Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow SƠ BỘ NGHIÊN CỨU TỰ ĐỨC THÁNH CHẾ TỰ HỌC
SƠ BỘ NGHIÊN CỨU TỰ ĐỨC THÁNH CHẾ TỰ HỌC PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Đình Hòa - Trần Trọng Dương dịch   
28/10/2016

SƠ BỘ NGHIÊN CỨU TỰ ĐỨC THÁNH CHẾ TỰ HỌC – CUỐN TỰ ĐIỂN HÁN - VIỆT THẾ KỶ 19

* Nguyễn Đình Hòa - Trần Trọng Dương dịch

1. Việt Nam thời xưa có các sách khải mông hay tự biểu được dùng để dạy chữ Hán cho trẻ đồng ấu, những sách này do người Hán soạn (như Nhất thiên tự, Tam tự kinh…) hay do chính người Việt biên trứ. Trong số những sách vỡ lòng được sử dụng phổ biến nhất trong trường học của các học giả Việt Nam, có “những cuốn từ điển mang tính văn hóa” [Nguyễn Đình Hòa 1987] như Nhất thiên tự [NĐH 1963 & 1989], Tam thiên tự [Nguyễn 1973 & 1989], Ngũ thiên tự

 

Đây thường là những tác phẩm của các tác giả khuyết danh, là bảng kê chữ Hán và các từ tương đương trong tiếng Việt, được trình bày bằng thơ, có thể là sử dụng lục bát hay tứ ngôn, các thể thơ này tồn tại với tư cách là phương thức học thuộc lòng và giúp nhớ chữ.

Vua Tự Đức (1829 - 1883) triều Nguyễn (1802 - 1945), người đã trị vì từ năm 1847 đến năm 1883, nổi tiếng với tư cách của một nhà Nho uyên bác, ông viết cuốn từ điển Hán Việt bằng thể thơ lục bát: Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca. Bài viết cố gắng phân tích chi tiết cuốn từ điển song ngữ này thông qua việc giới thiệu những nét đại quan về cấu trúc của chữ Nôm và thảo luận xem chữ Nôm ghi âm tiếng Việt thời đó như thế nào và các phương thức vay mượn đã ảnh hưởng đến việc dạy tiếng ra sao ở một đất nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán trong suốt giai đoạn dài như vậy.

2. Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca được khắc in năm 1898, nhưng cũng giống như các tư liệu khác, văn bản này đã được chuyển khỏi Hà Nội vào năm 1954 và lưu trữ tại chi nhánh Đà Lạt, Thư viện Quốc gia Nam Việt. Hai thập kỷ sau, hai bản in mới của cuốn tự điển này đã được xuất bản, hai bản này đều được biên tu và phiên âm toàn bộ sang quốc ngữ, một bản của giáo sư Trần Kinh Hòa (Hồng Kông 1971) và một bản của Phương Thủ Nguyễn Hữu Quỳ (Sài Gòn 1971).

Trần Kinh Hòa, giáo sư thỉnh giảng môn lịch sử tại đại học Huế từ năm 1958 đến năm 1962, chủ nhiệm Quỹ dịch thuật các tư liệu lịch sử triều Nguyễn, đã phiên âm toàn bộ văn bản này trong cuốn Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca dịch chú (Đại học Hồng Kông 1971). Bản sau do Nguyễn Hữu Quỳ thực hiện, xuất bản dưới sự tài trợ của Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hóa; bản này chỉ cung cấp bản phiên Nôm phần đầu của quyển 2 Kham dư cùng với nguyên bản của năm quyển đầu, tức là chỉ có Kham dư và ba phần của Nhân sự. Mặc dù những chú thích giá trị của Nguyễn Hữu Quỳ đã đưa ra một số từ ghép dưới mỗi một tự mục Hán, nhưng những phân tích trong bài viết này chỉ dựa trên văn bản phiên âm của Trần Kinh Hòa [177-392] và phần phụ chú [393-404].

3. Vua Tự Đức (tên là Hồng Nhậm, miếu hiệu là Dực Tông) là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị (miếu hiệu là Hiến Tông, trị vì từ năm 1840-1847). Trong khi hoàng tử Hồng Bửu (anh trai ông) là một người ham vui thì Hồng Nhậm lại tỏ ra thông minh ham học, phụ hoàng đã trao ngôi báu cho ông khi ông mới mười tám tuổi. Trong suốt 36 năm dưới triều Tự Đức, quân Pháp đã chiếm đánh Đà Nẵng (1858), sau đó là ba tỉnh miền Đông (1862) và ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867) trước khi bắc tiến chiếm Hà Nội và thiết lập chính quyền bảo hộ trên toàn cõi An Nam (1884). Cũng giống như các tiền vương Minh Mạng (1820- 1840) và Thiệu Trị (1840-1847), những người đã để lại các thi văn tập cho đời sau, Tự Đức cũng được biết đến bởi kiến văn uyên áo cũng như sự phản đối quyết liệt đối với đạo Thiên Chúa. Đắm mình trong Khổng học, ông là tác giả của Việt sử tổng vịnh(1877) gồm mười cuốn thơ về lịch sử Việt Nam và tám thi tập khác. Nhưng không ở đâu, những quan tâm sâu sắc của ông đến giáo dục lại thể hiện rõ ràng như trong Luận ngữ thích nghĩa ca  Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca. Tập sách sau được bộ Lễ trình lên vua Thành Thái (1889- 1907) vào năm 1896 và được khắc in sau đó (từ 1898) theo đúng như di nguyện của Tự Đức-người khởi xướng, tức là mười lăm năm sau khi ông băng hà.

4. Như cuốn Nhất thiên tự  Ngũ thiên tự, cuốn tự điển này (mà văn bản do chính Tự Đức chọn) dùng thể lục bát (gồm chữ Hán đọc theo âm Hán Việt và lời chua nghĩa bằng chữ Nôm được xếp liền kề nhau):

 

Thiên

=

trời

địa

=

đất

vị

=

ngôi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phú

=

che

tái

=

chở

lưu

=

trôi

mãn

=

đầy

 

 

 

滿

 

Cao

=

cao

bác

=

rộng

hậu

=

dày

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thần

=

mai

mộ

=

tối

chuyển

=

xây

di

=

dời

 

 

 

 

 5. Theo từng liên, từ cuối cùng của câu sáu (ngôi) bắt vần với từ thứ sáu của câu tám dòng sau (trôi), rồi từ thứ tám - từ cuối của câu tám (đầy) lại bắt vần với từ cuối cùng – từ thứ sáu của liên tiếp theo (dầy), và đến lượt từ này bắt vần với từ thứ sáu của câu tám (xây). Thi luật thể thơ này quy định chỉ dùng thanh bằng, không dùng thanh trắc. Hơn nữa, với dòng thứ hai trong liên, nếu từ thứ sáu (trôi) là thanh ngang thì từ thứ tám (đầy) là thanh huyền [Huỳnh Sanh Thông 1979:xxxii-xxxiii; Nguyễn 1989]. Tuy nhiên, một số dòng trong cuốn từ điển này không tuân theo luật bằng trắc trên.

Cấu trúc nội tại của các liên sáu tám đã tiềm ẩn sẵn trong dân ca, có lẽ thể thơ lục bát là sự thành công từ những phép lặp bất tận của các liên sáu tám này, như thơ Nôm (Truyện Kiều) chẳng hạn hay như các cuốn từ điển như Nhất thiên tự, Ngũ thiên tự… và cả cuốn từ điển ngự chế này.

6. Phần đầu của cuốn sách ghi lời tưởng nhớ của bộ Lễ và Quốc sử quán. Tác phẩm được soạn theo bảy mục; 1.Kham dư 堪輿 cuốn 1-2; 2.堪輿 cuốn 1-2; 2.Nhân sự 人事 cuốn 3-5; 3.人事 cuốn 3-5; 3.Chính hóa 政化 cuốn 6-7; 4.政化 cuốn 6-7; 4.Khí dụng 器用 cuốn 8-9; 5.器用cuốn 8-9; 5.Thảo mộc 草木 cu?n 10-11; 6.草木cuốn 10-11; 6.Cầm thú 禽獸cuốn 12; 7.Trùng ngư  cuốn 13. Mỗi trang chia năm cột, đọc từ phải sang trái. Mỗi cột có từ ba đến bảy chữ Hán (tính theo ngôn ngữ nguồn). Mỗi chữ Hán khắc to đều có chữ Nôm (khắc nhỏ hơn) liền ngay dưới mé phải. Có thể có một số chú thích (khắc nhỏ nhất) liền ngay sau để chua nghĩa cho những chữ Hán khó, âm đọc của những chữ này thường được chú bằng một từ đồng/gần âm hoặc bằng hai từ theo phép phiên thiết.

7. Trong cả Tam thiên tự  Ngũ thiên tự, câu lục có ba chữ Hán, câu bát có bốn chữ Hán; ví dụ trên cũng như vậy, dòng đầu giới thiệu ba chữ thiên, địa, vị, dòng dưới là bốn chữ phú, tái, lưu, mãn và trọng âm rơi vào các âm tiết chẵn hai, bốn, sáu, tám. Tuy nhiên, các dòng thơ không phải lúc nào cũng được cấu trúc theo lối như vậy: có năm trường hợp câu sáu trong cuốn sách chỉ có hai chữ Hán, vì cả trước và sau chỗ ngắt giọng có cụm ba âm tiết, trong đó từ Nguyệt (hữu trọng) được chua bằng từ song tiết Mặt trăng  nhật- mặt trời. Tương tự như vậy, dòng bảy gồm hai vế đối nhau được chia đều bằng nhịp ngắt giọng ở giữa: sócmồng một, vọng ngày rằm 朔蒙没,望勜. Dòng mười cũng theo luật ấy, chỗ ngắt giọng chia câu thành hai vế tiểu đối bốn âm tiết bằng nhau: ngũ giờ chính ngọ,  giờ quá trưa 日午徐正午, 晡徐過 Nhiều dòng chỉ có giải một chữ, như: muội khi ban sáng lờ lờ 昧欺班粰頬頬; hay như: dâm là mưa quá mười ngày chửa thôi 霪羅氵蕌過厱勜渚催; hay như: lâmlà mưa tự ba ngày trở lên 霖羅氵蕌自倈勜阻蓮. Một điểm mạnh của cuốn từ điển này là “tác giả của nó đã gia công sử dụng một lượng lớn tính từ và trạng từ để định nghĩa danh từ và động từ, điều này hết sức hữu ích đối với những người học chữ Hán”. [ Nguyễn Hữu Quỳ 1971:6]. Thực tế, một số tự mục đòi hỏi không chỉ có từ tương đương trong ngữ đích mà còn yêu cầu những định nghĩa dài dòng giới hạn trong thể sáu tám. Người đọc tưởng như đang nghe thầy giáo giảng bài với những định nghĩa súc tích về các từ Hán Việt (đơn tiết, song tiết). Điều này rất thích hợp với phương pháp học thuộc lòng được sử dụng trong các lớp học xưa ở Việt Nam, nơi mà một trường tư thục do một số cá nhân (thầy đồ) trong làng thành lập để khai tâm cho con trẻ.

8. Cho đến tự biểu Hán Việt được chú ý, cuốn từ điển chuyên đề này đã giới thiệu trên dưới chín ngàn tự mục, hầu hết là các từ đơn tiết, một số là “các từ kép”, ví như từ đa tiết kết hợp giữa danh từ và động từ. Đáng chú ý là các tự mục sau:long đồng 曨曈 được định nghĩa là mặt nhật độ gần sáng ra [Ch’en 183], cv đồng lông trong Thiều Chửu [1942:276,277]. Long đồng 朧月童- trăng mới lờ mờ rạng đông [Ch’en 185]. Hàng giới 沆瀣-khí mù nửa đêm [Ch’en 184]; cv hãng dới trong Thiều Chửu [1942:335]. Tích lịch  - tiếng gió [Ch’en 184]. Long tòng - khí mây [Ch’en 184]. Biệt biệt - mặt nhật chen chen lần vào[Ch’en 184]. Phái phái 霈霈- mưa lớn [Ch’en 184] cv bái bái trong Thiều Chửu [1942:750]. Châu trương 目壽目長- mắt máy[Ch’en 217]. Liêu yếu - tai bùng [Ch’en 217]. Sảo sảo 身少身少 - dáng dài mình [Ch’en 217]; phản noản - dáng mặt nhăn[Ch’en 217]; ảo xảo - mặt méo [Ch’en 217]; huyền vân - mắt lòa [Ch’en 217]; bát thích 襏襫 – cái áo tơi[Ch’en 310]; thu thiên鞦韆 – đu rút [Ch’en 310]; lan lao liên lũ 埉口連- nói bàn líu lo[Ch’en 232].

Với tư cách là một cuốn tự điển chuyên đề hoặc tự biểu, cuốn sách này đã cung cấp một lượng lớn vốn từ vựng về bộ phận cơ thể (tóc, răng, tai…), thực phẩm, đồ gia dụng [Ch’en 250], nhân luân, bệnh tật, trên ba mươi loại thuyền [Ch’en 295], xe cộ [298], vật phẩm, khí dụng [313-315], … Chỉ có một số hư từ (công cụ từ) được tìm thấy trong đó: ví dụ hai dòng dưới đây giới thiệu bảy từ Hán cổ: giả ấy  vậy  vay, hồ ôi chỉ vậy ta này ý kia (者意也丕歟為,乎喂只丕些尼伊箕).

9. Các từ tương ứng ở ngữ đích có khi không được kê ra trong cuốn sách, mà thay vào đó một câu giải thích đặt sau hệ từ “là” trong một câu định nghĩa theo phương trình X = Y, như: chí  là lễ vật cầm tay[Ch’en 283]; giao  là đắp đàn tế trời[283]; lữ   là lễ tế sơn xuyên [283], vu  là lễ tế cầu mưa[283]. Liên từ “rằng ” cũng được dùng để định nghĩa: sao rằng ngọn tóc  kiến 月建 rằng đầu gân[217]. Cả “là” và “rằng” được dùng trong một câu: độn  là đi trốn, nô  rằng ở thuê[275]. Quan hệ từ “mà  ” cũng được dùng trong những câu định nghĩa diễn giải khi nó nối hai động từ với nhau: như trong: thụy ngồi mà ngủ, lưu nằm mà trông[223]. Đôi khi dùng so sánh như dòng mô tả sau: thục 木兄 hình như thể cái thùng[297]. Một số ít trường hợp, câu bát lại có chín từ, do các âm vô quy tắc, ví dụ: mạt 食末 là đuôi ngựa, bộc  người hầu ngựa xe[287].

10. Cuốn từ điển song ngữ này còn hơn cả một bảng từ, nó còn cung cấp các tự vị của tiếng Việt thế kỷ 19 và tự dạng Nôm của chúng. Một ví dụ là chữ buông lung 木奔籠 được dùng để dịch từ Hán dịch đảng (là kẻ buông lung khác người). Hay như từ nốc (thuyền nhỏ) [295] và xấp xỏa [297] mà âm hiện nay là chập chõa/chập cheng. Hai bản in thường đưa ra âm phiên (âm Hán Việt và âm Nôm) và tự dạng Nôm khác nhau, ví dụ như: 朒羅嶎朔斏筃, 月羅嶎晦斏群渉西, có hai bản quốc ngữ khác nhau: nục là bữa sóc trăng non, thiếu là bữa hối trăng còn mái tây [Ch’en 182] và Nọc đêm sóc trăng non; chiếu đêm hối, trăng còn mái tây [Nguyễn Hữu Quỳ 87].

11. Chữ Nôm dùng để ghi từ “ruộng” và “well” cung cấp một cứ liệu thú vị về sự phát triển loại văn tự bình dân này: từ dùng để ghi từ ruộng, còn được tìm thấy trong Bảng tra chữ Nôm [1976] nhưng không thấy trong Tự điển chữ Nôm [1971], dường như phản ánh ngữ âm Trung Bộ xưa gần với âm lộng , trong khi tự dạng khác  phản ánh âm / uô / của miền Bắc, âm này gần với âm / wa / của từ quảng (phần thanh phù của chữ Nôm này) hơn.

12. Ch’en [1971:17] cho rằng: tự biểu này hay hơn Nhất thiên tự, Ngũ thiên tự- những tác phẩm mà vua Tự Đức dựa vào đó để ngự chế tác phẩm này. Chúng ta cũng nhất trí với ông rằng: giống như hai tự biểu của tác giả khuyết danh trên - và cũng như Tam thiên tự mà Ngô Thì Nhậm (1786-1803) được coi là tác giả của nó, cuốn từ điển Hán Việt của vị vua của triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam này xứng đáng có thể được đặt cạnh nhau với tư cách là các tài liệu tra cứu tham khảo hữu dụng. Nó có thể được coi là “cuốn từ điển quan phương của triều Nguyễn xưa”, và chỉ ra hệ thống âm chuẩn của giáo dục thời bấy giờ [17]. Thực tế, đây còn là “cứ liệu chứng tỏ ước muốn của nhà vua và Nho sĩ nhằm dựng lại âm đọc truyền thống” , một mặt là để quy phạm hóa ngữ âm lưu hành trong giới quý tộc của đất thần kinh vào thế kỷ 19 [17]. Hơn nữa, những phân tích trên có thể phát lộ ra những yếu tố từ vựng và ngữ âm thú vị của tiếng Việt vào thời điểm đầu của giai đoạn thực dân.

(Dịch từ nguyên bản tiếng Anh A Preliminary Study of TỰ ĐỨC THÁNH CHẾ TỰ HỌC- a 19th-Century Chinese-Vietnamese Dictionary của Gs.Nguyễn Đình Hòa đăng tải trên Mon-Khmer Study 26:207-216.www.sealang.net/mks/copyright.htm)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ch’en Ching Ho, ed. Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca dịch chú, Original Text and Transcription in chữ Quốc ngữ with Introduction and Annotation. Hongkong, The Chinese university of Hongkong, 1971.

2. Đào Duy Anh, Giản yếu Hán Việt Từ Điển, Minh Tân, Paris, 1950 (Tái bản).

3. Huỳnh Sanh Thông, The Heritage of Vietnamese Poetry, New Haven, CT: Yale University Press, 1979.

4. Nguyễn Đình Hòa, Nhất thiên tự, Văn hóa nguyệt san 12.10. 1665-1678, 1963.

5. Nguyễn Đình Hòa. On “Cultural” Dictionaries in Vietnamese.  Lexicographica.3, 1987, tr. 142-157.

6. Nguyễn Đình Hòa. 1989a. The Book of One Thousand Characters (Tam thien Tu). Carbondale, IL: Asia Books.

7. Nguyễn Đình Hòa. 1989b. The Book of Three Thousand Characters (Tam thien Tu) by Ngô Thì Nhậm. Carbondale, IL: Asia Books.

8. Nguyễn Đình Hòa, Graphemic Borrowing from Chinese: the Case of Chữ Nôm- Vietnamese’s Demotic Script. The Bulletin of the Institute of History and Philology. Academia Sinica. Vol.LXI, Part II. Taipei, Taiwan, China, 61: 383-432. 1990.

9. Nguyễn Đình Hòa, An 18th –Century Chinese-Vietnamese Dictionary: the Book of Three Thousand Characters. Paper given at the 183rd Annual Meeting of the Americal Oriental Society,1973.

10. Nguyễn Hữu Quỳ, Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, tập I, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách văn hóa, Saigon, 1971.

11. Nguyễn Phúc Hồng Nhậm [Tự Đức], Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, Huế, Quốc sử quán, 1898.

12. Nguyễn Quang Xỹ-Vũ Văn Kính, Tự điển chữ Nôm, Trung tâm học liệu, Saigon, 1971.

13. Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, Đuốc Tuệ, Hanoi, 1942 [tb: Khai Trí, Saigon, 1960].

14. Thompson, Laurence C. 1965. A Vietnamese Grammar. Seattle: University of Washington Press [Reprint Edition as A Vietnamese Reference Grammar (ed.Stephen O’Harrow), Honolulu: University of Hawaii Press, 1987.]

15. Viện ngôn ngữ học, Bảng tra chữ Nôm, , Khoa học Xã hội, Hanoi, 1976. 

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online