Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Người “đãi cát...” văn hóa dân gian Nam bộ
Người “đãi cát...” văn hóa dân gian Nam bộ PDF In E-mail
Người viết: Lương Định   
08/08/2017

Người “đãi cát...” văn hóa dân gian Nam bộ

*Lương Định

Báo Dân Sinh. Cơ quan ngôn luận của Bộ LĐTB và XH

Trần Phước Thuận, sinh ra ở Bạc Liêu, quê hương của bản “Dạ cổ hoài lang” bất hủ. Khởi nghiệp bằng nghề Đông y nhưng ông lại rất say mê nghiên cứu văn hóa dân gian Nam bộ nói chung và đờn ca tài tử nói riêng. Nhiều công trình nghiên cứu của ông được đánh giá cao về giá trị khoa học xã hội và nhân văn như: “Truyện Kiều tạp chú”, “Văn hóa Khmer Nam bộ”, “Bước đầu tìm hiểu về tác giả, tác phẩm cổ nhạc Bạc Liêu”, “Tinh hoa nghệ thuật Bạc Liêu”...

Biết tên tuổi ông đã lâu, nhưng đến tháng 5/2015, khi dự trại sáng tác văn học nghệ thuật ở TP. Vũng Tàu, tôi mới được gặp và trò chuyện cùng ông. Là người mê văn chương, nên sau 1975, ông theo học Khoa Ngữ văn (Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh), nhưng sau khi tốt nghiệp ông lại về làm việc ở Phòng Chẩn trị Đông y ở thị xã Bạc Liêu. Ông cho biết, Đông y là nghề gia truyền mấy đời của gia đình, nên cho tới bây giờ dù say mê nghiên cứu văn hóa dân gian nhưng ông vẫn giữ nghề “cha truyền con nối”.

Cuốn sách đầu tiên của ông là nghiên cứu về “Đặc điểm văn hóa Khmer Nam bộ”, gồm văn hóa vật thể và phi vật thể. Đối với phần văn hóa vật thể, ông có nhiều đóng góp khi nghiên cứu về đặc trưng nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc chùa chiền của người Khmer Nam bộ. Qua đó người đọc cảm nhận được rằng, đối với người Khmer Nam bộ, dù ở một phum, sóc nhỏ nhưng ngôi chùa bao giờ cũng được xây dựng lớn, uy nghi, trang trí các đường nét chạm, khắc hoa văn thật tinh xảo, thật kỳ công. Trong đó mỗi hoa văn, họa tiết đều mang một ý nghĩa tượng trưng riêng, rất đặc biệt.

Chùa Khmer thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca ở chính điện, chứ không thờ các tượng Phật, Bồ Tát… như các chùa phái Bắc Tông khác. Phần nghiên cứu về văn hóa phi vật thể, ông nhận định nổi bật nhất là các lễ hội, gồm 3 lễ chính trong năm: Chuôl – Chnam Thmay, Đôn Ta và Óc Om Bóc. Đến ngày lễ hội, tất cả cộng đồng Khmer đều dành thời gian trọn vẹn ở trong chùa để hành lễ, biểu diễn các loại hình nghệ thuật đàn, hát dân gian truyền thống, đó là nét đặc thù của người Khmer Nam bộ. Một trong những công trình nghiên công phu và đáng chú ý nhất, có sự đóng góp đáng kể nhất của ông chính là cuốn “Bước đầu tìm hiểu về tác giả, tác phẩm cổ nhạc Bạc Liêu”. Công trình này được NXB Thanh Niên xuất bản lần đầu năm 2012, sau đó được ông bổ sung thêm và đổi tên là“Tìm hiểu cổ nhạc Bạc Liêu, NXB Âm Nhạc tái xuất bản 3.000 bản phục Festival đờn ca tài tử lần thứ nhất tổ chức tại Bạc Liêu năm 2014 và được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Để giới thiệu được khá đầy đủ những tác giả nổi danh trong làng cổ nhạc Bạc Liêu, ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức và tâm huyết để sưu tầm ghi chép. Nhờ đó những tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, các tác phẩm tiêu biểu, những đóng góp quan trọng của từng nghệ nhân đối với nghệ thuật cải lương và đờn ca tài tử, được ghi nhận một cách thật công tâm và chính xác. Đó là những tên tuổi một thời vang danh không chỉ ở xứ Bạc Liêu, mà khắp Nam bộ như Nhạc Khị (tên thật là Lê Tài Khí), Sư Nguyệt Chiếu, Bảy Kiên, Cao Văn Lầu, Nguyễn Văn Bình, Ba Chột, Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Lư Hòa Nghĩa, Bảy Cao, Lý Khị, Thái Đắc Hàng…Ông bảo, trong số hơn 30 nghệ nhân được đánh giá là đại thụ trong nghệ thuật dân gian truyền thống ở Bạc Liêu, Nhạc Khị (1870 – 1948) là người ông bỏ công sức, thời gian nhiều nhất, mất khoảng 5 năm để đi điền dã sưu tầm ghi chép tư liệu và viết chỉ được khoảng 2.000 chữ. Nhưng bù lại, đây là những thông tin vô cùng quý giá và là nguồn tư liệu chuẩn về một bậc tài danh trong làng đờn ca tài tử cho những ai muốn nghiên cứu tìm hiểu.

Đặc biệt, trong phần ghi chép lại các bản xưa của đờn ca tài tử nói chung, của Bạc Liêu nói riêng ông đã dày công tỉ mỉ ghi một cách chính xác, đầy đủ cả 20 bản Tổ gồm cả nhạc và lời, từ bản thảo của hai cụ Ba Chột, Trịnh Thiên Tư. Đối với các tác giả Bạc Liêu, ông ghi lại hầu hết các bài bản nổi tiếng, được phổ biến rộng khắp trong làng đờn ca tài tử Nam bộ như: “Dạ cổ hoài lang” (Cao Văn Lầu); “Liêu giang” (Ba Chột); “Hưng trung thinh” (Tư Bình); “Sương chiều” (Mộng Vân) và 6 câu vọng cổ nhịp 32 của Trần Tấn Hưng…

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nam bộ đánh giá, đây là một nỗ lực rất lớn của ông đã sưu tầm, biên soạn một cách có hệ thống và đầy đủ hơn so với các công trình của các tác giả đi trước trong nghiên cứu về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ nói chung, xứ Bạc Liêu nói riêng. Chính vì thế dịp Festival đờn ca tài tử lần thứ nhất, tổ chức tại Bạc Liêu năm 2014 ông vinh dự được nhận giải thưởng Cao Văn Lầu và được Thủ tướng tặng Bằng khen “Đã có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong nghiên cứu, bảo tồn và phát huy Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online