Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Sự linh ứng khi đọc tụng chú Đại bi
Sự linh ứng khi đọc tụng chú Đại bi PDF In E-mail
Người viết: ST   
11/05/2017

Sự linh ứng khi đọc tụng chú Đại bi

* ST

Thần Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội, trước mặt đông đủ các vị Bồ Tát, Thinh văn, Thánh chúng, Trời, Thần, Thiên, Long, các Đại thánh tăng như Ma Ha Ca Diếp, A Nan... Cùng câu hội, tại núi Bồ Đà Lạc Ca (Potalaka), một hải đảo ở về phía Nam xứ Ấn Độ, được coi như là nơi mà Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường trụ tích.

 

Ta có thể tin chắc điều đó, bởi vì Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan "Như thế tôi nghe", cũng như xuyên qua nội dung hỏi đáp giữa ngài A Nan và Đức Thế Tôn, đã được ghi lại ở trong kinh.

 Trong pháp hội này, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sanh, muốn cho "chúng sanh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu" mà nói ra Thần Chú này.

Ngài cho biết lý do ra đời của Thần Chú như sau: 

 Vào vô lượng ức kiếp về trước, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến chúng sanh, nên đã nói ra thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán Thế Âm nên thọ trì tâm chú này, để mang đến lợi ích an vui lớn cho chúng sanh trong đời vị lai. 

 Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi sơ địa, khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Vui mừng trước oai lực của thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện: 

 - Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn mắt ngàn tay.

 Lập tức, Ngài thành tựu ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt, trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của một vị Bồ Tát, mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh. 

 Ngàn tay, ngàn mắt nói lên cái khả năng biến hóa tự tại, cái dụng tướng vô biên của thần lực Từ bi và Trí huệ, tỏa khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngàn mắt để có thể chiếu soi vào tất cả mọi cảnh giới khổ đau của nhân loại và ngàn tay để cứu vớt, nâng đỡ, như Đức Phật giải thích với Ngài A Nan ở trong kinh, "tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh".

 Kinh và Thần chú Đại Bi sau đó đã được ngài Dà Phạm Đạt Ma (Bhagavaddharma: có nghĩa là Tôn Pháp) một Thiền sư Ấn Độ, du hóa qua Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường, dịch và chuyển âm từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển ngữ qua tiếng Việt. 

 Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như: Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,..

 Sự linh ứng khi đọc tụng chú Đại bi

 Một là không bị chết vì đói khát, khốn khổ;

 Hai là không bị chết vì gông, tù, đòn roi;

 Ba là không bị chết vì oan gia thù nghịch;

 Bốn là không bị chết vì chiến trận tương tàn;

 Năm là không bị chết vì cọp, sói, ác thú tàn hại;

 Sáu là không bị chết vì trúng độc rắn, rết, bò cạp;

 Bảy là không bị chết vì nước cuốn, lửa thiêu;

 Tám là không bị chết vì trúng phải độc dược;

 Chín là không bị chết vì cổ độc tác hại;

 Mười là không bị chết vì điên loạn, mất trí;

 Mười một là không bị chết vì núi lở, cây ngã, vách đá sụp;

 Mười hai là không bị chết vì kẻ ác thư ếm;

 Mười ba là không bị chết vì tà thần, ác quỷ thừa cơ làm hại;

 Mười bốn là không bị chết vì ác bệnh triền thân;

 Mười lăm là không bị chết vì tự sát, tự tử.”

Đây là nội dung chú Đại bi:

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

 2. Nam mô a rị da

 3. Bà lô yết đế thước bát ra da

 4. Bồ Đề tát đỏa bà da

 5. Ma ha tát đỏa bà da

 6. Ma ha ca lô ni ca da

 7. Án

 8. Tát bàn ra phạt duệ

 9. Số đát na đát tỏa

 10.Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da

 11.Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà

 12.Nam mô na ra cẩn trì

 13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế

 14.Tát bà a tha đậu du bằng

 15.A thệ dựng

 16.Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)

 17.Na ma bà dà

 18.Ma phạt đạt đậu đát điệt tha

 19.Án. A bà lô hê

 20.Lô ca đế

 21.Ca ra đế

 22.Di hê rị

 23.Ma ha bồ đề tát đỏa

 24.Tát bà tát bà

 25.Ma ra ma ra

 26.Ma hê ma hê rị đà dựng

 27.Cu lô cu lô yết mông

 28.Độ lô đồ lô phạt xà da đế

 29.Ma ha phạt xà da đế

 30.Đà ra đà ra

 31.Địa rị ni

 32.Thất Phật ra da

 33.Giá ra giá ra

 34.Mạ mạ phạt ma ra

 35.Mục đế lệ

 36.Y hê di hê

 37.Thất na thất na a

 38 Ra sâm Phật ra xá lợi

 39.Phạt sa phạt sâm

 40.Phật ra xá da

 41.Hô lô hô lô ma ra

 42.Hô lô hô lô hê rị

 43.Ta ra ta ra

 44.Tất rị tất rị

 45.Tô rô tô rô

 46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ

 47.Bồ đà dạ bồ đà dạ

 48.Di đế rị dạ

 49.Na ra cẩn trì

 50.Địa rị sắc ni na

 51.Bà dạ ma na

 52.Ta bà ha

 53.Tất đà dạ

 54.Ta bà ha

 55.Ma ha tất đà dạ

 56.Ta bà ha

 57.Tất đà dũ nghệ

 58.Thất bàn ra dạ

 59.Ta bà ha

 60.Na ra cẩn trì

 61.Ta bà ha

 62.Ma ra na ra

 63.Ta bà ha

 64.Tất ra tăng a mục khê da

 65.Ta bà ha

 66.Ta bà ma ha a tất đà dạ

 67.Ta bà ha

 68.Giả kiết ra a tất đà dạ

 69.Ta bà ha

 70.Ba đà ma kiết tất đà dạ

 71.Ta bà ha

 72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ

 73.Ta bà ha

 74.Ma bà rị thắng yết ra dạ

 75.Ta bà ha

 76.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

 77.Nam mô a rị da

 78.Bà lô kiết đế

 79.Thước bàn ra dạ

 80.Ta bà ha

 81.Án. Tất điện đô

 82.Mạn đà ra

 83.Bạt đà gia

 84.Ta bà ha.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online