Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow SƯ NGUYỆT CHIẾU
SƯ NGUYỆT CHIẾU PDF In E-mail
17/03/2018

SƯ NGUYỆT CHIẾU

* Cư sĩ Tắc Hành

Đa số những nhạc sĩ trong giới nhạc lễ ở Bạc Liêu đều công nhận Nguyệt Chiếu là một nhạc sĩ tiền bối có công lớn nhất trong việc pht huy bộ môn nghệ thuật này; không những ông đã góp phần phát huy nghi thức nhạc lễ cổ truyền của Phật giáo mà còn đóng góp nhiều công sức với Nhạc Khị trong việc hiệu đính và chỉnh tu bảy bản Bắc Lớn để làm nòng cốt cho các trương phái  nhạc lễ ở Nam bộ.

 

Chung quanh cuộc đời của sư Nguyệt Chiếu có rất nhiều giai thoại và những lời đồn đại khác nhau; có người nói rằng ông vốn là người tỉnh khác đến Bạc Liêu sinh sống, có người nói ông là một chiến sĩ của phong trào Cần Vương đến ẩn lánh ở Bạc Liêu trong lớp áo nhà tu, cũng có tin đồn rằng ông chính là tác giả của bài thơ Dạ cổ hoài lang và ông Cao Văn lầu đã căn cứ vào bài thơ này để phóng tác ra nhạc… người ta nói đến ông thì nhiều nhưng tên họ của ông thì không ai nói đến. Thực ra tên họ thật của ông là Lưu Hữu Phước, vốn người Bạc Liêu chứ không phải người ở nơi khác đến đây sinh sống, chỉ có cha mẹ ông là người ở Ngã Năm - Sóc Trăng (hiện nay thuộc huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng) đến chợ Bạc Liêu lập nghiệp vào những năm trong thập niên 70 của thế kỷ XIX, đến năm Nhâm Ngọ (1882) mới sinh ra ông. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng là một cậu bé thông minh học đâu nhớ đó, năm lên 10 tuổi đã đọc và viết được chữ Hán. Cha của ông làm nghề viết liễn lại vừa là một nhạc công rất thiện nghệ về đờn cò (nhị cầm), nên ngoài những giờ học chữ Hán, ông còn được cha truyền dạy về những bí quyết về nhạc lễ và mỗi lần cha ông được mời tham dự nhạc lễ ở đâu ông cũng được đi theo để học hỏi; vì vậy ngay từ thuở thiếu thời ông đã có ấn tượng rất sâu sắc về bộ môn nghệ thuật này.

Nhưng ông đã sớm theo tiếng gọi của non sông nên khi vừa đến tuổi thành niên đã tham gia vào một tổ chức chống Pháp ở vùng ngoài (chưa xác định được tổ chức nào). Hoạt động được hơn một năm thì tổ chức bị tan rã, ông phải chạy vào vùng Sài Gòn – Gia Định ẩn náu trong vài ngôi chùa ở đây một thời gian khá lâu. Rồi không biết do nợ trần đã dứt hay nuốn che dấu tai mắt của Pháp hoặc hoàn cảnh đẩy đưa thế nào, ông lại xuống tóc quy y, năm đó vừa tròn 20 tuổi (1902).

Lúc mới xuất gia, ông được sư phụ đặt cho pháp danh là Đạt Bảo, sau đó mới có thêm pháp tự là Nguyệt Chiếu. Người truyền đạo cho ông lại rất giỏi về nhạc lễ, nên ngoài việc trau dồi kinh luận Phật học, ông còn được trao truyền  những sở đắc về nhạc lễ. Nguyệt Chiếu vốn đã có một ít căn bản về nhạc lễ, nên khi học ông tiến bộ rất nhanh, chỉ vài năm sau thì gần như đã hấp thu trọn vẹn sở học của thầy. Thầy của ông là người ưa vân du đây đó lại có nhiều bè bạn là những thầy đờn nổi tiếng ở khắp nơi; vì vậy trên bước đường theo thầy đi đây đi đó ông đã học hỏi được rất nhiều điều hay điều lạ về nhạc lễ cổ truyền.

Khi thầy viên tịch, Nguyệt Chiếu mới trở về Bạc Liêu, đầu tiên ông trú ngụ ở chùa Vĩnh Phước An (hiện nay thuộc phướng 2, thị xã Bạc Liêu). Người trụ trì chùa lúc ấy là Hòa thượng Minh Bảo (tục danh Lê Trừng Tâm), nguyên là chú vợ của Nhạc Khị, nên Nhạc Khị cũng thường lui tới ngôi chùa này để thăm nom chú vợ của mình ; cũng vì vậy Nguyệt Chiếu và Nhạc Khị đã gặp nhau và có lẽ do “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nên sau vài lần gặp gỡ hai người đã trở thành đôi bạn tâm giao. Từ đó trở đi hai người đã hợp tác với nhau thực hiện rất nhiều công trình canh tân, sáng tác và chỉnh tu cổ nhạc mở đầu cho sự hình thành trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, tạo dựng nhiều phong trào : đờn ca tài tử, ca ra bộ và phục hưng nhạc lễ cổ truyền.

Lúc bấy giờ các tôn giáo và các tổ chức tín ngưỡng dân gian ở Nam bộ đều có những nghi thức tế lễ riêng, nhưng đa số đều sử dụng cổ nhạc làm cơ sở để thực hiện . Bài bản được sự dụng trong các nghi lễ đa số là các bản Bắc Lớn, tùy theo nhu cầu của từng chi tiết nghi thức mà các bản này sẽ được sử dụng ở mỗi vị trí và trường hợp khác nhau, sao cho phù hợp để tiếng nhạc làm tăng thêm trang nghiêm cho buổi lễ. Cũng do đó sự sáng tạo càng lúc càng nhiều, đến nỗi lòng bản của các bản thường được sử dụng cũng bị thay đổi thành nhiều dị bản, nhất là các đoàn lễ nhạc mang màu sắc tôn giáo hoặc mang nặng tính địa phương thì luôn có sự sáng tạo rất đặc thù; vì vậy các dị bản càng ngày càng nhiều đến nỗi người ta không còn biết bản nào là bản gốc. Thêm một điều rắc rối nữa là đa số nhạc công đều muốn học cho mau lẹ để hành nghề, vì vậy mỗi bài bản chỉ học một đoạn thường dùng, vì vậy ít ai đờn được trọn bản, nên các bản nòng cốt dần dần phải lâm vào cảnh: “còn đầu mất đuoi” hoặc “chỉ có đuôi đầu”.

Đến đầu thế kỷ XX, phong trào canh tân và hiệu đính nhạc cổ đã được nhen nhóm, Nhạc Khị là người đầu tiên khơi động phong trào và Nguyệt Chiếu có thể nói là nhân vật thứ hai – là người cộng tác tích cực nhất cho Nhạc Khị trong việc làm đầy ý nghĩa này. Chính ông đã ra công sưu tầm, tập hợp và góp phần hiệu đính bảy bản Bắc Lớn (thường gọi bảy bản Lớn, cũng có nơi gọi là bảy Bài, gồm cc bản Xàng xe (64 câu), Ngũ đối thượng (61 câu), Ngũ đối hạ (38 câu), Long đăng (40 câu), Long ngâm (33 câu), Tiểu khúc (29 câu) vàVạn gia (47 câu) của nhạc lễ cổ truyền ; suốt trong thời gian này ông phải sưu tầm, nghiên cứu, chiết trung và đôi khi phải sáng tạo để chắp vá vào những câu, những đoạn bị mất không còn tìm lại được. Những chỗ khó khăn hoặc sai sót ông đều được sự góp ý của Nhạc Khị nên công việc tiến hành rất thuận lợi và cuối cùng đã hoàn thành mỹ mn vào khoảng năm 1908. Các bản này đều được Nhạc Khị nhuận sắc và áp dụng để giảng dạy, sau đó đã được in trong Ca nhạc cổ điển của Trịnh Thiên Tư. Việc góp phần hiệu đính và chỉnh tu bảy bản Lớn của sư Nguyệt Chiếu không chỉ có công lớn cho riêng bộ môn nhạc lễ cổ truyền mà còn tích cực góp công tạo dựng nền móng cho cổ nhạc Nam bộ, nhưng cũng chính vì vậy nên có một số câu trong bảy bản lớn ở Bạc Liêu khác với bảy bản lớn ở các nơi.

Ở chùa Vĩnh Phước An được vài năm, ông được Hòa thượng Xuân Phong (thường gọi ông Ký) mời về chùaVĩnh Đức (hiện nay thuộc phường 1 thị xã Bạc Liêu), tại đây ông thu nhận học trò để phổ biến những phát hiện mới về nhạc lễ. Học trò của ông rất đông trong số đó có cả một số học trò của Nhạc Khị như : Thiện Ý, Thiện Ngộ, Thiện Thành, Hai Tố, Năm Phát, Tư  Quận, Chín Khánh, Trịnh Thiên Tư… đến học thêm ở ông về nghi thức nhạc lễ cổ truyền . Ông giao du rất rộng, lại có rất nhiều học trò trong đó có cả tục gia lẫn tu sĩ nên đa số đình miếu chùa chiền và các ban nhạc lễ trong tỉnh lúc bấy giơ đều có qua lại với ông, nhất là hòa thượng An Hóa (Lê Văn Thành) trụ trì chùa An Thạnh Linh ở làng Hòa Bình (hiện nay là xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) lại càng thân thiết, vì vị sư trụ trì này nghe đâu cũng có một thời gian tham gia chống Pháp, sau đó về ẩn cư ở Hòa Bình, tại đây ông đã ra công vận động bà con Phật tử để xây dựng chùa An Thạnh Linh. Sư Nguyệt Chiếu và hòa thượng An Hóa hai người có đồng cảnh ngộ nên chỉ gặp gỡ vài lần họ đã rất thân và thường lui tới với nhau.

Vào khoảng năm 1925 Nguyệt Chiếu có nhận đào tạo một đội nhạc công cho chùa An Thạnh Linh, những người theo học đa số là người Hòa Bình đã được Nguyệt Chiếu hướng dẫn cả về nhạc lễ lẫn đờn ca tài tử. Khi hướng dẫn đờn ca tài tử ông chú trọng nhất là bài Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu, có lẽ vì điểm này nên đa số nghệ sĩ ở Hòa Bình đều hiểu lầm ông là tác giả của bài Dạ cổ, thực sự ông chỉ là người phổ biến bản nhạc mà thôi . Có lẽ do mối quan hệ thầy trò vào những năm đó rất cách biệt chứ không gần gũi như ngày nay, những điều nghi ngờ của trò thường không dám hỏi lại thầy nên mới có sự hiểu lầm đó. Trong thời gian dạy nhạc lễ và đờn ca tài tư vì ông là tu sĩ nên không thể trực tiếp tham gia đờn ca tài tử hoặc ca ra bộ, nhưng đệ tử của ông lại có một số tham gia vào các phong trào này, nổi bật nhất là Năm Nghĩa, Sanh Xía, Chín Quy… những người này đều là những nhân tài ca cổ ở Nam bộ, đã từng đóng góp rất nhiều công sức bằng lới ca tiếng hát để phát huy cổ nhạc Bạc Liêu trên mọi phương tiện thông in đại chúng như đài phát thanh, đĩa hát… và có những người đã trở thành diễn viên nổi tiếng của sân khấu cải lương sau này. 

Trong những năm cuối đời, ông vẫn ở chùa Vĩnh Đức, lúc đó công việc Phật sự của sư môn ông đã hoàn thành, tâm nguyện chấn hưng nhạc lễ cổ truyền ở Bạc Liêu ông cũng làm xong, lực lượng kế thừa để phát huy cổ nhạc ông cũng đã góp phần xây dựng, nên tâm trí lúc nào cũng an nhàn, thảnh thơi và có lẽ không còn vướng bận gì nữa, nên vào ngày 16 tháng 8 năm Đinh Hợi (30/09/1947) ông đã lặng lẽ rời khỏi cõi đời trong tư thế thiền tọa sau giờ công phu khuya.

Ông đã được, UBND tỉnh Bạc Liêu đã truy tặng bằng Tuyên Dương tại lễ Khánh thành Di tích lịch sử văn hóa quốc gia Khu lưu niệm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ và Nhạc sĩ Cao Văn Lầu ngày 25 tháng 4 năm 2014, trong thời gian Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất đang diễn ra tại Bạc Liêu. 

 
Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !