúng ta phát tâm tùy hỷ việc tốt của người khác, chắc chắn người đó sẽ cảm mến ta. Ta tùy hỷ việc làm tốt của người khác không tốn hao tài sản, hay hao mòn sức lực mà đem lại niềm an vui hạnh phúc cho mình và người. 

Thấy người làm điều thiện, ta không phát tâm hoan hỷ, mà còn sanh tâm ganh ghét tật đố, khinh chê coi thường người ấy, làm họ thối Bồ đề tâm, ta và họ sẽ trở thành kẻ thù của nhau. Chính tâm ích kỷ tật đố, cống cao ngã mạn, đã làm cho mọi người càng trở nên xa lánh không thích gần gũi.

 

CHẾT LÀ LẼ ĐƯƠNG NHIÊN 

Có một Phật tử nhân ngày đầu năm đến Thiền Viện thăm Thiền sư và sau đó yêu cầu Thiền sư chúc phúc. Thiền sư liền chúc như sau: “Ông chết, cha chết, con chết, cháu chết, chắt chết, và chít chết.” Vị Phật tử nghe xong quá kinh hoàng, hoảng sợ nói: “Kính bạch thầy, hôm nay là ngày đầu năm sao thầy chúc con toàn sự chết chóc, thật là xui xẻo và bất hạnh cho gia đình chúng con.

Con muốn gia đình, người thân được sống an vui, hạnh phúc lâu dài chớ con đâu muốn gia đình con chết chóc, đau thương như thế. Kiểu chết hàng loạt như vậy thật khủng khiếp, hãi hùng.” Thiền sư từ tốn trả lời: “Ta chúc phúc như vậy là mong cho gia đình anh được đại phước đức. Vì sao? Vì gia đình nào mà được chết theo thứ tự từ lớn đến nhỏ quả là có phước báo to lớn.

Nếu trong một gia đình ông bà còn sống mà con cháu cứ chết dần, chết mòn thì thử hỏi gia đình đó có hạnh phúc được không? Hay là cành già không đổ mà lại đổ cành non. Có ai muốn như vậy không?” 

Thế gian này thật hạnh phúc là nhờ chết có trật tự, tức là ông già rồi thì ông chết, cha già rồi thì cha chết, con già rồi thì con chết, rồi đến cháu-chắt-chít đều theo thứ tự mà ra đi có trật tự. Chết có logic thì được gọi là hạnh phúc trọn vẹn, gia đình nào khi ông bà cha mẹ còn sống sờ sờ mà con cháu, chắt chít đều chết trước quả là một bất hạnh lớn lao. Như vậy, chúng ta thấy theo cách nhìn của thế gian khi được thì vui, khi mất thì buồn; “được” cho là an vui, hạnh phúc; “mất” cho là bất hạnh, khổ đau.

Với cái nhìn của các vị Thiền sư thì được hay mất là lẽ đương nhiên của cuộc đời, do đó không có gì để ta đáng phải bận tâm buồn phiền, lo lắng. Cho nên, “Sanh như đắp chăn Đông, Tử như cởi áo Hạ”. Sinh ra hay mất đi là việc bình thường của thế gian, ai rồi cũng phải đến lúc như thế. Cũng như hoàn cảnh ta đang nghèo khó mà bỗng dưng trúng số 10 tờ độc đắc, đêm đó ta có chắc mình ngủ được hay phải thức trọn cả đêm? Vì từ xưa nay mình chưa bao giờ được như thế, nay khi được lại quá sức tưởng tượng nên không tài nào chợp mắt. Và cũng như thế khi có việc mất mát, đau thương, mọi thứ vất vả gầy dựng đều đội nón ra đi, ta bị sốc, bị buồn rầu, đau khổ mà tiếc nuối mãi. 

Trong cuộc đời này có những việc thuận buồm xuôi gió nên ta được may mắn, tốt đẹp, hay còn gọi là “hên”. Ngược lại, những chuyện không may, xui rủi cứ đến với ta liên tục hết chuyện này đến chuyện khác. Chính vì những cái được-mất này mà làm ta dễ bị hụt hẫng, chới với, chơi vơi giữa dòng đời vô tận.

Ta cảm thấy đau lòng vì sự sống này luôn tràn ngập khổ đau, để rồi chịu chết trong si cuồng, khờ dại khi không đủ năng lực làm chủ bản thân, do đó trên oán trời, dưới trách đất, đổ thừa cho xã hội sao quá bất công. Người Phật tử chân chính khi đã tin sâu nhân quả rồi thì không còn phải bận bịu, lo toan những cái được hay mất mà chỉ biết làm sao trong hiện tại điều phục được từ ý nghĩ, lời nói, cho đến hành động luôn hướng về đạo đức mà làm các việc thiện lành, tốt đẹp.

 

NGƯỜI ĐỜI ĐƯỢC THÌ VUI MẤT LẠI BUỒN

Có một người họ Tái nên người ta thường gọi là Tái ông. Một hôm, con ngựa yêu quý và tốt nhất trong nhà đi đâu mất biệt không thấy trở về. Nghe tin hàng xóm mới đến chia buồn và nói lời an ủi: “Tội nghiệp cho cụ quá, cụ là người nhân từ, phúc hậu từ xưa nay, vậy mà có con ngựa quý lại bị mất.”

Lúc đó, Tái ông mỉm cười nói: “Cũng chưa chắc như thế đâu, nhiều khi trong cái rủi lại có cái may.” Vài ngày sau con ngựa đi mất trở về và còn dắt theo con ngựa khác đẹp đẽ hơn, khi đó hàng xóm mới đến chia mừng cùng ông: “Đúng thật cụ là người có phước, tưởng đâu mất con ngựa quý, không ngờ lại còn được thêm một con ngựa đẹp khác nữa.”

Lúc này, Tái ông cũng cười và nói: “Cũng chưa hẳn như vậy, biết đâu trong cái may lại có cái rủi thì sao.” Và đúng là rủi thiệt, con trai duy nhất của ông từ ngày có con ngựa mới đến nhà nó vui vẻ, thích thú quá nên cưỡi ngựa suốt ngày, do đó bị té gẫy chân phải bó bột.

Thấy vậy, hàng xóm mới đến chia buồn: “Tội nghiệp cho cụ, cụ chỉ có đứa con trai duy nhất mà bây giờ lại bị gẫy chân, chịu tàn tật suốt đời. Như vậy là trong cái may mắn lại có cái xui xẻo phải không thưa ông cụ?”

Tái ông không vì thế mà buồn phiền, ông nói: “Cũng chưa chắc đâu, biết đâu trong cái rủi lại có cái may thì sao.” Chừng vài tháng sau vì có giặc giã khắp nơi nên nhà vua bắt thanh niên đi lính thú, cậu con trai đó nhờ bị gẫy chân nên được ở nhà sống với cha già trọn vẹn. 

Chuyện được mất là lẽ đương nhiên trong cuộc đời, ai có đầy đủ phước duyên lắm nên mới ít gặp chuyện rủi ro, xui xẻo. Người đời khi được thì sinh vui mừng, khi mất thì sinh phiền muộn, khổ đau. Chúng ta thử làm một bài toán nhân quả xem sao, nếu kiếp trước ta tạo ít phước báo mà gây nhiều nghiệp ác thì cuộc sống hiện tại ta gặp nhiều gian nan, trắc trở, chẳng được gì. 

Ta muốn cuộc sống được nhiều hơn mất thì ngay bây giờ phải biết gầy dựng từ lòng tin sâu nhân quả, phải tích cực tu tâm dưỡng tánh, làm nhiều việc phước thiện. Chúng ta sống bằng tất cả tấm lòng phát xuất từ ý nghĩ cho đến lời nói mà thể hiện ra hành động chân chính để cùng mọi người sống bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. 

Ai đã từng có mặt trong cuộc đời mà không một lần gặp hoạn nạn hay vấp ngã, làm việc gì cũng thành công dễ dàng thì thường sinh tâm cống cao ngã mạn, khinh khi mọi người, làm cho thế nhân chán ghét, muốn lánh xa. Khi gặp hoạn nạn, mất mát, đau thương ta mới biết cảm thông cho hai đấng sinh thành đã vì ta mà chịu khổ nhọc trăm bề. 

Tái ông khi lần đầu tiên mất ngựa ai cũng nghĩ ông sẽ đau khổ, buồn rầu nên đến để an ủi và chia buồn cùng ông. Vậy mà ông vẫn bình thản, an nhiên, chẳng tỏ ra thái độ gì có vẻ buồn phiền nên mới nói “biết đâu trong cái rủi lại có cái may”.

Ông sống lạc quan, yêu đời như thế nên không bị hai ngọn gió được-mất làm lay động tinh thần, do đó luôn sống vui vẻ, thoải mái. Tương tự như thế, khi có thêm con ngựa đẹp do con ngựa mất dắt về ông cũng không vì thế mà hân hoan, vui mừng.

Chúng ta khi được thì vui, khi mất thì buồn nên niềm vui, nỗi buồn lúc nào cũng xâm chiếm tâm hồn. Có khi chúng làm cho ta thất điên bát đảo, có khi làm ta cảm thấy vui mừng, thích thú. Cứ như thế ta luôn bị hai ngọn gió được-mất này làm cho vui buồn lẫn lộn. Trong cuộc sống ai cũng thích được đầy đủ tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nhiều nên khi được thì mọi người thích thú, vui vẻ, phấn khởi, hả hê, cho đó là niềm an vui, hạnh phúc. Chính vì vậy mà ai cũng mong kiếm thật nhiều tiền để hưởng thụ lạc thú dù chúng ngắn ngủi, qua mau.

Khi gặp cảnh làm ăn thua lỗ, mất mát, suy sụp thì phiền não, khổ đau cứ thế chất chồng theo ngày tháng. Có những trường hợp thua lỗ mà tán gia bại sản, tan nhà nát cửa, thân bại danh liệt, sự nghiệp chẳng còn, bao nhiêu công lao gầy dựng gần cả đời người, nhất là những nhà triệu phú thường hay tự tử vì không đủ sức chấp nhận, chịu đựng.

 

PHẬT AN NHIÊN TỰ TẠI TRƯỚC MỌI KHEN CHÊ  

Nói đến khen chê ta hãy xem đức Phật khi bị như vậy Ngài xử trí thế nào? Một hôm, đức Phật đi trước và một nhóm sa môn ngoại đạo theo sau. Các vị sa môn trẻ hết lời khen ngợi đức Phật là vị tu hành chân chính, có trí tuệ và khả năng biện tài vô ngại, dám bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạ để đi tu và là vị thầy dẫn đường xứng đáng nhất thời đó.

Khi nghe như vậy các vị tỳ kheo cùng đi với Phật rất hân hoan, khoái chí vì thầy của mình được mọi người khen tặng nên bản thân cũng được thơm lây. Đi được một đỗi lại gặp đám đông khác nói: “Ông sa môn Cồ Đàm là kẻ phá hoại sự sống của nhiều người. Ai cũng thích tiền tài, sắc đẹp, danh vọng và ăn ngon, mặc đẹp, ngủ nhiều. Vậy mà ông ta lại khuyên không nên chạy theo và dính mắc vào chúng mà làm tổn hại thân tâm. Ông ấy đi đến đâu là người ta đổ xô theo đến đó để tu tập khiến chồng bỏ vợ, cha bỏ con để sống đời xuất gia”.

Như chúng ta đã biết, người trẻ tuổi thì khen Phật quá hay, kẻ lớn tuổi thì chê Phật phá hoại hạnh phúc gia cang của nhiều người. Vì Phật nói chuyện nhân quả hay quá nên nhiều người phát tâm tu theo. Khi nghe chỉ trích Phật vẫn an nhiên, bình tĩnh. Trong khi đó các vị tỳ kheo cảm thấy rất khó chịu, bực bội.

Đến chỗ có bóng cây che mát Phật mới bảo các đệ tử ngồi xuống rồi từ tốn nói bài pháp như sau: “Này các đệ tử, khi nghe lời khen ta chớ vội mừng vì mừng quá sẽ mất bình tĩnh, hễ mất bình tĩnh thì tâm bị dao động, khi tâm bị dao động thì làm sao ta biết rõ người ta khen đúng hay sai.

Khi nghe ai đó chê bai hay chỉ trích thì ta chớ có vội buồn, vì khi buồn ta sẽ mất bình tĩnh, lúc mất bình tĩnh thì ta không biết lời chê đúng hay sai. Khen chê là chuyện thường tình của thế gian, có nhiều người khen để lấy lòng thiên hạ, có nhiều người chê vì ganh tị tật đố. Cho nên, chúng ta phải sáng suốt, bình tĩnh trước những lời khen chê đó”.

Cuộc sống của chúng ta hằng ngày lúc nào cũng phải tiếp xúc với hai sự khen-chê. Ta phải lắng nghe lời khen hay tiếng chê để biết mà sửa mình. Ai khen đúng thì ta cố gắng tiếp thu, thay đổi. Ai khen sai ta phải dè dặt, coi chừng nhưng phải bình tĩnh, khoan mừng, khoan buồn, khoan giận, khoan ghét thì chúng ta mới sáng suốt để nhận thức được tiếng khen đó nhằm vào mục đích gì.

Khi bị chê ta phải biết lắng nghe lời chê để biết được họ nhằm mục đích gì, họ chê để hạ nhục uy tín của ta hay chê để ta biết mình sai mà cố gắng sửa sai sao cho tốt đẹp hơn.

Theo tâm lý học Phật giáo, tất cả chúng sinh khi nghe ai khen đều rất phấn khởi, vui mừng; khi bị chê thì rất bực tức, khó chịu, buồn phiền. Nhiều khi ta chịu không nỗi nên tức quá cãi lại thành ra hai bên đấu khẩu nhau, cuối cùng “chó le lưỡi, nai giạt móng”. Lời khen tiếng chê tuy không thật nhưng nếu ta chấp vào đó thì thành ra mình bị nó sai sử, khi thì vui mừng quá mức, lúc lại buồn rầu, khổ đau.

 

TRÍ TUỆ SỨC KHỎE VÀ TÌNH YÊU THƯƠNG NHÂN LOẠI

Với sự thay đổi quá nhanh của đất nước ta hiện nay làm cho con người tất bật, hối hả, vội vã, cho nên rất nhiều người bị công ăn việc làm chi phối hoàn toàn. Một số người không hiểu, cứ nghĩ rằng thành công là đạt được mục đích giàu có, danh vọng, uy quyền thế lực mà sự “thành đạt” là chúng ta biết cách dung hòa đời sống gia đình và xã hội. Thế cho nên, nếu chúng ta đã có việc làm ổn định, thì hãy dành chút thời gian của mình nhiều hơn nữa cho tình yêu, gia đình và bạn bè.

Sức khỏe chính là một trong những thứ tài sản quý giá nhất mà ít ai quan tâm đến, khi mất đi rồi chúng ta mới cảm thấy tiếc nuối. Khi còn khỏe mạnh, nhiều người thường lạm dụng sức khỏe của mình một cách quá đáng. Lười vận động, ăn uống thất thường… hoặc làm việc quá sức đều là những nguyên nhân gây ra các chứng bệnh như đau bao tử, béo phì, stress, suy nhược cơ thể...v.v…

Cơ thể của chúng ta là thánh địa cao quý nhất, nó giúp ta cân bằng giá trị cuộc sống bằng đôi bàn tay và khối óc. Chúng ta hãy biết cách điều hòa để bảo tồn nó mà làm những việc có ích lợi. Giữ cho cơ thể lành mạnh và tâm tư được trong sáng là bí quyết dẫn đến thành công và sự thành đạt. Cho nên là người Phật tử chân chính, chúng ta phải chú trọng đến sức khỏe ngay khi còn đang khỏe mạnh, đó chính là bí quyết để dẫn đến thành đạt. Ăn uống điều độ, làm việc có chừng mực, thường xuyên tập thể dục và sinh hoạt vui chơi giải trí hài hòa sẽ giúp chúng ta sống lạc quan, yêu đời hơn.

Một trong những bí quyết thành đạt trong cuộc sống là chúng ta phải biết cách làm chủ bản thân. Nhiều người có thói quen hay đổ thừa cho số phận, nên ít khi nào họ tự suy xét, tìm tòi để giải quyết những mâu thuẫn khó khăn trong cuộc sống. Họ cứ cầu mong chờ đợi, dựa vào đấng bề trên ra tay cứu giúp, họ ỷ lại và cầu cạnh nhờ vã vào người khác.

Chính vì vậy, yếu tố cần thiết để được thành đạt đó là chúng ta luôn tích cực lạc quan trước mọi vấn đề. Chúng ta hãy nên đối diện với khó khăn để tìm ra giải pháp, chính là một trong những yếu tố dẫn đến thành đạt. Người bi quan thường chán nản khi gặp thất bại, họ hay chùn bước và thối lui. Còn người lạc quan sẽ suy nghĩ tích cực và cố gắng bền chí duy trì, thì sẽ vượt qua khó khăn để vươn lên sự thành đạt.

Tiền bạc rất cần thiết và quan trọng, nếu thiếu nó thì ta không thể bảo tồn mạng sống, nhưng không phải là tất cả. Chúng ta làm ra tiền để phục vụ những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống chứ không phải để làm nô lệ tiền bạc.

Người thành đạt có khi không nhất thiết phải là một tỉ phú, mà là người thành công trên con đường sự nghiệp của mình và biết cách làm chủ bản thân, dung hòa cuộc sống. Chúng ta nên nhớ, tiền bạc chỉ là kết quả do mình làm ra, nó giúp cho ta được tiện nghi vật chất đủ đầy, chứ không phải là mục đích chính của cuộc sống.

Đa số chúng ta ai cũng nghĩ có thật nhiều tiền bạc và của cải là hạnh phúc, đó là điều lầm lẫn quá lớn của nhân loại, nên khi có quyền lực trong tay thì tìm cách vơ vét, gom góp về cho riêng mình, nhưng tiền bạc làm ra từ sự phi pháp rất khó mà tồn tại. Khi có nhiều tiền thì phải hưởng thụ, vui chơi trác táng, dễ dẫn đến sa đọa làm mình và người khổ đau, làm mất hạnh phúc gia đình và tác hại xấu đến xã hội.

Thường con người hay nói “đồng tiền đi liền khúc ruột”, nếu chúng ta chi ra một số tiền nhỏ vào một việc có ích nhưng vẫn xót xa, đau lòng vì ta chưa biết mở rộng tấm lòng nhân ái. Nếu chúng ta giàu có và thành đạt mà không dám đóng góp vào việc có ích cho nhân loại, ta đã đánh mất đi tình người trong cuộc sống. Tiền bạc chính là người đầy tớ tốt khi ta biết cách làm chủ trong việc chi tiêu hằng ngày, biết mở rộng tấm lòng nhân ái để giúp ích cho mọi người khi cần thiết.

Tiền bạc nói cho cùng, cũng chỉ là phương tiện để trao đổi hài hòa các nhu cầu cần thiết trong xã hội. Nếu ta không biết dùng tiền đúng chỗ, đúng nơi, hoang phí một cách vô bổ để phục vụ cho cá nhân và cộng đồng xã hội thì tiền bạc đó trở thành vô nghĩa.

Sự giàu có nhằm để cải thiện đời sống cho chính mình, đem đến sự sung túc, đủ đầy về vật chất, tạo dựng hạnh phúc gia đình cơm no áo ấm và còn mở rộng tấm lòng để chia vui, sớt khổ làm vơi bớt nổi đau bất hạnh.

Trong cuộc sống với bồn bề công việc ai cũng lo phải làm sao để được giàu sang và thành đạt mà quên đi yếu tố tình thương yêu nhân loại. Tình thương yêu chân thật xuất phát từ đâu? Và con người sẽ sống ra sao khi chúng ta chỉ đến với nhau bằng sự tham lam, ích kỷ, ganh ghét, tật đố và thù hận. Chính vì thế “tình thương yêu chân thật là hạnh phúc của con người” là ước mơ và khát vọng của nhân loại.

Tình thương không chỉ đơn thuần là một thứ tình cảm mà chúng ta thường dành cho nhau qua mối quan hệ trong cuộc sống. Bởi nó phát xuất từ tình cảm cá nhân được gói gọn trong phạm vi gia đình, người thân. Ngày nay khi cuộc sống với bộn bề công việc con người sống hối hả, vội vả với bao nỗi bất an, lo lắng và sợ hãi thì tình thương yêu chân thật không còn giữ đúng nghĩa của nó.

Tình yêu thương chân thật không đòi hỏi chúng ta phải giàu có, thành đạt mà nó cần chúng ta ở tấm lòng, biết quan tâm chia sẻ, giúp đỡ mọi người khi cần thiết dù chỉ là những thứ nhỏ nhất. Tình thương không chỉ giúp cho con người có thêm sức mạnh để tiến xa hơn trong cuộc sống mà còn giúp cho con người có sự bao dung và độ lượng, an ủi và sẻ chia, cảm thông và tha thứ với tấm lòng vô ngã, vị tha.

Chính vì vậy, chúng ta cần phải biết quan tâm giúp đỡ mọi người nhiều hơn nữa khi cần thiết, chúng ta giúp đỡ người già băng qua đường hay nhịn một chút phần quà sáng để giúp các em học sinh nghèo. Thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc khi con người ta có tình yêu thương chân thật.

 

BẤT MÃN NHƯNG PHẢI TÙY HỶ

Ai suy nghĩ rằng mình là người tốt và có thể thay đổi được mọi sự việc theo sự hiểu biết của mình đó là một điều lầm lẫn rất lớn. Khuất Nguyên vì suy nghĩ rằng những kế sách của mình là đúng, là tốt có thể giúp ích cho nhiều người...

Xưa và nay, xã hội là một trường đời hỗn hợp luôn dung chứa những gì có được trong cuộc sống, cái ác lúc nào cũng nhiều hơn cái thiện nên dẫn đến nhiều bất công vô lý.

Người tin theo thần quyền thì oán trách đấng tối cao sao quá thiên vị với một thiểu số con người. Người tin theo truyền thống cõi này là tạm bợ có cõi khác là vĩnh hằng nên trước khi chết phải giết hết người thân và chôn theo tài sản để hưởng phúc lạc ở cõi đó.

Người tà kiến không tin nhân quả công bằng nên mặc tình gây tạo tội lỗi, để rồi khi mất thân người phải đọa vào ác thú. Người chấp có linh hồn bất tử, nên khi có địa vị quyền thế mặc tình bóc lột kẻ dưới để phục vụ cho riêng mình. Những kiến chấp như thế, cho đến kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, lớn hiếp nhỏ chỉ vì mục đích phục vụ cho cái tôi này. Nên xưa nay, người sống vì lợi ích chung rất là hiếm, nhưng không phải là không có.

Một người lãnh đạo đất nước, nếu biết dùng tài năng đúng chỗ sắp xếp mọi việc hợp lý theo khả năng của từng ban ngành đoàn thể, thì mọi người sẽ sống an vui hạnh phúc. Cuộc sống này mỗi người có vị trí và chức năng khác nhau, luôn nương vào nhau, để bảo tồn cho nhau nên chúng ta phải có bổn phận và trách nhiệm bảo vệ lẫn nhau.

Trong cuộc sống của chúng ta biết bao sự thăng trầm được mất, nên hư, thành bại, người ý thức được nguyên lý tương duyên quả là điều hiếm có, cho nên biết bao người phải chết trong cuồng si mê muội vì không thấu rõ sự thật cuộc đời.

Trong lịch sử Trung Quốc có một vị tướng tài ba lỗi lạc tên là Khuất Nguyên, ngài có nhiều dự án tiến bộ để cải cách nền văn hóa giáo dục, pháp luật và các vấn đề chính trị. Với tâm huyết muốn làm cho nước nhà được mở mang và phát triển một cách tốt đẹp, nhưng không được nhà vua chấp nhận, bởi một số người dua dối nịnh bợ ngăn cản.

Khuất Nguyên vì nghĩ rằng việc làm của mình là chân chánh, nhưng không được chấp nhận nên đâm ra phiền muộn khổ đau, dẫn đến bực tức bất mãn với cả triều đình, cuối cùng chịu không nổi từ bỏ quan quyền không làm việc. Cuộc sống xã hội luôn tồn tại và phát triển theo lý nhân duyên, nhân quả. Con người không thể muốn mọi vấn đề, sự việc diễn ra theo sự sắp xếp của mình.

Ai suy nghĩ rằng mình là người tốt và có thể thay đổi được mọi sự việc theo sự hiểu biết của mình đó là một điều lầm lẫn rất lớn. Khuất Nguyên vì suy nghĩ rằng những kế sách của mình là đúng, là tốt có thể giúp ích cho nhiều người. Nhưng tại sao nhà vua không chấp nhận, trái ý nghịch lòng và thường xuyên xảy ra những điều bất như ý là chuyện thường xảy ra trong đời sống con người, ai khéo biết thì cuộc sống có phần an nhàn tự tại.

Khuất Nguyên là một kẻ sĩ, nhưng không biết kiên nhẫn chờ đợi thời cơ lại chấp trước quá nặng nề, nên không làm chủ bản thân dẫn đến ngông cuồng thất tha thất thiểu trong sự uất ức tột cùng. Ông ta rày đây mai đó như kẻ mất hồn trong trạng thái buồn chán khổ đau. Trong lúc vật vờ nửa tỉnh nửa say, ông ta gặp một lão chăn bò cũng là một triết gia ẩn dật lâu năm. Lão chăn bò hỏi ông có phải là ngài Tam phu đại nhân không? Ông ta gật đầu. Vì cớ sao ngài tiều tụy thế này, vóc dáng y như người bệnh cau có, bất mãn một điều gì đó. Phải,

“Đời đục cả, chỉ một mình ta trong,

Đời say cả, chỉ một mình ta tỉnh”.

Đời say sao ông không say với người, đời đục thì ông đục theo cớ gì phải tỉnh khi người ta say? Nói xong lão chăn bò bồi thêm cho một bài triết lý về sự đời:

Sông Tương nước chảy trong veo

Thì ta lội xuống rửa lèo mũ ta

Sông Tương nước chảy đục ngầu

Thì ta lội xuống rửa chân của mình.

Cuộc đời là vậy đó, nước đục thì ta rửa chân, nước trong thì nấu cơm giặt mũ. Sự vật ở mức độ nào, thì ta tiếp ứng theo mức độ đó thì sẽ hài hòa vui vẻ. Hoàn cảnh xã hội có nhiều người ý thức được trách nhiệm chung, thì ta sẵn sàng dấn thân phục vụ để cùng nhau tiến bộ. Ngược lại, sự sống nếu không thuận buồm xuôi gió, thì ta ẩn nhẫn chờ thời chớ một mình chống chọi dễ mang họa vào thân. Sau khi khuyên nhủ lão già ngông nghênh xong, lão chăn bò bỏ đi nơi khác.

Người có chí lớn, khi được ai đó khuyên lơn liền thức tỉnh thay đổi cách sống. Nhưng Khuất Nguyên vì không còn thấy ai là người tốt cả, nếu có sống cũng vô tích sự nên ông ta đành trầm mình xuống sông mà chết.

Hoàn cảnh môi trường, nơi ta đang sống thường đem đến cho chúng ta những điều không được hài lòng như ý, nếu ta không can đảm nhìn vào sự thật và chấp nhận nó như là một thực tại. Ta chấp nhận nó không phải để đầu hàng chịu thua, bởi vì cuộc sống này chúng ta phải khéo tùy duyên, tùy thời để có điều kiện đóng góp lợi ích thiết thực cho bản thân gia đình và xã hội.

Cuộc sống thế gian này là một chuỗi dài nhân duyên tốt và xấu, nếu ta không biết lạc quan nhìn đời với cặp mắt sáng suốt, thì ta sẽ bị chôn vùi theo năm tháng. Nếu chúng ta biết nhận thức đúng đắn, suy xét mọi việc tường tận sâu sắc và kiên nhẫn chờ đợi thì mọi việc tốt đẹp sẽ đến với ta trong nay mai.

Những điều trái ý nghịch lòng bất như ý luôn xảy ra trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nó dễ làm cho con người buồn chán bất mãn, tuyệt vọng, nếu ta không khéo tu để chuyển hóa chúng thì ta sẽ rơi vào vòng si mê điên dại.

Bất mãn là thái độ không hài lòng vừa ý trong hoàn cảnh hiện tại, do các tư tưởng và hành động xấu ác chiếm nhiều hơn. Người không có chiều sâu về tu tập, hoặc quá cố chấp cái thấy cái hiểu của mình muốn đưa ra ứng dụng, nhưng không được mọi người chấp nhận nên dễ dẫn đến cuồng điên dại dột.

Khuất Nguyên vì quá vội vã muốn đưa sáng kiến của mình để phục vụ nhân loại, nhưng không được vua chấp nhận thay vì ẩn nhẫn chờ thời và cố gắng làm tròn trách nhiệm của mình. Ông ta bất mãn không đúng chỗ cho nên thất vọng khổ đau đến cùng cực. Quá vội vã và cố chấp thấy mình tài giỏi hơn người đưa ta tới sai lầm nghiêm trọng, sai lầm thì không an ổn, thất vọng thì không còn niềm tin để sống và khổ đau làm cho ta tiều tụy héo mòn, bệnh hoạn và kết cục ta bị hủy diệt nhanh chóng. Thay vì chúng ta có tư duy sáng suốt, nên không vội vã bất mãn mà cố gắng tìm cách thuyết phục bằng hành động thực tế.

Buồn khổ phiền muộn bực tức hay ghét ai trong vội vã, ta dễ bức xúc vì thấy ai cũng là người xấu, nên ôm hận thiên thu mà chịu chết một cách oan uổng và đáng tiếc. Tại sao ta hay vội vã trong mọi công việc, đi cũng vội vã, ngồi cũng lăng xăng, nằm cũng lật đật, ăn uống cũng vội vã cho qua mau để tranh thủ việc khác.

Mạng sống của chúng ta dài hay ngắn, an hay không an, tùy thuộc vào sự định tĩnh của ta. Mỗi ngày ta có hai mươi bốn giờ, tám giờ cho ngủ nghỉ, tám giờ cho làm việc, tám giờ còn lại cho ăn uống và hưởng thụ. Ta chỉ dành một giờ cho quán chiếu chiêm nghiệm cuộc sống, hết lòng tận tụy trong mọi công việc thì ta sẽ biết được cái gì nên làm và cái gì không nên.

Nhờ có quán chiếu soi rọi hằng ngày như thế, tâm ta có định tĩnh, có tĩnh lặng sâu nên các dấy niệm bất mãn hận thù không có cơ hội phát sinh, do đó ta không bị áp lực của sân hận mà biết sống tùy duyên, tùy thời, để thân tâm ta không bệnh hoạn nên mạng sống lâu dài.

Ngài Khuất Nguyên vì không biết sống tùy duyên, tùy thời mà cố chấp quá mức nên thân tâm bị bốc lửa sân hận, rồi đâm đầu xuống sông mà chết. Chết như vậy chẳng giúp ích gì được cho ai, mà lại còn hại mình vì tâm niệm sân hận quá lớn, nên chắc chắn kiếp tái sinh tới sẽ bị đọa vào địa ngục chịu nhiều đau khổ cùng cực vì cái thấy biết sai lầm và sự cố chấp của mình.

Chúng ta có quyền bất mãn, nhưng không bi quan yếm thế mà cần phải bền chí kiên trì làm một việc gì đó thật sự có lợi lạc cho nhiều người. Thế gian là một trường đời ngang trái, thuận theo cũng chết, đi ngược lại cũng chết, chỉ biết mới có thể tồn tại lâu dài. Do đó ta phải biết chuyển hóa tâm niệm xấu bằng cách buông xả chúng, không nên để chúng âm ỉ sôi sục bên trong, mà tạo ra nội kết bất mãn trong tuyệt vọng.

Cuộc đời không hoàn toàn buồn chán khổ đau như nhiều người thường lầm tưởng, chúng ta có thể nghe tiếng gió thổi, thông reo, tiếng chim kêu ríu rít như một bản nhạc lòng hòa cùng niềm vui cho nhân loại, không nên quy kết cuộc đời là hoàn toàn đau khổ, vô tình dẫn ta đến chán nản phiền muộn khổ đau mà nguyền rủa cuộc đời, sao quá bất công.

Cuộc đời vẫn đẹp và trong sáng như những vì sao, chỉ có tâm ta vẩn đục làm lu mờ lý trí, ai còn đang vướng mắc trong cái vòng lẩn quẩn ấy hãy nên sáng suốt vượt qua. Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao. Dù đạn bom vẫn gầm thét trong trời đất bao la này. Có hiểu biết chân chánh, có niềm tin vững chắc, ta vẫn vui với dòng đời ngang trái mà không làm tổn hại cho ai.

 

PHẬT TỰ TẠI TRƯỚC MỌI SÓNG GIÓ CUỘC ĐỜI  

Đức Phật của chúng ta ngày xưa cũng bị nhiều người hủy nhục trước mặt vua quan, thần dân thiên hạ. Khi bị cô gái giả làm bụng bầu bêu xấu trước mặt mọi người: “Sa môn Cồ Đàm đã lấy em rồi mà ngày nay bỏ bê em như thế này để em phải bụng mang dạ chữa, sao anh đối với mọi người đều từ bi thương yêu bình đẳng mà lại để em thành ra nông nỗi.  
Nếu anh không có thời gian để lo cho em thì hãy nên nhờ bà Tỳ Xá Khư chăm sóc, giúp đỡ cho em chứ?” Trước mặt đại chúng, Phật an nhiên trả lời “chuyện này chỉ có tôi biết, cô biết” mà không cần phải đính chính hay minh oan một lời nào. Sự thật vẫn là sự thật, trời xuôi đất khiến thế nào mà trong lúc cô ta đang diễn kịch thì cái bụng bầu giả bằng gối rớt xuống trước mặt mọi người. Cô gái quá xấu hổ nên nhanh chân bỏ chạy, nhiều người tức quá chạy chửi theo “đồ thứ con gái hư thân mất nết”.  
Chuyện đó xảy ra không bao lâu thì một chuyện khác lại kinh hoàng, khủng khiếp và độc ác, dã man hơn làm rúng động lòng dân trong cả nước. Bọn người đê tiện, thấp hèn muốn hại Phật lần này đã tung một chiêu đòn quyết định, chúng muốn tẩy chay cả giáo đoàn đức Phật cho bằng được nên lập mưu bày kế tinh vi hơn lần trước gấp trăm ngàn lần. Kỳ này chúng mướn bọn nghiện rượu giết một cô gái đẹp rồi giấu trong Tịnh xá chỗ Phật ở và lên trình báo với vua quan cô gái ngoan đạo của họ một thời gian gần đây hay đến Tịnh xá của Phật nghe pháp và bây giờ đã bị mất tích.

Chúng yêu cầu nhà vua phải làm sao tìm cho được cô gái ngoan đạo ấy. Vua Ba Tư Nặc cho mở cuộc điều tra và cuối cùng tất cả mọi người đều phát giác ra cô đã bị giết và xác được chôn trong Tịnh xá. Sự thật đã quá rõ ràng, đâu còn ai nghi ngờ gì nữa vì mọi người đều tai nghe mắt thấy rõ ràng. Vậy ai là thủ phạm đã giết cô gái và chôn ở chỗ Phật? Phật à, không thể nào có chuyện đó xảy ra, đệ tử Phật cũng không thể nào làm như vậy. 

Bọn người xấu lúc này lợi dụng thời cơ đem xác cô gái bỏ lên xe chở đi khắp thành Xá Vệ và rêu rao Sa môn Cồ đàm đã bức tử cô gái. Sự việc xảy ra quá bất ngờ làm cho vua Ba Tư Nặc không biết giải quyết ra sao vì ông biết chắc Phật trước kia là thái tử Sĩ Đạt Ta có vợ là hoa hậu đẹp nhất thời bấy giờ và có cả hàng trăm cung phi mỹ nữ tuyệt nhưng Ngài vẫn từ bỏ hết để sống đời tu hành đơn giản.

Nhà vua biết chắc đây là âm mưu sâu độc của bọn xấu ác vì lòng tham lam ích kỷ, ganh ghét tật đố mà làm chuyện tày trời như vậy để vu oan hủy nhục đức Phật. Những cuộc điều tra bắt đầu, nhà vua cho tung ra nhiều thám tử tài ba lỗi lạc có mặt khắp nơi để dò la tin tức. Bốn chúng đệ tử xuất gia và tại gia thì buồn rầu, lo lắng chờ đợi kết quả cuối cùng. 

Riêng bọn người xấu ác thừa dịp này rêu rao tuyên truyền, tung tin rằng xác cô gái chết do sa môn Cồ Đàm quá thất nhơn ác đức đã hãm hiếp cô gái rồi giết luôn và chôn ngay chỗ ở. Lúc này những người hiểu biết đạo chỉ biết trông chờ kết quả điều tra để minh oan cho Phật. Người không hiểu đạo thì nguyền rủa đức Phật sao mà quá tàn ác, nhẫn tâm. Kẻ bếu rếu, người chửi bới làm náo loạn khắp cả thành Xá Vệ. 
Lệnh khẩn cấp được ban hành giới nghiêm 24/24, toàn thể chư Tăng đều phải ở yên một chỗ, không ai được rời khỏi trú xứ cho đến khi nào điều tra được vụ án, nếu ai vi phạm sẽ bị xử trảm ngay. Một ngày trôi qua, hai ngày trôi qua nhưng vẫn không có tin tức gì sáng sủa. Nhiều người đang bất mãn, buồn chán, thất vọng, lo âu về sự thật quá phũ phàng, từ xưa đến nay có bao giờ xảy ra vụ án mạng tày trời như thế.

Nhưng trời đâu có hại người ngay, nhân quả rất công bằng, gieo gió thì gặt bão, giết người thì bị người giết lại. Đến ngày thứ ba thì ban chuyên án đã tìm ra manh mối để đem lại sự trong sạch cho Phật và giáo đoàn. Ai hay tin cũng thở phào nhẹ nhõm và mừng thầm trong bụng vì đã qua cơn đại nạn.

Số là bọn nghiện rượu sau khi giết cô gái xong đã nhận được số tiền lớn từ tay bọn xấu ác, nhưng do ăn chia không đồng đều nên trong lúc ăn nhậu cùng nhau, chúng đã cãi cọ, tranh giành nhiều ít và bị quan quân phát giác, tóm cổ.

Thế là cả bọn đều được đưa về cung vua chờ lệnh xét xử, bọn chúng sợ quá nên đã khai hết. Có một số người ngoại đạo đã mướn họ giết cô gái để tẩy chay giáo đoàn của Phật. Vua tức giận quá cho người bắt ngay kẻ chủ mưu quăng liền vào hầm lửa để thiêu sống, những tên giết mướn đều bị giam vào ngục chờ lệnh xét xử sau. 

Chuyện xảy ra như vậy mà Phật vẫn bình tĩnh, an nhiên, không mảy may dao động trước sự phao du hủy nhục quá nặng nề. Phật không hề đính chính hay minh oan mà vẫn âm thầm lặng lẽ chờ đợi kết quả hiện thực. Phật an nhiên, tự tại, bất động trước Tám cơn gió lốc cuộc đời nên ngày hôm nay ta thờ Phật, cung kính lễ lạy Phật vì nhân cách siêu phàm vượt Thánh của Ngài mà cố gắng bắt chước tu tập để vượt qua cạm bẫy cuộc đời trước Tám ngọn gió được-mất, khen-chê, danh thơm-tiếng xấu và khổ-vui.

Đức Phật bình đẳng giáo hóa chúng sinh không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán, không oán giận kẻ hại mình mà còn khoan dung độ lượng để họ cải tà quy chánh. Thứ đến Ngài tùy căn cơ chúng sinh mà nói pháp thích hợp để giúp họ chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc. Bất kể là thành phần nào trong xã hội khi gặp Phật đều được lợi lạc, an vui.

Chính vì việc làm và hành động cao thượng của Ngài đã để lại tiếng thơm muôn thuở cho đời giúp chúng ta biết cách làm chủ bản thân mà sống bình yên, hạnh phúc. Hương thơm của các loài hoa có ngào ngạt cách mấy cũng không bằng hương thơm của người đức hạnh luôn bay ngược chiều gió để lại cho đời bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.

An nhiên tự tại trước đám đông khi bị hủy nhục 
Ngày xưa, có một vị cao Tăng đức độ nuôi dạy gần 500 đồ chúng, đến khi tuổi già sức yếu bệnh hoạn mà chưa chọn được người kế thừa. Để tìm kiếm bậc Pháp khí trong nhà Thiền, vị cao Tăng bày ra kế điệu hổ ly sơn, tung tin bị mất trộm tiền Tam bảo làm trong chúng ai cũng hoang mang nghi ngờ lẫn nhau.

Một hôm khi chúng đang ngủ trong giờ trưa, vị cao Tăng la lớn: “Ăn trộm, ăn trộm.” Mọi người hoảng hốt chạy theo tiếng la, vị đệ tử lớn chạy vào liền bị vị cao Tăng thộp cổ áo mà nói lớn: “Ta bắt được trộm rồi”. Chú đệ tử nói: “Dạ không, con không phải là tên ăn trộm, con nghe la ăn trộm nên con chạy vô phụ thầy bắt ăn trộm.” Bằng chứng sờ sờ trước mắt nên không thể nào chối cãi, chư huynh đệ pháp lữ trong chúng ai cũng thấy thầy tay thộp cổ áo sư huynh mà la “ăn trộm, ăn trộm”.

Cho nên, vị đệ tử lớn liền bị khai trừ ra khỏi chùa ngay tức khắc mà không hề được minh oan. Trục xuất xong vị thầy còn viết giấy truyền cho các chùa khác không được chứa chấp thầy ấy vì tội ăn trộm đồ của Tam bảo. Vị đệ tử này xưa nay được Tăng chúng tín nhiệm chức thượng thủ trong chùa, chú còn là người mô phạm dạy dỗ chúng Tăng. Đột nhiên bữa nay lại bị mang danh tên ăn trộm và bị đích thân thầy mình viết giấy khai trừ khỏi Tăng chúng một cách công khai, thử hỏi ai nằm trong hoàn cảnh ấy mà không đau khổ.

Chỉ trong thoáng chốc bao nhiêu tiếng xấu đổ dồn vào vị sư huynh và bị mọi người khinh chê, coi thường, ai rơi vào hoàn cảnh này mới thấy thật tội nghiệp cho vị sư huynh ấy. Đường đường cũng là một vị Tăng tướng dung mạo trang nghiêm mà giờ đây chịu nuốt lệ đau thương ngậm ngùi, cay đắng trước một sự thật không thể ngờ. 

Bị thầy hủy nhục như vậy trước mặt đồ chúng nên bao nhiêu uy tín từ xưa đến nay bỗng phút chốc tan tành theo mây khói. Vậy mà chú đệ tử ấy không hề buồn giận, trách móc hay thể hiện một nét mặt nào tỏ thái độ oán ghét vị thầy.

Chú vẫn một lòng cung kính và tôn trọng thưa: “Xin thầy hãy từ bi cho con ngủ đỡ ngoài cổng Tam quan cũng được, để mỗi ngày con còn được học hỏi và phụ giúp chúng Tăng làm việc”. Ấy vậy mà vị thầy cũng không chịu buông tha nên nói rằng nếu ở đó thì phải chịu trả tiền ngủ nhờ.

Dù bị thầy hủy nhục, hành hạ, làm khó dễ đủ điều nhưng chú vẫn một lòng tôn kính thầy mà siêng năng gia trì tinh tấn tu hành. Thời gian như vậy kéo dài gần 3 tháng, chú vẫn một lòng tín tâm, không một lời than vãn hay trách móc điều gì.

Cuối cùng, vị cao Tăng cũng tìm ra được bậc chân truyền, hôm đó ông đã chính thức tuyên bố trước đại chúng: “Ta bây giờ đã tìm được người kế thừa, mong đại chúng sau này khi ta viên tịch rồi thì hãy nghe theo lời chỉ dạy của sư huynh các người.” Nói xong ông thầy từ giã đại chúng rồi an nhiên ra đi.

Trong lịch sử nhân loại từ xưa nay biết bao nhiêu bậc vĩ nhân, hiền Thánh vẫn thường bị vu oan giá họa nhưng các ngài vẫn bình tĩnh, an nhiên chứng minh cho đời sự trong sạch của mình bằng chất liệu của từ bi, vô ngã, vị tha. Vị đệ tử đó nếu không gặp hoàn cảnh khắc nghiệt như thế thì vị cao Tăng làm sao biết được đệ tử của mình đã vượt qua Tám gió thật sự và để tất cả đại chúng có đủ niềm tin mà nương tựa học hỏi, tu hành.

Nếu gặp thầy nào còn quá yếu thì khi bị vu oan giá họa như vậy chắc có lẽ sẽ hận vị thầy của mình suốt cả đời. Nhờ thử thách đó mà vị thầy biết rõ đệ tử của mình đã qua được Tám gió được-mất, khen-chê, danh thơm-tiếng xấu và khổ-vui. Nghịch cảnh hay chướng duyên đối với người trí chỉ là thử thách nên họ vẫn bình thản, an nhiên khi bị hủy nhục sai sự thật trước mặt mọi người.

Giả sử như lúc đó tôi đang ở trong hoàn cảnh này thì có lẽ tôi sẽ đùng đùng nỗi giận mà oán ghét ông thầy của mình rồi bỏ đi không một lời từ giã. Tám gió thổi chẳng động là thước đo để kiểm nghiệm người tu hành chân chánh, nếu ta không trải qua những hoàn cảnh đau thương, nghiệt ngã như thế thì làm sao ta biết.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online