Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow VĂN HÓA NGÔN NGỮ VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
VĂN HÓA NGÔN NGỮ VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Văn Tịnh - Đặng Thị Yến   
18/01/2017

VĂN HÓA NGÔN NGỮ  VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC.

NGÔN NGỮ VĂN HÓA TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY

* Nguyễn Văn Tịnh - * Đặng Thị Yến

Theo dòng cuốn của quá trình hội nhập thế giới, sự giao thoa văn hóa xã hội đòi hỏi ngôn ngữ phải có những thay đổi để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp mới. Vì thế từ khi nước ta bắt đầu hội nhập thì ngôn ngữ cũng dần dần xuất hiện những hiện tượng mới mẻ. Những từ ngữ mới, cách diễn đạt mới được hình thành để thêm vào những khái niệm, ngữ nghĩa mà trong vốn tiếng Việt trước đấy còn thiếu vắng. Cùng với mặt tích cực ấy, mặt tiêu cực cũng biểu hiện với không ít các cách nói, cách viết “khác lạ” trong giới trẻ làm mất đi hoàn toàn bản sắc vốn có của tiếng Việt. Đây là vấn đề đã thu hút sự quan tâm, trăn trở của nhiều người. Bài viết của chúng tôi cũng nhằm bày tỏ một cách nhìn của mình về vấn đề này.

   Ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mối quan hệ này có thể được biểu hiện ra bên ngoài thành những phương tiện vật chất cụ thể, nhưng cũng có thể biểu hiện qua mối quan hệ bên trong. Mối quan hệ này được hình thành từ một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ, đó là chức năng tư duy. Các Mác từng nói "Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng". Không có ngôn ngữ, con người không thể tư duy. Nói một cách khác, mọi hoạt động tư duy của con người đều thực hiện trên chất liệu của ngôn ngữ. Vì vậy, để xem xét nhận thức, tính cách, văn hóa của một người, chúng ta có thể nhìn vào cách mà người đó sử dụng ngôn ngữ. Hay nói cách khác bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp thông qua phương tiện ngôn ngữ. Năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá con người, ca dao có câu:

- Vàng thì thử lửa, thử than,

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

- Một thương tóc bỏ đuôi gà,

Hai thươngăn nói mặn mà có duyên…

Như vậy, giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ như thế nào là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc thể hiện văn hóa, hành vi ứng xử của con người trong mọi thời đại. Song điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là việc sử dụng ngôn ngữ của một người không chỉ là vấn đề liên quan đến văn hóa của người đó, mà còn liên quan đến văn hóa của dân tộc, liên quan đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ. Một cá nhân không thể thay đổi được bản sắc văn hóa ngôn ngữ của một dân tộc, nhưng một tầng lớp, một thế hệ lại có sự tác động rất lớn đến sự định hướng cho ngôn ngữ đó hình thành, biến đổi và phát triển như thế nào. Nói cách khác, tiếng Việt có giữ được vẻ đẹp trong sáng, phong phú, giàu đẹp mãi hay không là còn phụ thuộc vào các thế hệ mai sau của đất nước. Vì vậy, vấn đề giáo dục văn hóa ngôn ngữ cho mọi người nói chung, cho giới trẻ nói riêng là một việc làm vô cùng cần thiết.

1. Văn hóa ngôn ngữ và con người

Cuộc sống của con người không thể thiếu ngôn ngữ, thiếu lời  nói. Như mọi người đều biết, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người và xã hội loài người, đảm bảo một mặt truyền đạt và hiểu biết lẫn nhau của các thành viên xã hội. Song thường quên một điều rằng, ngôn ngữ không chỉ truyền đạt thông tin mà còn tác động đến nhân cách, hình thành nó và biến đổi theo chiều hướng tốt hoặc xấu. Ngôn ngữ không chỉ là tấm gương phản chiếu thụ động đời sống xung quanh mà còn can thiệp vào bức tranh thế giới nhân cách, vào văn hóa ngôn ngữ của nó, đặt vào nó nhãn quan thế giới, chỉnh sửa, làm biến đổi nhân cách một cách hợp lý, và theo đó là đời sống chung xã hội một cách trực tiếp.

Tóm lại, năng lực ngôn ngữ trở thành một thành tố cơ bản của văn hóa chung ở con người, thiếu ngôn ngữ không thể có hoạt động và văn hóa tinh thần của con người nào hết. Hoạt động ngôn ngữ theo truyền thống được xác định là nền tảng có khả năng rất lớn của sự phát triển nhân cách, nhận thức và chuẩn mực đạo đức của con ngthế hệ trẻ. Song, thật đáng tiếc là trong giáo dục học hiện đại ít chú ý vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành, phát triển nhân cách, trong việc hình thành đạo đức của nó, xã hội hóa và văn hóa hóa. Văn hóa ngôn ngữ xã hội ngày nay đangg là vấn đề lo ngại. Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học, các cơ sở giáo dục rất thường xuyên luận bàn vấn đề văn hóa ngôn ngữ của con người, cũng như ảnh hưởng của nó tới văn hóa của giới trẻ.

Khoảng 20-30 năm về trước, chuẩn mực tiếng Việt hiện đại chủ yếu được truyền bá bởi các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, các nhà khoa học; độc giả, thính giả tiếp nhận với sự kính trọng và yêu mến. Ngày nay, nó còn được mở rộng bởi sự truyền bá thường xuyên các người dẫn chương trình có học vấn cao, các ca sỹ, chính trị gia, nhà báo nổi tiếng… một số ngôn được biên tập, được chuyển tải qua kênh phát thanh và truyền hình trở thành hình mẫu bắt chước của giới trẻ.

2. Đi tìm định nghĩa văn hóa ngôn ngữ

Thuật ngữ “văn hóa ngôn ngữ” có rất nhiều định nghĩa. Các nhà ngôn ngữ phân thành 3 định nghĩa cơ bản sau:

- “Văn hóa ngôn ngữ - toàn bộ kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, bảo đảm sự thuận lợi kết cấu biểu thị lời nói đối với người phát ngôn nhằm giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp tối ưu (G.H. Ivannova- Lukjanova);    

- “Văn hóa ngôn ngữ - toàn bộ hệ thống đặc điểm, chất lượng của lời nói, nói về sự hoàn thiện nó (N.N. Costev);

- “Văn hóa ngôn ngữ” - lĩnh vực tri thức của ngữ âm học về hệ thống phẩm chất lời nói giao tiếp (V.I. Kurbatov).

Những  định nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: Nghĩa thứ nhất liên quan những đặc điểm của năng lực cá nhân; thứ hai- đối với sự đánh gía lời nói; thứ ba - đối với môn khoa học nghiên cứu năng lực lời nói và chất lượng lời nói.

Như vậy, “văn hóa ngôn ngữ - đó là sự lựa chọn và tổ chức phương tiện ngôn ngữ mà trong một tình huống cụ thể của giao tiếp khi tuân thủ chuẩn ngôn ngữ hiện đại và nghi thức giao tiếp, đảm bảo hiệu quả cao nhất, nhằm thực hiện được các nhiệm vụ giao tiếp”, - nhà ngôn ngữ học nổi tiếng đương đại Nga E. N. Siraev định nghĩa. Chúng tôi cho rằng đây là định nghĩa hay có tính phổ quát.                

Phát triển ngôn ngữ thường xuyên hướng tới sự hoàn thiện chuẩn văn hóa ngôn ngữ giúp ngôn ngữ văn chương gìn giữ tính toàn vẹn và dễ hiểu, bảo vệ ngôn ngữ văn học từ dòng chảy phương ngữ, tiếng lóng xã hội và nghề nghiệp, ngôn nữ tầm thường.

Vì vậy, trong giai đoạn cải cách xã hội một trong những nhiệm vụ có tính định hướng quan trọng là phải duy trì tính kế thừa của các thế hệ dựa trên nền tảng truyền thống dân tộc, và trước hết là quan niệm về một hình mẫu tiếng mẹ đẻ của mình.

3. Tiêu chí của văn hóa ngôn ngữ

Theo B.N. Golobin một chuyên gia có tiếng về lĩnh vực văn hóa lời nói thì có 4 tiêu chí đánh giá văn hóa ngôn ngữ, đó là:      

a) Tính nội dung - chiều sâu và giới hạn của tính thông tin biểu thị; sự chân thực của ngôn ngữ hùng biện là ở chỗ khi nói tất cả những gì liên quan, nhưng không vượt quá.

b) Tính minh chứng- độ tin cậy, dễ hiểu và tính luận cứ của các nguyên cớ mà cần phải thể hiện một cách trực quan cho người đối thoại về những gì mình được nói; tồn tại trong hoạt động thực tiễn và mang tính khách quan;

c) Tính khẳng định - năng lực tạo niềm tin cho người đối thoại và đạt được điều là niềm tin củng cố vững chắc trong nhận thức; trong các mục đích dòi hỏi phải tính đến đặc điểm tâm lý người đối thoại, minh họa các luận điểm của mình bằng các ví dụ rõ ràng;

d) Tính tường minh - mỗi một biểu thị cần phải rõ ràng và minh bạch; lời nói qua nhanh làm khó cho người nghe, qúa chậm - tạo nên sự ức chế; thô ráp và vô cảm lời nói có thể giết chết chính những ý tưởng sâu sắc;

e) Tính dễ hiểu - việc sử dụng từ ngữ và thuật ngữ mà người đối thoại hiểu được; lưu ý không sử dụng tùy tiện tiếng nước ngoài và đôi khi sử dụng các từ và biểu thị.[3, 264]

Ông cũng lưu ý rằng, sự hình thành văn hóa lời nói và văn hóa đạo đức của giới trẻ hiện đại chịu ảnh hưởng rất nhiều các nhân tố:

- Trước hết là, môi trường văn hóa xã hội xung quanh (gia đình, bạn bè, đồng trang lứa).

- Hai là, truyền hình, các tạp chí mốt; âm nhạc, xã hội nói chung.

Ngoài ra, theo chúng tôi, một số sách giáo khoa kể cả từ điển xuất bản gần đây ở Việt Nam không đảm bảo về chuẩn văn hóa ngôn ngữ cũng ảnh hưởng đến người học, nhất là giới trẻ.

4. Thực trạng văn hóa ngôn ngữ ở giới trẻ hiện nay

Xu hướng hiện đại của phát triển ngôn ngữ, nói một cách không lên gân là đang gây nên sự lo lắng cho xã hội ở các nước nói chung, ở Việt Nam nói riêng.  Qua những nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy sự suy giảm, thậm chí làm méo mó chóng mặt về phương diện chuẩn văn hóa ngôn ngữ mẹ đẻ trong toàn xã hội. Trước hết phải kể đến một số chương trình của các làng giải trí,  truyền hình quốc gia rồi đến các tin nhắn qua điện thoại, Facebook của giới trẻ.   Xu hướng lệch chuẩn văn hóa ngôn ngữ biểu hiện dưới các dạng:

- Lạm dụng quá nhiều tiếng lóng, từ địa phương cũng như vay mượn từ nước ngoài của một số tờ báo.

Có ý kiến cho rằng, hiện nay có không ít tờ báo, đặc biệt là những tờ báo viết cho đối tượng tuổi mới lớn lại bê nguyên xi ngôn ngữ đời thường mà giới trẻ hay nói chuyện với nhau vào ngôn ngữ báo chí để làm tăng tính biểu cảm, sinh động cho bài viết của tác giả và gây được ấn tượng đối với độc giả.

            Ví dụ, mới đây trên trang viết của một tờ báo đã đăng nội dung: tiền thành xiền, tình yêu thành tình iu, ghét như con bọ chét, nhỏ như con thỏ, tin vịt, chạy mất dép, bó tay.com, bốc hơi (biến mất), đít chai (kính), 2 (hi-chào), 4U (For you - cho bạn), 2NT (Tonight - tối nay), G92U (Good night to you)…nếu quan tâm đọc chắc nhức hết cả đầu, hoa cả mắt.

- Lạm dụng ngôn ngữ lóng, ngôn ngữ thời @ trong thời đại công nghệ thông tin ở giới trẻ

Dùng tiếng lóng để giao tiếp, trò chuyện, trao đổi, “chat” với nhau qua điện thoại, mạng xã hội ở thế hệ 9x (chủ yếu là thanh thiếu niên, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là học sinh, sinh viên, đang có chiều xâm nhập sang người lớn)  đã đến mức báo động.

Những coments về một bức ảnh thời trang của một cô gái mới đây nhất trên facebook là một ví dụ:

“Dep ngon com wa”; “anh mà lấy được vk sinh như em thì anh chỉ vk anh ăn song tắm dửa sạch sẽ mặc đồ ngủ thật mỏng cho vào lồng kính rồi mở cửa bán vé chiêm ngưỡng ngắm nhìn; “cj vân nany.xjnh gái”; “Em là Vẫn chứ đéo phải là Vân”; “E yêu cki”…

Vận dụng “sáng tạo” tiếng Anh khá kỳ cục trong các tình huống giao tiếp.

Ví dục: “Ugly tiger” nghĩa là “xấu hổ”  (Tiếng Anh: Ugly - xấu; tiger - con hổ). Đôi khi nghe giới trẻ đối thoại: “Mày thật “Ugly tiger!” hay “: “Mày không  “Ugly tiger à?”, cảm thấy buồn cười, nhưng cũng vui tai. 

Chúng tôi rất đồng tình với chia sẻ của một bạn đọc:

“Có rất nhiều dẫn chứng về việc lạm dụng quá nhiều tiếng lóng làm cho ngôn ngữ “chính thống” bị méo mó, mất giá trị văn hóa của tiếng Việt mà tôi có dịp được đọc, chẳng hạn như: “bùn wá mài nhỉ, lẹi gần hít nem lép 12 roài… thí tụi mìn ko đc zui như hồi nem ngoái, nghĩ vậy thoai mừ teo bùn ghê gúm… nhưng mìn hứa sẽ mãi lè bẹn thân, đeng wên teo dzà mái trừng iu zấu nì nha”.

            Với đoạn đối thoại trên, nếu không phải là dân “chat” chuyên nghiệp chắc hẳn bạn sẽ không thể hiểu nổi “đoạn văn” đó nói cái gì?”. [5]

- Tiếng Việt đang bị nhiễm bẩn bởi nói tục, chửi bậy

Trong bài viết “Khi Hà Nội …nói tục” tác giả Nguyễn Triều bộc bạch: “Không biết ở đâu, khi nào, có ai tìm hiểu, nghiên cứu, điều tra về chuyện nói tục hay không, tôi không biết. Một lần ông Đức Uy (chuyên gia tâm lý học), một người bạn của tôi gửi cho tôi kết quả một cuộc thăm dò hay điều tra gì đó về chuyện Hà Nội có nói tục hay không? Tôi không biết sử dụng như thế nào cả nhưng từ đó để ý và nhận thấy sự nói tục của người Hà Nội không giảm xuống mà ngày một tăng hơn, một dã man hơn. Theo kết quả điều tra ấy thì số người khẳng định mình không nói tục chỉ có 14%, số chắc chắn nói tục là 62%. Còn lại tùy thuộc…Tôi biết rằng, với người Việt trong nhiều trường hợp đúng là phải văng tục ra mới hả. Hả cơn giận. Hả nỗi buồn. Hả niềm vui. Hả cả tính cách”. Chưa hết, tác tiếp tục: “Các nhà nghiên cứu tìm hiểu và nhận thấy người ta nói tục chủ yếu vì nhận thức kém, vì hoàn cảnh tác động, vì bắt chước, vì thói quen, vì cáu giận, vì vui đùa, vì nhiều lý do khác nữa. Nhưng tôi dám chắc rằng, thói quen nói tục “phần nhiều do giáo dục mà nên”. [1; 371,372, 374]           

Hiện tượng nói tục thì quốc gia nào cũng có. Nhưng nước ta có lẽ chiếm tỷ lệ cao nhất. Nói tục trở thành thói quen, nhu cầu, sự “khoái khẩu” ở mọi đối tượng, trừ trẻ chưa biết nói. Các câu thường trực cửa miệng: “Đ.M” ở quán sá, ngoài đường, bến xe, bến tàu, công trường … Có người mở miệng ra là chửi, rủa không có câu chửi tục là không sướng. Ông bà ta dạy: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”; “Một lời nói uốn lưỡi bảy lần”; “Sa chân còn cứu được, sa lời khó cứu”. Những hiện tượng kể trên chắc chăn làm xấu đi hình ảnh tiếng Việt rất vốn rất giàu và đẹp. Chu Giang nói rất có lý là “Trong đời sống, phải văng tục ra, ấy là kẻ nghèo lời, đuối lý hay là bị ngọng câu đầu lưỡi”[2, 276].          

         Tóm lại, trước trào lưu sử dụng tiếng lóng, lạm dụng tiếng nước ngoài hiện nay ở giới trẻ, tiếng Việt đang có nguy cơ bị xâm hại xét về phương diện văn hóa ngôn ngữ. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, việc sử dụng tiếng lóng cũng có tác dụng nhất định đối với giới trẻ như: khả năng truyền đạt thông tin nhanh, tiết kiệm thời gian (chủ yếu dùng ký hiệu, viết tắt), có những yếu tố sáng tạo…làm cho hoạt động giao tiếp cũng phong phú hơn.

            5. Nguyên nhân và  một số giải pháp

5.1. Nguyên nhân

- Các phương tiện thông tin đại chúng, trước hết là truyền hìnnh là loại phương tiện thông tin đại chúng phổ biến nhất trong xã hội ảnh hưởng lớn nhất đối với sự hình thành các giá trị, thế giới quan, đạo đức của thế hệ trẻ nhưng có biểu hiện lệch chuẩn trong việc dùng từ phổ biến như: tối ưu thì đọc thành  tối ưu nhất; lẫn lộn giữa điểm yếu và yếu điểm, đọc sai các đoạn trích trong diễn văn các lễ trọng đại của dân tộc; đập vào mắt những lời đối thoại trần trụi, thô thiển khó chấp nhận trước những thành phần ngồi trước màn ảnh nhỏ gồm nhiều đối tượng, trong đó có các đối tượng ở tuổi hay bắt chước, làm theo các nhân vật trên truyền hình.   

- Một số báo cũng đang ra sức cổ xúy cho sự lệch lạc văn hóa ngôn ngữ ở giới trẻ qua những bài viết lạm dụng một cách có ý thức nhằm câu khách, gây ấn tượng đối với độc giả trẻ. 

- Đặc biệt các nhạc phẩm của các ban nhạc, lời của các bài hát có khẩ năng gây sosk ở bất kỳ một người có học vấn nào. Ví dụ: “Yêu nhau ném đá vỡ đầu nhau ra” (Yêu nhau, hét nhau), đi ngược với đạo lý dân tộc: “Thương người như thể thương thân”.

- Sự buông lỏng, thiếu sự quản lý chặt chẽ các trang báo mạng xã hội và các thông tin quảng cáo. Tình trạng chung: người tham gia không cần biết người đối thoại là ai vẫn sẵn sàng văng lời tục tĩu, thô thiển để thóa mạ, dìm “hàng” người khác. 

- Sự bùng nổ của công nghệ thông tin là mảnh đất để lệch chuẩn văn hóa ngôn ngữ có cơ hội phát triển (Internet, điện thoại...).

- Trào lưu, “mốt” sử dụng tiếng lóng, ngoại ngữ, ngôn ngữ @ để giao tiếp trở thành yếu tố để muốn tự khẳng định đẳng cấp của mình đang xâm nhập và lan tỏa ở giới trẻ hiện nay.      

5.2. Một số giải pháp

Nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình Chu Giang khẳng định: “Ngôn ngữ là sản phảm của con người. Cuộc sống luôn phát triển và ngôn ngữ theo đó cũng luôn phát triển trong đó có những bộ phận ổn định lâu dài và những bộ phận mới phát triển, những từ cổ nay ít hay không dùng nữa và những từ mới xuất hiện…Tiếng Việt, ngôn ngữ Việt từ bắt đầu đến nay là phát triển theo quy luật đó… Sự sáng tạo nào phù hợp thì được nhập vào. Còn không thì không” .

Chúng tôi cho rằng ngăn cấm cá nhân sử dụng tiếng lóng, ngôn ngữ @, ngoại ngữ nhất là tiếng Anh để giao tiếp trên diễn đàn, mạng xã hội, điện thoại là điều không thể. Điều quan trọng là cần có sự định hướng cho giới trẻ trong việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp làm sao cho đáp ứng được chuẩn văn hóa ngôn ngữ, nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt như Bác Hồ, sau này là Thủ tướng Phạm Văn Đồng mong muốn. Muốn làm được điều đó, theo chúng tôi cần có sự vào cuộc của gia đình, nhà trường và xã hội.    

- Gia đình

Bố mẹ phải làm gương trong việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ cũng như tiếng nước ngoài; những lệch lạc trong văn hóa ngôn ngữ (viết, nói, giao tiếp) trẻ tiếp thu, bắt chước rất nhanh. 

- Nhà trường

Giáo dục học sinh thức bảo vệ sự trong sáng tiếng Việt khi giao tiếp qua điện thoại, mạng xã hội, tự trau dồi và làm phong phú vốn ngôn ngữ cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài để nâng tầm văn hóa trong giao tiếp và tư duy; dạy đúng chuẩn tiếng Việt; không sử dụng tiếng lóng khi giao tiếp với học sinh…Không sử dụng sách giáo khoa, từ điển kém chất lượng và có nhiều sai sót; nghiêm cấm các hành vi chửi bậy, nói bậy trong nhà trường.   

- Xã hội

Về phía Nhà nước, trước hết ngành Giáo dục và Đào tạo phải có những biện pháp cứng rắn để bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Kiên quyết loại bỏ những chương trình phát sóng trên truyền hình không đảm bảo chất lượng và trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Như chúng ta đã biết, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn chú trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục nhân dân phải làm cho tiếng nói, chữ viết ngày càng thêm đẹp, thêm phong phú, hiện đại. Và ngay cả nước Nga, một đất nước có vị thế vững mạnh trên trường quốc tế cũng luôn đặt vấn đề giữ gìn bản sắc ngôn ngữ là vấn đề vô cùng quan trọng. Cụ thể làChính phủ Liên Bang Nga đã đưa ra những chủ trương, giải pháp nhằm cứu nguy cơ phá vỡ chuẩn tiếng Nga chính (“Chỉ thị về việc nâng vị trí của tiếng Nga, Luật “Về bảo vệ tiếng Nga”, Thông cáo của Tổng thống LB Nga lấy năm 2007 là năm tiếng Nga ở Nga và ở nước ngoài).

- Cá nhân

Tự trau dồi và rèn luyện tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài để có vốn từ phong phú và sử dụng đúng và chuẩn mực.

Như vậy, vấn đề văn hóa ngôn ngữ và giáo dục văn hóa ngôn ngữ cho thế hệ trẻ nhất là cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay trở thành vấn đề cấp bách, cần sự chung tay của các lực lượng xã hội, trong đó bản thân giới trẻ - chủ thể của nhận thức và hành động đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt trên cơ sở “kế thừa và phát huy truyền thống đi đôi với việc sáng tạo những giá trị mới phù hợp với tinh thần thời đại…Rộng tay tiếp thu những thành quả ưu tú của văn hóa thế giới nhưng không Tây hóa” [3].   

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thanh Bình (2009),  Hà Nội 36 + góc nhìn, NXB Thanh niên

 2. Chu Giang (2015), Luận chiến văn chương, NXB Văn học.

 3. Đình  Quang (1999), Nhận thức và xử lý văn hóa trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia.

 4. Rezannova L. Văn hóa lời nói và vấn đề giáo dục đạo đức giới trẻ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Châu Âu và Nga hiện đại “Chức năng tích hợp khoa học giáo dục trong một không gian giáo dục”, Moskow - Paris, 2010 (dịch từ tiếng Nga). 

         5. Www. Thuvientructuyen.vn. 

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online