Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Hoạt Động Phật Sự arrow ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM 708 NĂM ĐỨC VUA
ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM 708 NĂM ĐỨC VUA PDF In E-mail
Người viết: Tĩnh Toàn   
20/12/2016

ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM 708 NĂM ĐỨC VUA - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

* Tĩnh Toàn

Thực hiện tinh thần Thông tư số 193/TT-HĐTS ngày 18/11/2016, sáng ngày 28/11, tại thiền tự Vạn Thông, thị trấn Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, Ban Trị sự (BTS) Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh và Thiền phái Trúc Lâm Bạc Liêu đã long trọng tổ chức Đại lễ Tưởng niệm 708 năm Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn. Tham dự Đại lễ có Hoà thượng (HT) Lý SaMouth; HT Thích Hoằng Quang, Chứng minh BTS; Thượng tọa Tăng SaVong, Đại đức (ĐĐ) Thích Phước Chí Ủy viên Hội đồng Trị sự, Phó trưởng BTS GHPGVN tỉnh; các Ban trực thuộc, các vị Trưởng, phó BTS các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; Chư Tôn đức thuộc Hệ phái Trúc Lâm, Chư Tôn đức Tăng ni trụ trì các tự viện, Chính quyền địa phương sở tại và Phật tử các đạo tràng trong tỉnh.


Tại buổi Lễ, ĐĐ Thích Đạt Ma Khả Kiến, Phó trưởng BTS GHPGVN huyện Vĩnh Lợi, đại diện cho Hệ phái Trúc Lâm Bạc Liêu tuyên đọc Tiểu sử Phật hoàng Trần Nhân Tông. Ngài có tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258, con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim. Năm 16 tuổi, Ngài được lập làm Đông cung Thái tử và kết duyên cùng công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương. Ngài học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ và tôn thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ làm Thầy. Năm 21 tuổi (1279), Ngài được Trần Thánh Tông truyền ngôi, trị vì thiên hạ Đại Việt, lấy đức trị vì, dân chúng an cư lạc nghiệp, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo. Năm 1282, Ngài chủ trì Hội nghị Bình Than để lấy ý kiến toàn dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Năm 1284, Ngài chủ trì Hội nghị Diên Hồng, lấy ý kiến các vị Bô lão, những người đứng đầu các Bộ lạc. Toàn thể hội nghị già trẻ, gái trai đều một lòng tung hô quyết chiến. Năm 1285, Ngài đã lãnh đạo và chiến thắng cuộc xâm lăng Nguyên - Mông lần thứ nhất. Ngài đã chiến thắng quân Nguyên-Mông lần thứ hai năm 1288. Năm 41 tuổi (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng. Năm 1294, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và làm cho nước Triệu Voi tiếp tục thần phục Đại Việt. Sau đó Ngài trở về Hành cung Vũ Lâm - Ninh Bình, cầu Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ Xuất gia, tập sự tu hành tại đây một thời gian. Năm 1299. Ngài trở lại thăm Kinh sư lần cuối, rồi đi thẳng lên núi Yên Tử - Quảng Ninh quyết chí tu hành, tham thiền nhập định, lấy tên là "Hương Vân Đại Đầu Đà”, độ Đồng Kiên Cương làm đệ tử và ban Pháp hiệu là Pháp Loa. Năm 1301, Ngài thăm hữu nghị Chiêm Thành và trở về chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường giảng kinh, thuyết pháp, mở Hội đại thí vô lượng cho nhân dân. Năm 1304, Ngài đi khắp nước Đại Việt, khuyến khích muôn dân giữ năm giới, tu hành Thập thiện. Ngài đến Bố Chánh - Quảng Bình lập am Tri Kiến và lưu lại đây một thời gian. Sau đó, được Vua Trần Anh Tông thỉnh vào nội cung để truyền giới Bồ tát cho Bá quan văn võ. Sau chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành năm 1301, Ngài có hứa gả Công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân. Năm 1305, Vua Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và phái đoàn ngoại giao mang sính lễ cầu hôn. Đến năm 1306, Ngài đứng ra chứng minh hôn lễ giữa Công chúa Huyền Trân và Chế Mân - Vua Chiêm Thành. Vua Chiêm đã dâng hai Châu Ô, Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ. Năm 1307, Ngài truyền Y Bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ Trúc Lâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian đó, Ngài thường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng, Vĩnh Nghiêm Lạng Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp và chứng minh các Lễ hội… Ngài tập trung biên soạn Kinh sách và Ngữ lục và đã để lại một số tài liệu vô cùng quý báu như: Trần Nhân Tôn thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Trung hưng Thực Lục, Truyền Đăng Lục v.v….Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ: "Tất cả pháp không sanh. Tất cả pháp không diệt. Ai hiểu được như vầy. Thì chư Phật hiện tiền. Nào có đến có đi”. Ngài thâu thần thị tịch ngày 01/11/Mậu Thân (1308), trụ thế 51 năm tại Am Ngọa Vân - Đông Triều - Quảng Ninh.

 

Đại đức Thích Phước Chí, thay mặt Ban Thường trực BTS đọc Văn tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn, sau đó Chư Tôn đức đã dâng hương tưởng niệm. Buổi lễ kết thúc trong tinh thần hoan hỉ của Chư Tôn đức và Quý Phật tử hiện diện. Tự hào dân tộc Việt Nam có một vị vua anh minh với thiên tài lỗi lạc, vị vua ấy đã bỏ cung vàng điện ngọc đi tu và khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, dòng Thiền chính thống Việt Nam đã góp phần tạo nên một nước Việt Nam an bình, thạnh trị. Vị vua ấy đã chứng quả và để lại cho hậu thế một kho tàng tri thức vô cùng vô tận.

Cập nhật ( 20/12/2016 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online