Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Sách Thứ Mười Bảy Số 779
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Sách Thứ Mười Bảy Số 779 PDF In E-mail
Người viết: An Thế Cao dịch   
20/12/2016

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Sách Thứ Mười Bảy Số 779

PHẬT NÓI KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

* Hậu Hán An Tức Quốc Tam Tạng An Thế Cao dịch

* Thánh Tri Phỏng Việt dịch và viết bài học giải

 

Lời Nói Đầu

Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch. Bài Kinh này tuy rất ngắn mà bao hàm những điểm chính thuộc cả hai tư tưởngNhị Thừa  Đại Thừa  đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật đã giảng dạy trong suốt 49 năm. Tôi có nhân duyên tốt lành nên được đọc bài Kinh này nhiều lần. Mỗi lần đọc tôi đều cảm thấy thắm thía từng câu từng chữ, như Kinh nhắc nhở mình quán xét lấy cái thân tâm và ngoại tại của mình là Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã cho nên phải biết buông xuống mọi tham dục mong cầu, ít muốn biết đủ thì mới thường có an lạc, an bần mà giữ đạo, nuôi lớn cái chí nguyện xuất gia, thượng cầu đạo Vô Thượng, dưới giáo hóa tất cả chúng sanh.

Vì thấy lời dạy hữu ích của Kinh mà phỏng dịch ra Việt văn và viết bài Học Giải để cùng chia sẽ và kết duyên với mọi người, hầu cho kẻ thấy người nghe đều nhớ lấy những lời dạy vàng ngọc này, theo đó tu hành mà đồng gặt hái được nhiềulợi ích trong hiện tại và mai hậu.

Bài Kinh rất súc tích và cô động trong 332 chữ Hán, xếp thành 93 câu, mỗi câu bốn chữ. Do vậy mà thật rất là khó dịch ra tiếng Việt. Nếu phải dịch đúng 332 chữ, 93 câu, mỗi câu bốn chữ như tiếng Hán thì cái đó gọi là tiếng Hán-Việt chứ không thể nào dịch thuần Việt được. Tôi có thói quen thích đọc những bài Kinh ngắn bằng tiếng Hán-Việt như Bát Nhã Tâm Kinh chẳng hạng, và bài Kinh Bát Đại Nhân Giác này cũng không ngoại lệ. Đọc bằng Hán-Việt nó dễ nhớ và thắm thía hơn nhiều. Tuy nhiên muốn cho người cùng ngôn ngữ Việt đọc hiểu thì phải dịch ra tiếng Việt làm sao cho dễ hiểu mà không mất đi ý chính của Kinh văn cho nên dịch ra thì hơi rườm rà một chút. Do vậy trước, kính mong mọi người lượng thứ cho bản dịch giải thô thiển này, và sau kính mong mọi người đọc hiểu được ý chính mà quên lời rườm rà.

Kính cảm niệm công ân giáo dưỡng của Tôn Sư Ôn Thượng Minh Hạ Điền đã khai mở đạo nhãn và diều dắt cho con bước vào con đường Chánh Đạo của Phật.

Nguyện cho khắp người thấy người nghe đồng được an vui giải thoát.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thánh Tri kính viết

San Antonio, Texas

Mùa Hạ, Tháng 7, ngày 13, năm 2016

 

 

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Sách Thứ Mười Bảy Số 779
PHẬT NÓI KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

Hậu Hán An Tức Quốc Tam Tạng An Thế Cao Dịch

Thánh Tri Phỏng Việt dịch và Viết Bài Học Giải

 

 đệ tử Phật thì phải thường cả ngày lẫn đêm hết lòng thành kính đọc và nghĩ nhớ tám điều giác ngộ này:

Điều giác ngộ thứ nhứt: Phải biết thế gian  vô thường; quốc độ thì mong manh không bền chắc; bốn đại là khổ, là không; năm ấm  vô ngã, hay sinh diệt đổi dời, nó giả dối không thật cũng không chủ; tâm là nguồn gốc của mọi điều ác; thân là chỗ tu tập nhiều điều tội lỗi. Nếu đúng như vậy mà quán xét thì xa dần sinh tử.

Điều giác ngộ thứ hai: Phải biết nhiều dục là khổ; sanh tử nhọc nhằn mỏi mệt đều là do tâm tham dục mà phát sinh. Vậy phải bớt cái lòng tham dục  học Đạo Giác Ngộ Giải Thoát thì thân tâm mới được an vui tự tại.

Điều giác ngộ thứ ba: Phải biết tâm người thì không bao giờ biết đủ, ngược lại chỉ mong cầu được nhiều nên càng thêm lớn nhiều tội ác. Còn người tu hạnh Bồ Tát thì chẳng phải vậy, vì họ thường nghĩ nhớ về pháp biết đủ, sống an vui trong cảnh nghèo khó mà giữ Đạo, và chỉ lấy Trí Tuệ làm sự nghiệp duy nhứt cho đời tu của mình.

Điều giác ngộ thứ tư: Phải biết lười biếng thì đọa lạc; nếu thường tu hành tinh tấn thì có thể phá trừ các nghiệp ácphiền não, phá vỡ và hàng phục bốn ma, ra khỏi nhà tù của năm ấm  mười tám giới.

Điều giác ngộ thứ năm: Phải biết do ngu si (vô minh) mà có sinh tử. Do vậy người tu hạnh Bồ Tát thì thường nhớhọc rộng nghe nhiều, để thêm lớn Trí Tuệ, thành tựu được cái tài nói pháp thông suốt và lưu loát, hầu giáo hóa tất cả chúng sanh, và khiến họ đều được vui lớn.

Điều giác ngộ thứ sáu: Phải biết ghèo khổ thì thường sanh nhiều thù hận, nên dễ kết nhiều duyên xấu ác. Do vậy người tu hạnh Bồ Tát thì nên nhớ bình đẳng  bố thí dù người đó có là kẻ oán hay người thân của mình; không nhớ những lỗi lầm xưa, cũng không ghét người ác.

Điều giác ngộ thứ bảy: Phải biết năm dục  lỗi lầm tai họa. Vậy cho nên tuy còn là người thế tục, cũng đừng nên đắm nhiễm những dục lạc của thế gian. Phải thường nhớ nghĩ đến ba Y, một Bát khất thực, và những dụng cụ đúng pháp của người xuất gia để nuôi lớn chí nguyện xuất gia, giữ cái đạo trong sạch, sống một đời sống phạm hạnh cao vời, và từ bi với tất cả chúng sanh.

Điều giác ngộ thứ tám: Phải biết sanh tử không ngừng thiêu đốt nên khổ não cũng không số lượng. Do vậy cần phải phát khởi cái Tâm Đại Thừa, mới có thể cứu giúp khắp tất cả chúng sanh, nguyện thay thế cho chúng sanhchịu vô lượng khổ, và khiến cho các chúng sanh rốt ráo được an vui lớn.

Tám điều như vậy đều là chỗ giác ngộ của chư Phật, Bồ Tát, bậc Đại Nhân; do nhờ tinh tấn hành đạo, tu hạnh từ bi trí tuệ, mà các ngài ngồi thuyền pháp thân đến bờ Niết Bàn, lại vào sinh tử dùng tám điều này mà khai đạo cho tất cả chúng sanh, khiến cho các chúng sanh thấu rõ được cái khổ sinh tử, mà xa rời năm dục, tu tâm theo con đường Hướng Thượng của chư Phật chư Tổ. Nếu là người đệ tử Phật thì nên đọc tám điều này trong từng mỗi niệm, để diệt vô lượng tội, tiến đến Bồ Đề, tốc lên ngôi Chánh Giác, vĩnh viễn chấm dứt sinh tử, và thường ở trongan lạc.

   

 

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Đệ Thập Thất Sách Số 779

Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác Kinh


Hậu Hán An Tức Quốc Tam Tạng An Thế Cao Dịch

 

Vi Phật đệ tử, thường ư trú dạ, chí tâm tụng niệm, bát đại nhân giác:

Đệ nhất giác ngộ: Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biết dị, hư ngụy vô chủ, tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu, như thị quán sát, tiệm ly sinh tử.

Đệ nhị giác tri: Đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục khởi, thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.

Đệ tam giác tri: Tâm vô yếm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng tội ác, Bồ Tát bất nhĩ, thường niệm tri túc, an bần giữ đạo, duy tuệ thị nghiệp.

Đệ tứ giác tri: Giãi đãi đọa lạc, thường hành tinh tiến, phá phiền não ác, tồi phục tứ ma, xuất ấm giới ngục.

Đệ ngũ giác ngộ: Ngu si sinh tử, Bồ Tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí huệ, thành tựu biện tài,giáo hóa nhất thiết, tất dĩ đại lạc.

Đệ lục giác tri: Bần khổ đa oán, hoành kết ác duyên, Bồ Tát bố thí, đẳng niệm oán thân, bất niệm cựu ác, bất tăngác nhân.

Đệ thất giác ngộ: Ngũ dục quá hoạn, tuy vi tục nhân, bất nhiễm thế lạc, thường niệm tam y, ngõa bát pháp khí, chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao viễn, từ bi nhất thiết.

Đệ bát giác tri: Sinh tử xí nhiên, khổ não vô lượng, phát đại thừa tâm, phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sinh, thọvô lượng khổ, lệnh chư chúng sinh, tất cánh đại lạc.

Như thử bát sự, nãi thị chư Phật, Bồ Tát đại nhân, chi sở giác ngộ. Tinh tiến hành đạo, từ bi trí huệ, thừa pháp thânthuyền, chí Niết Bàn ngạn, phục hoàn sinh tử, độ thoát chúng sinh. Dĩ tiền bát sự, khai đạo nhất thiết, lệnh chưchúng sinh, giác sinh tử khổ, xã ly ngũ dục, tu tâm thánh đạo. Nhược Phật đệ tử, tụng thử bát sự, ư niệm niệmtrung, diệt vô lượng tội, tiến thú Bồ Đề, tốc đăng chính giác, vĩnh đoạn sinh tử, thường trụ khoái lạc.


大正新脩大藏經 第十七冊 No. 779 

佛說八大人覺經 

後漢安息國三藏安世高譯


佛弟子,常於晝夜,至心誦念,八大人覺

第一覺悟:世間無常,國土危脆;四大苦空,五陰無我;生滅變異,虛無主;心是惡源,形罪藪。如是觀察,漸離生死

第二覺知:多欲苦,生死疲勞,從貪欲起;少欲無,身心自在

第三覺知:心無厭足,唯得多求,增長罪惡;菩薩不爾,常念知足,安貧守道,唯慧是業。

第四覺知:懈怠墜落;常行精進,破煩惱惡,摧伏四魔,出陰界獄。

第五覺悟:愚癡生死。菩薩常念,廣學多聞,增長智慧,成就辯才,化一切,悉以大樂

第六覺知:貧苦多怨,橫結惡緣。菩薩布施,

等念冤親,不念舊惡,不憎惡人。

第七覺悟:五欲過患。雖俗人,不染世樂;常念三衣,瓶缽法器;志願出家,守道白;梵行高遠,慈悲一切

第八覺知:生死熾然,苦惱無量。發大乘心,普濟一切;願代眾生,受無量苦;令諸眾生,畢竟大樂。

如此八事,乃是諸佛菩薩大人之所覺悟。精進行道,慈悲修慧,乘法身船,至涅槃岸;復還生死,度脫眾生。以前八事,開導一切,令諸眾生,覺生死苦,捨離五欲,修心聖道。 若佛弟子,誦此八事,於念念中,滅無量罪;進趣菩提,速登正覺;永斷生死,常住快樂。

 

 

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Sách Thứ Mười Bảy Số 779

Phật Nói Kinh Bát Đại Nhân Giác


Hậu Hán An Tức Quốc Tam Tạng An Thế Cao Dịch

Thánh Tri Phỏng Việt dịch và viết bài Học Giải

  

Chính Văn:

Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác Kinh

Học Giải:

Phật là chỉ cho đức Thích Ca Mâu Ni Phật, người đã hoàn toàn giác ngộ được Tự Tâm Bổn Tánh của mình một cách triệt để. Ngài phương tiện mà nói ra những lời dạy tốt đẹp để giúp chúng sanh thấy rõ sự thật về thế giới vạn vật  cuộc đời con người là khổ, không, vô thường, vô ngã mà buông xuống tình thức phân biệt chấp trước, mở toan cánh cửa Đại Thừa, hầu đưa tâm đến Giác Ngộ  Giải Thoát nên tạm gọi là “Thuyết Kinh”. Có như vậychúng sanh mới khỏi chuốc lấy tai họa khổ đau vì nguyên nhân của mọi đau khổ là do vô minh lầm chấp “hiệp trần bối giác” mà ra. Trong kinh này Phật dạy mình phải quán xét triệt để tám điều giác ngộ nên gọi là Bát. Đại Nhândịch là người lớn. Thế nào mới gọi là Đại? Đại thì vô số lượng, nên siêu vượt tình thức mới gọi là Đại và vượt qua số lượng; bởi có số lượng thì còn tình thức, tức còn giới hạng ở trong vòng tương đối và còn sinh tử khổ đau. Vậy thìđâu thể gọi là Đại!? Do vậy Đại Nhân phải là người đã vượt qua số lượng tình thức vậy, người đã trở về sống thật với Bổn Tâm Tự Tánh nơi mình. Họ là người không còn bị giam cầm trong ngục của Năm Ấm  Mười Tám Giới. Họ thấy rõ được thật tướng của vạn pháp  Như Thị, Bất Nhị, và Không. Do vậy nên dùng chữ “Giác” để chỉ cho cái sự thấy rõ thật tướng của vạn pháp không qua lăng kính của vọng thức, mà trực giác bằng Chân Tánh chiếu soi. Vì vậy Đại Nhân phải là người giác ngộ như Phật Thích Ca vậy.

Chính Văn:

Hậu Hán An Tức Quốc Tam Tạng An Thế Cao Dịch

Hậu Hán là vào thời nhà Đông Hán bên nước Trung Quốc tức khoảng từ năm 132-167 sau công nguyên, thời vua Hán Hoàn Đế, tên thật là Lưu Chí, nhà vua đời thứ 11 của triều đại nhà Hán.

Nước An Tức tức là nước Ba Tư vậy. Do ngài An Thế Cao là người nước An Tức nên ghi là An Tức Quốc.

Tam Tạng là biệt danh cho vị thầy giỏi và thông thạo cả ba tạng Kinh, Luật và Luận.

An Thế Cao là vị Tỳ Kheo từ nước An Tức, nước nhỏ phía Đông Bắc Ba Tư ngày xưa đến Trung Quốc ở thành Lạc Dương vào năm 148 sau công nguyên để dịch kinh. Và Kinh Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác là một trong những bộ kinh được ngài dịch ra Hán văn. Ngài là một trong những vị cao tăng đầu tiên đem Phật Pháp truyền sang Trung Quốc sau các ngài Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan

Chính Văn:

Vi Phật đệ tử, thường ư trú dạ, chí tâm tụng niệm, Bát Đại Nhân Giác:

Học Giải:

Nếu đã Quy Y Tam Bảo thì là đệ tử Phật bất luận là tại gia hay xuất gia. Mà đã là đệ tử Phật thì phải luôn hướng tâm đến con đường Đạo Giác Ngộ Giải Thoát. Thường cả ngày lẫn đêm để chỉ cho sự chuyên tâm tu đạo khônggián đoạn (Thường hành tinh tấn). Chí tâm là bài tỏ lòng chí thành tha thiết. Bảo tụng niệm để ghi nhớ, không quên, và quán xét về Tám Điều Giác Ngộ của bậc Đại Nhân này.

Chính Văn:

Đệ nhất giác ngộ: Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biết dị, hư ngụy vô chủ, tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu, như thị quán sát, tiệm ly sinh tử.

Học Giải:

Điều giác ngộ thứ nhứt là muốn cho chúng sinh phá trừ Kiến Hoặc (cái thấy sai lầm, không đúng với thực tại của mọi sự vật hiện tượng từ vật lý đến tâm lý nên mới sinh ra ngã kiến  biên kiến; nếu nói cao sâu hơn nữa thì kiến hoặc là do tình thức che mờ Tâm Tánh nên không thể thấy mọi sự vật hiện tượng đúng như nó đang là; nếu như thấy bằng tánh thấy, nghe bằng tánh nghe v.v… không có lập tình thức trước vật thì kiến hoặc sẽ được trừ) bằng cách quán triệt được tất cả mọi sự vật hiện tượng trên cõi đời này từ vật lý đến tâm lý đều là  thường (không cố định) và  ngã (không thật thể). Từ trái đất đến ngay thân thể nhỏ bé này cũng đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, nên không tự tính (không tự thể, không thật thể, nghĩa là không phải tự nó có một cách riêng biệt và độc lập, mà phải do nhiều nhân duyên tạm hòa hợp mà tạm có). Vì không tự tính (vô ngã) nên không thể thường cònmãi mãi (vô thường) được mà chỉ tạm thời hiện hữu tồn tại trong một khoãng thời gian nào thôi.

Chính vì mọi sự vật thiện tượng từ tâm lý đến vật lý đều là vô thường  vô ngã hay không cố định và không thật thể nên chúng ta không thể đem tâm chấp vào mọi sự vật hiện tượng ấy và cho chúng là ‘có’ hay là ‘không có’ được. Nếu chấp và khẳng định thân này có thật thì phải chỉ rõ được nó là cái gì. Long, tóc, móng, răng, da, bao tử, tim, gan, phèo, phổi, não, v.v…những thứ ấy cái gì là thân này? Không thể chỉ được cái nào cả, vì tất cả những thứ ấyhòa hợp mà tạm thành có cái thân này. Đó là nói sơ ở bên ngoài. Nói theo khoa học thì các thứ long, tóc, móng, răng, da, bao tử, tim, gan v.v… đều được tạo thành bởi các nguyên tử và còn nhiều các chất nhỏ nhoi hơn nguyên tử nữa. Do vậy thân này không phải là do nguyên tử, cũng không phải do tim, gan, phèo, phổi v.v… mà là tất cả những thứ ấy hòa hợp tạo thành. Do vậy nói thân này ‘có’ thì cũng không chính xác. Nếu lại chấp và phủ định thânnầy là ‘không có’ thì cũng không được vì rõ ràng thân chúng ta nó đang đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống tiểu tiện ngayhiện tại đây.

Vì vậy cho nên không thể đem tâm chấp “có” và “không”, cũng như không thể khẳng định và phủ định mọi sự vậthiện tượng là gì hay không là gì được. Có như thế thì tâm mới buông xuống và siêu vượt mọi tình chấp nhị nguyêncó không, thì mới thể nhập được Tâm Tánh Bồ Đề, và Trí Bát Nhã hay Tánh Giác mới có thể chiếu soi thấu rõ đượcthật tướng của vạn pháp  Như Thị, Bất Nhị, và Không. Cho nên quán vô thường vô ngã, hay quán duyên khởicũng được xem là bước đầu tiên để nhập đạo, để hướng đến phương trời sâu rộng của Đại Thừa  bản thể tuyệt đối của Chân Tâm. Chứ chẳng phải đức Phật dạy quán pháp duyên khởi để phụ định có hoặc khẳng định không.

Giác Ngộ  tỉnh giác thấu rõ được chân lý và có cái thấy biết đúng như thực tại của các pháp. Chân lý thứ nhứt phảiquán sát  thế gian vô thường, quốc độ thì nguy kịch dễ tan vỡ, để bỏ tâm tham cầu nơi vạn vật bên ngoài. Lạiquán sát thân này cũng là do tứ đại hòa hợp mà thành, do vậy nó theo nhân duyên mà hội thành rồi cũng do nhân duyên mà tan rã vì không thật thể và không cố định hay vô thường vô ngã. Hơn nữa đất, nước, gió, lửa thường không hòa đồng, lại chống đối lẫn nhau, khiến sinh nhiều bệnh tật, do vậy nó là khổ. Sắc thân tứ đại này là sắc trong năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Sắc thân cùng bốn uẩn kia hòa hợp gọi là năm ấm, đã là hòa hợphuyễn sinh thì không phải là ta (ngã) và của ta (ngã sở). Hoàn toàn chỉ là những pháp sinh diệt biến hoại đổi dời, hư vọng không có chủ. Quán sát thân tâm như thế để không đắm nhiễm sắc thân và không bị vọng tâm đánh lừa cho nó là mình, là của mình. Chính vì mê lầm nên nhận vọng tâm làm mình, là mình, nên bắt cái thân làm theo nó, mới tạo bao nghiệp thiện ác, làm cái nhân cho vòng lưu chuyển sinh tử để sanh ra, có thân hình và lảnh những quả báotốt xấu tương xứng. Do vậy tâm là nguồn của mọi điều ác, thân là nơi chứa đầy mọi tội lỗi. Trong hiện tại cái tâm nghĩ điều ác nên khiến cái thân cũng làm điều ác như giết, trộm, dâm v.v… Đó là nói thô, còn vi tế thì không thểkiểm soát hết mọi hành vi do cái thân tạo nghiệp bởi tâm luôn khởi vọng dẫn đầu. Nếu có thể quán sát như thế thì từ từ sẽ buông xuống mọi tình chấp và thoát khỏi vòng sinh tử.

Chính Văn:

Đệ nhị giác tri: Đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục khởi, thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.

Học Giải:

Điều giác ngộ thứ hai là để cho chúng sanh phá trừ Tư Hoặc (tức tâm ý thức tham sân si, phân biệt chấp trước mọi sự vật hiện tượng, nó làm ngăn che Chân Tánh, cho nên vô minh tạo bao nguyên nhân của khổ đau sinh tử mà chẳng hay biết) bằng cách quán triệt được rằng do tâm tham dục mà có sanh tử khổ. Do vậy muốn thoát cái ‘quả’ khổ đau của cái ‘nhân’ tham dục thì phải biết tu thiểu dục  tu pháp vô vi (tức tu pháp Đại Thừa hay tu Giác NgộGiải Thoát). Nếu có thể quán triệt dược nguồn gốc của tâm tham dục từ đâu khởi thì mới có thể nhổ tận tâm tham dục. Như thế thì thân và tâm mới được tự tại giải thoát khỏi mọi khổ đau do Tư Hoặc gây ra.

Chính Văn:

Đệ tam giác tri: Tâm vô yếm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng tội ác, Bồ Tát bất nhĩ, thường niệm tri túc, an bần giữ đạo, duy tuệ thị nghiệp.

Học Giải:

Điều giác ngộ thứ ba là chỉ cho mình thấy rõ được con đường nào là con đường của phàm phu đưa đến khổ đau, vàcon đường nào là của Bồ Tát Thánh Hiền đưa đến an vui giải thoát. Tâm của người phàm thì thường không biết đủ, không bao giờ thỏa mãn được dục vọng lòng tham, nên thường hay mong cầu cho nhiều. Nhưng chẳng biết chính vì không biết đủ mà còn mong cầu cho nhiều nên mới thêm lớn nhiều tội ác. Từ một tâm xấu nhỏ không thỏa mãnviệc này việc kia, nên sanh ra nhiều thứ tâm niệm khác như ta phải có được thêm cái này cái kia, mà vì chúng tranh đấu dành giựt với người khác, chính vì vậy mà tạo thêm nhiều điều tội ác, mỗi lúc mỗi nhiều hơn, bởi lòng tham không đái. Đó là con đường mà người phàm thường hay đi và mắt phải. Còn con đường của người tu hạnh Bồ Tátthì không phải vậy, bởi họ thường luôn biết đủ, họ sống an vui với phận nghèo mà giữ đạo giữ tâm trong sạch, chỉ luôn lấy Trí Tuệ làm sự nghiệp của đời mình, chứ không màng ngũ dục như danh lợi, tiền tài, sắc đẹp, ăn uống, và ngủ nghỉ. Do luôn chuyên tâm nơi Tuệ Nghiệp mà họ sống biết đủ, biết an nơi phận nghèo mà giữ đạo vậy. Bởi nếuđể tâm nơi tham dục nhiều thì làm mờ tâm trí, ngăn che trí tuệ, nên không biết đủ, dẫn đến tạo bao ác nghiệp mà mang lại khổ đau. Còn chuyên tâm nới Tuệ Nghiệp nhiều thì tâm tham dục sẽ dứt, quả Bồ Đề tất chống nên.

Chính Văn:

Đệ tứ giác tri: Giãi đãi đọa lạc, thường hành tinh tiến, phá phiền não ác, tồi phục tứ ma, xuất ấm giới ngục.

Học Giải:

Điều giác ngộ thư tư là dạy hành giả phải tinh tấn, bởi vì nếu lười biếng thì ắt sẽ bị đọa lạc. Ở đây cũng cần nên biết, nếu mượn cớ tri túc (biết đủ không làm gì hết) mà giãi đãi không tinh tiến tu hành thì cũng bị đọa lạc như thường. Do vậy điều giác ngộ thứ tư này đặc biệt dạy mình phải tinh tấn tu hành. Nếu tinh tấn tu hành để tâm nơiTuệ Nghiệp (tham thiền khởi nghi tình) thì mới có thể dẹp trừ được các phiền não ác, phá vỡ và hàng phục tứ ma(ấm ma, phiền não ma, tử ma, và thiên ma), có như vậy mới ra khỏi được ngục tù của ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm) và mười tám giới (6 căn, 6 trần, 6 thức). Nói ‘Ma’ là chỉ cho những tình thức lăng xăng hay bám chấp phân biệt làm nhiễu loạn tâm mình. Nói ‘Ngục tù Ấm Giới’là vì do ngũ ấm che mờ tâm tánh mình, mười tám giới làm ngăn ngại mình, nên không thoát được vọng thức. Mà còn vọng thức thì còn sanh tử luân hồi, không thểgiác ngộ giải thoát vậy. Do vậy phải tinh tấn miên mật công phu thì mới được tự do tự tại nơi Ấm, Giới.

Chính Văn:

Đệ ngũ giác ngộ: Ngu si sinh tử, Bồ Tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí huệ, thành tựu biện tài,giáo hóa nhất thiết, tất dĩ đại lạc.

Học Giải:

Điều giác ngộ thứ năm này dạy mình ngu si hay vô minh là nguồn gốc của sinh tử. Như Thập Nhị Nhân Duyên bắc đầu từ vô minh nên duyên sinh ra hành, hành duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc duyên ra lục nhập,lục nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, thủ duyên ra hữu, hữu duyên ra sinh, sinh duyên ra lão tử. Cũng chính do vô minh mà mình nhận vọng thân, vọng tâm, vọng cảnh là mình, của mình nên chịukhổ luân hồi sanh tử. Không biết được Chân Tâm của mình mà quay về.

Phật dạy muốn thoát khổ sanh tử thì phải hết vô minh, phải giác ngộ bản Tâm Tự Tánh thì mới giải thoát sanh tửđược. Ở đây dạy người tu Bồ Tát Đạo muốn hết vô minh dứt sinh tử thì phải học rộng nghe nhiều để tăng trưởng trí tuệ. Xong ở đây không phải dạy mình phải học pháp thế gian cho nhiều bởi nó chỉ tăng trưởng kiến thức thế gianthôi chứ không phải trí tuệ. Ở đây dạy mình phải học pháp xuất thế gian, phải tìm cầu tham học với các bậc minh sưthiện tri thức đi trước để họ chỉ cho mình con đường hướng thượng của Đại Thừa. Có như vậy theo đó tu hành mới có thể phát sinh trí tuệ. Nếu như không  trạch pháp, lại gặp tà sư bạn xấu chỉ dẫn tu sai thì sẽ không bao giờ hết được vô minh và phát sinh trí tuệ. Nếu không tự mình giác ngộ thì khó mà giáo hóa chúng sanh. Do vậy khi có trí tuệ rồi thì mới nói pháp được thông suốt và lưu loát, mới có thể giáo hóa chúng sanh, khiến họ được an lạc. Nênđức Phật dạy “duy tuệ thị nghiệp”.

Chính Văn:

Đệ lục giác tri: Bần khổ đa oán, hoành kết ác duyên, Bồ Tát bố thí, đẳng niệm oán thân, bất niệm cựu ác, bất tăngác nhân.

Học Giải:

Điều giác ngộ thứ sáu này dạy cho mình phải học hạnh bố thí với tâm bình đẳng. Có ba loại bố thí: Một là Tài Thí - tức dùng tiền của mà cứu giúp kẻ nghèo khốn; Hai là Pháp Thí - tức giảng dạy cho người cách bỏ ác làm lành giữ tâm trong sạch; Ba là Vô Úy Thí - tức mang lại sự an vui không sợ hãi cho người. Dù là tài thí, pháp thí, hay vô úy thí thì chúng ta phải giữ cái niệm bình đẳng dù đối với người thân hay kẻ oán, cũng đừng vì những lỗi lầm xưa của người đã phạm mà ghi nhớ để rồi không thực hành hạnh bố thí cho họ, cũng đừng ghét người ác mà không bố thí. Hơn nữa người tu Bồ Tát đạo thì phải buông xuống mọi tình chấp thuộc vọng thức, như vậy mới gọi là bố thí. Còn ôm giữ tình chấp rằng đây là người thân của tôi, đây là người ác oán của tôi, xưa họ làm những điều sai trái với tôi, nên giờ tôi không thích bố thí cho họ v.v… còn ôm những những tình chấp đó thì đâu thể nào gọi là bố thí bình đẳng được, vì bố thí nghĩa là buông xã vậy. Còn ôm tiền, chấp pháp, giữ vô úy thì vẫn còn đau khổ sinh tử. Muốnrốt ráo thoát khổ sinh tử thì mình phải buông xuống mọi tình chấp thuộc vọng thức bằng cách bố thí vậy. Nói cao sâu thì nghèo khổ tức không chịu bố thí hay buông xã. Bố thí buông xã mọi tình chấp mới được giác ngộ giải thoát,trở về sống với Tự Tánh nơi mình, như vậy mới được gọi là giàu có, vì Tự Tánh là kho báu nơi mình vậy.

Mình cũng cần phải biết rằng người nghèo khổ thường hay có nhiều tâm niệm oán trách, thù hận, tự ti, mặt cảm v.v... Chính vì vậy nên họ thường kết nhiều nhân duyên xấu; nếu cái tâm lúc nào cũng lo nghĩ oán trời trách người sao tôi sanh ra nghèo khổ thế này, hoặc tôi muốn được như những người giàu kia, thì những niệm này nó cũng làm cho cái tâm đau khổ vô cùng. Từ những tâm niệm này lâu ngày sẽ phát ra hành động bên ngoài, có thể làm những đều không hay như đua tranh, bất chấp thân tình, dùng đủ mọi thủ đoạn xấu, hại người lợi mình để được giàu cóhoặc thứ mình muốn có. Những hành động ấy đều kết thêm nhiều nhân duyên xấu nữa, không biết bao giờ mớithoát khỏi được những nhân những duyên xấu mình tạo dựng. Rất đáng thương thay! Do vậy nên mình càng phảithông cảm mà thương những người nghèo khổ nhiều hơn, an ủi, giúp đở, và bố thí tài, pháp, và vô úy cho họ một cách bình đẳng. Đó mới thật là hạnh của người tu trên con đường của Bồ Tát.

Chính Văn:

Đệ thất giác ngộ: Ngũ dục quá hoạn, tuy vi tục nhân, bất nhiễm thế lạc, thường niệm tam y, ngõa bát pháp khí, chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao viễn, từ bi nhất thiết.

Học Giải:

Điều giác ngộ thứ bảy này dạy mình phải xa rời ngũ dục (tiền tài, sắc đẹp, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ) vì chúng làtai họa lầm lỗi. Ở thế gian, ai cũng mắt phải ngũ dục, không ham tiền thì cũng ham sắc, không ham sắc thì cũngham danh lợi, không ham danh lợi thì cũng ham ăn ngon mặt đẹp, không như thế thì cũng thích ngủ nghỉ cho nhiều. Từ xưa đến nay con người từ vua chúa đến thường dân, từ kẻ giàu sang tới người bần khổ, ai ai cũng vì những thứ này mà làm lại lẫn nhau, gây khổ cho nhau, tạo nhiều nhân duyên xấu ác cho nhau, nên chịu nhiều quả báo khổ đau bất tận. Chính vì vậy nên mới gọi ngũ dục  tai họa lầm lỗi.

Ơ đây Phật dạy người tại gia phải nên xa rời ngũ dục. Tuy là thân còn ở thế tục nhưng đừng có nhiễm những cái thú vui dục lạc của thế gian. Ngược lại còn phải thường nghĩ nhớ tới Y Bát của người xuất gia mà mang lòng kính mộ, nuôi cái ý chí xuất gia, giữ tròn phạm hạnh trong sạch và ban bố tâm từ đến muôn loài chúng sanh. Người tại gia đức Phật còn khuyên xa rời ngũ dục và nuôi chí nguyện cao cả xuất gia như thế, huống chi đã là người xuất giarồi mà không chịu xa rời ngũ dục, không giữ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao vời, không từ bi với muôn loài hay sao? Nếu đã xuất gia rồi mà ngũ dục chẳng chịu rời bỏ thì khác nào là người thế tục, luống bận áo Tăng, oan uổngmột đời tu hành, luống uổng sự cúng dường của tín thí. Đến già chết mới ăn năng hối hận thì cũng muộn rồi. Do vậy chúng ta phải suy xét như thế ngay hiện tại  cố gắng tu đạo giác ngộ giải thoát, xa rời ngũ dục, nuôi cái niệmxuất trần, tự giác giác tha để đền bốn ân, cứu khổ ba cõi.

Chính Văn:

Đệ bát giác tri: Sinh tử xí nhiên, khổ não vô lượng, phát đại thừa tâm, phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sinh, thọvô lượng khổ, lệnh chư chúng sinh, tất cánh đại lạc.

Học Giải:

Đều giác ngộ thứ tám này dạy mình phải thật vì sanh tử khổ đau, vì chúng sanh khổ đau mà phát khởi cái Tâm Đại Thừa. Chỉ khi nào phát khởi được Tâm Đại Thừa (tức Kiến Tánh) thì mới có thể nhổ tận gốc sinh tử khổ đau, cứu vớt tất cả chúng sanh (ở trong tâm mình) khiến họ vào Vô Dư Niết Bàn mà không thấy có một chúng sanh nào đượcđộ thoát như Kinh Kim Cang đã dạy. Kinh Duy Ma nói “Vì chúng sanh bệnh nên tôi mới bệnh, khi nào chúng sanh hết bệnh thì bệnh tôi mới hết.” Chúng sanh đó tức là chúng sanh trong tâm mình, hay nói thẳng là cái thức tâm phân biệt lăng xăng nơi mình, ngày nào chúng sạch hết thì mình mới ngộ được Bản Tâm  giải thoát, hết bệnh sinh tử. Độ chúng sanh vào ‘Vô Dư Niết Bàn’ ở Kinh Kim Cang, hay ‘hết bệnh’ ở Kinh Duy Ma mới thật là “tất cánh đại lạc” vậy!

Chính Văn:

Như thử bát sự, nãi thị chư Phật, Bồ Tát đại nhân, chi sở giác ngộ. Tinh tiến hành đạo, từ bi trí huệ, thừa pháp thânthuyền, chí Niết Bàn ngạn, phục hoàn sinh tử, độ thoát chúng sinh. Dĩ tiền bát sự, khai đạo nhất thiết, lệnh chưchúng sinh, giác sinh tử khổ, xã ly ngũ dục, tu tâm thánh đạo. Nhược Phật đệ tử, tụng thử bát sự, ư niệm niệmtrung, diệt vô lượng tội, tiến thú Bồ Đề, tốc đăng chính giác, vĩnh đoạn sinh tử, thường trụ khoái lạc.

Học Giải:

Đoạn cuối này dạy mình tám điều giác ngộ trên là sự giác ngộ của chư Phật, Bồ Tát và các bậc Đại Nhân. Sở dĩ các ngài được giác ngộ là do các ngài tinh tấn hành đạo, tu từ bi  trí tuệ nên mới có thể ngồi thuyền Pháp Thân, vượt tới bờ Niết Bàn (tức giác ngộ giải thoát), rồi trở lại sinh tử để độ thoát chúng sanh bằng cách đem tám điều này để khai mở đạo nhãn cho tất cả chúng sanh, giúp cho chúng sanh rõ được cái khổ sinh tử mà xa rời ngũ dục, tu tâmtheo con đường của bậc giác ngộ. Cho nên là đệ tử Phật thì thường đọc tụng, nghi nhớ, và quán xét tám điều ấy thì có thể trừ được nhiều lỗi lầm xưa nay, tiến thẳng đến quả giác Bồ Đề, thành bậc Chánh Giác, vĩnh viễn không cònsanh tử, thường sống bằng Chân Tâm an vui giải thoát.

Tài Liệu Tham Khảm:

1.  Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn Online. http://hanviet.org/

2.  Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác Kinh bằng tiếng Hán. Chinese Buddhist Electronic Text Association (CBETA).

http://www.cbeta.org/result/normal/T17/0779_001.htm

3.  Kinh Bát Đại Nhân Giác Lược Giải. Ngài Ngẫu Ích Trí Húc Lược Giải. HT Thích Thiện Huệ Việt dịch.

http://viengiac.de/2015/01/kinh-bat-dai-nhan-giac-luoc-giai/

4. Kinh Bát Đại Nhân Giác Giải. HT Thích Thanh Từ. http://www.thuong-chieu.org/uni/KinhSachThiKe/Kinh/BatDaiNhanGiac/TRANG_CHINH.htm

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online