Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow BÀN VỀ KHU DI TÍCH NGUYỄN CÔNG TRỨ (PGS Phạm Vĩnh Cư)
BÀN VỀ KHU DI TÍCH NGUYỄN CÔNG TRỨ (PGS Phạm Vĩnh Cư) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
30/12/2008

BÀN VỀ KHU DI TÍCH NGUYỄN CÔNG TRỨ

* PGS Phạm Vĩnh Cư

Trong vòng 20 năm (1979-1999), tôi làm việc tại Trường Viết văn Nguyễn Du thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin. Được mang tên đại thi hào dân tộc, Trường chúng tôi theo lẽ tự nhiên có quan hệ mật thiết với huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh)- quê hương của Nguyễn Du và của một thi hào, một nhân vật lịch sử lớn nữa là Nguyễn Công Trứ (*). Trong chuyến "hành hương" đầu tiên của cán bộ và học viên Trường chúng tôi về Nghi Xuân vào mùa thu năm 1989, chúng tôi đã được thăm viếng cả mộ, khu lưu niệm Nguyễn Du và đền thờ cùng lăng Nguyễn Công Trứ.

Cho đến nay, tôi vẫn nhớ ấn tượng đầy tương phản về nơi yên nghỉ cuối cùng của hai danh nhân này. Một bên là ngôi mộ mới xây, mái bằng, bên trên trồng cỏ, tường gạch còn đỏ rói cùng với tấm bia mới dựng có mấy chữ quốc ngữ khắc to: Thi hài Nguyễn Du". Một bên là cái lăng cổ tường vách rêu phong, không to lắm nhưng khá uy nghi với hai cột ở hai bên lối vào, bên trên có tạc hai con kỳ lân dáng vẻ kiêu hãnh. Đi qua hai cột ấy phải vòng qua một bức bình phong rộng xây bằng gạch thì mới đến được mộ Nguyễn Công Trứ cũng xây bằng gạch có hình dạng một ngôi nhà thu nhỏ. Đằng sau là mộ là tấm bia khắc chữ Hán.

Trước khi viếng lăng, chúng tôi đã được vào thăm và thắp hương tại nhà thờ Uy Viễn Tướng Công- người hướng dẫn chúng tôi hôm ấy là cụ Quế, cháu trực hệ đời thứ tư của Nguyễn Công Trứ. Như tôi nhớ, nhà thờ bề ngoài có vẽ cũ kỹ mốc meo nhưng bên trong thì khá vững chãi, bề thế: cột lim, cửa lim, bàn thờ to cao và đặc biệt- rất nhều hoành phi câu đối hán tự mà chúng tôi không đủ thì giờ để cụ Quế cùng một vài lão nhân khác trong làng đọc và giải nghĩa cho tường tận.

Chúng tôi chỉ nhớ mấy điều cơ bản: nhà thờ Nguyễn Công Trứ được xây 3 năm sau khi ông qua đời, công lao chính trong việc xây nhà thờ này lại là của nhân dân hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) đã vì nhớ ơn khai thiên lập địa của ông mà xây từ đường thờ ông ở hai huyện ấy ngay khi ông còn sống. Còn lăng Uy Viễn Tướng Công thì do chính triều đình Huế xây cho ông cũng trong những năm ấy với kiến trúc và quy mô được triều đình xét duyệt trước.

Những năm tiếp theo, chúng tôi đã có nhiều dịp về thăm Nghi Xuân và không lần nào không ghé thăm nhà thờ và lăng Nguyễn Công Trứ, đàm đạo với các hậu duệ của ông, trao đổi với các đồng chí lãnh đạo huyện về một ý tưởng tâm đắc: trùng tu, tôn tạo, xây dựng một quần thể di tích Nguyễn Công Trứ xứng đáng với công lao của ông đối với dân tộc và đất nước. Nhưng từ cuối những năm 90, do những biến thiên không thể tránh khỏi, quan hệ giữa chúng tôi với Nghi Xuân trở nên lỏng lẻo và chúng tôi không còn được biết ý đồ tạo lập khu di tích Nguyễn Công Trứ được thực hiện đến đâu.

Mãi đến tháng 5 năm nay, qua báo chí, chúng tôi mới hay: Dự án cấp nhà nước về "tôn tạo khu lưu niệm Nguyễn Công Trứ" đã hoàn thành, song, như báo chí bình luận, hầu như tất cả các di tích cũ đã bị xóa bỏ, tất cả đã được làm mới, quá khác xưa. (Xem bài "Xóa hồn di tích" của nhà báo Vũ Toàn đăng trên Tuổi trẻ ngày 12-5-2008).

Cuối tháng 6 năm nay, tôi cùng hai học viên cũ của Trường Viết văn Nguyễn Du đã về Nghi Xuân, đã xem tận mắt "Khu lưu niệm Nguyễn Công Trứ: vừa mới được "tôn tạo", đã gặp gỡ, hỏi han ông Nguyễn Công Tuấn, cháu trực hệ đời thứ 5 của cụ Nguyễn và một vài vị cao niên còn lưu giữ được nhiều tư liệu và ký ức về những di tích cổ xưa. Chúng tôi thấy những gì được phản ánh trên báo chí đều là đúng, là sự thật đáng buồn.

Không bàn luận về những gì mới được xây cất xung quanh nhà thờ Nguyễn Công Trứ, chỉ xin nói riêng đến chính nhà thờ được "tôn tạo"- nó quá khác cái nhà thờ cũ có gần 150 tuổi đời, đến mức khó nhận ra. Khác từ ngoài vào trong. Tất cả đã trở nên nhỏ bé hơn, chật chội hơn, sơ sài hơn. Rất nhiều câu đối mà tương truyền do các vua Nguyễn ban tặng cho Uy Viễn Tướng Công, không có chỗ để treo, đành phải cất bỏ.

Nhưng một "đổi mới" rất cơ bản đập ngay vào mắt chúng tôi: trên bàn thờ Nguyễn Công Trứ, thay vì cái ghế thờ sơn son thiếp vàng cùng bài vị danh nhân, bây giờ người ta đặt một pho tượng đồng thau kích thước thu nhỏ, ngồi trên ghế có tay vịn. Đây là Nguyễn Công Trứ? Tôi nhìn mà không thể tin. Căn cứ vào đâu, dựa vào những dữ liệu nào mà ai đó đã đúc nên pho tượng vô hồn này và đặt vào chỗ mà hàng trăm năm nay hàng nghìn lượt người đến nơi đây khấn bái, thắp hương đã quen trông thấy bài vị ghi tên tuổi, phẩm tước của người quá cố?

Như mọi người đều biết, ở nước ta xưa kia hội họa không phát triển, không có nghệ thuật chân dung như ở các nước phương Tây, cho nên chúng ta không biết được diện mạo cụ thể của tất cả các nhân vật lịch sử của ta trước khi người phương Tây đem máy ảnh sang, mà điều này chỉ bắt đầu từ những thập kỷ cuối thế kỷ XIX. Nguyễn Công Trứ thì lại mất trước đó từ lâu (1858). Theo sự hiểu biết của tôi, khác với các chùa chiền, trong các nhà thờ, đến miếu thờ các nhân vật lịch sử (không phải thánh thần) ở ta, xưa nay đâu đâu cũng chỉ đặt những bài vị. Từ đền thờ 8 vị vua nhà Lý ở Bắc Ninh đến thái miếu thờ vua nhà Nguyễn trong hoàng thành Huế.

Từ những bài vị cũ kỹ ấy, ghi tên riêng của những người quá cố, qua hương khói ta thấy phảng phất một cái gì đó có thể gọi là "hương hồn". Tôi rùng mình tưởng tượng đến cái ngày mà tất cả các bài vị ấy sẽ bị thay thế bằng những pho tượng đắt tiền nhưng vô hồn, không phân biệt được ai với ai. Phải chăng đó lại là mục tiêu và hiệu quả mà chúng ta theo đuổi trong các dự án "tôn tạo" các di tích lịch sử văn hóa?

Nhưng trong khu di tích Nguyễn Công Trứ, cái còn quan trọng hơn đền thờ là ngôi mộ chứa đựng hài cốt của Người. Với người Việt Nam ta cũng như với hàng chục dân tộc ở phương Đông và phương Tây, mồ mà cha ông là vật thiêng, là cái được bảo quản, chăm sóc hết sức nghiêm cẩn. Mồ mả các danh nhân lịch sử có công lớn với các dân tộc, quốc gia lại càng phải được bảo quản nghiêm ngặt. Không cho bị phá hoại đã đành, nhưng không cho phép cả sự đổi khác một cách tùy tiện, thiếu suy nghĩ, khảo cứu.

Từ nhà thờ được "tôn tạo" ra thăm mộ Nguyễn Công Trứ cũng mới được "tôn tạo" chúng tôi lại càng không nhận ra nó- không còn một tí vết tích gì của cái lăng xưa. Cái mộ cũ hình ngôi nhà hai mái thoai thoải có bình phong chắn ở phía chân và bia cao ở phí đầu đã bị thay bằng ngôi mộ mới hình chữ nhật mặt trên bằng phẳng, bốn bề được be bằng đá. Chiếc bia cũ cũng đã bị vứt bỏ thay bằng tấm bia mới, nhỏ hơn nhiều. Án bình phong dưới chân mộ cũ cũng đã bị đập đi như một chi tiết dư thừa, hoàn toàn không cần thiết. Như vậy, đây là một ngôi mộ mới hoàn toàn chứ không phải một lăng mộ cổ được tôn tạo.

Tránh tâm lý hoài cổ, sùng cổ, ta hãy thử tìm tòi, suy ngẫm, phân tích cái ngôi mộ cũ của Nguyễn Công Trứ có mang hàm nghĩa biểu tượng nào không và có ý nghĩa lịch sử gì không? Và ngôi mộ mới có thể gợi cho ta những liên tưởng, ý tưởng gì?

Ngôi mộ cũ mà, như đã nói ở trên, triều đình nhà Nguyễn đã xây cho Nguyễn Công Trứ từ giữa thế kỷ XIX, có hình một ngôi nhà. Một ngôi nhà được định hướng chắc theo luật phong thủy, có bình phong chắn gió chướng, tà khí. Một ngôi nhà cố định, vĩnh viễn dưới trời. Đây là mô hình lăng mộ thống nhất của các vua chúa, quan lại đời nhà Nguyễn, ít nhất trong suốt thế kỷ XIX. Các bạn hãy đến xem hay nhớ lại lăng mộ của các hoàng đế Gia Long, Tự Đức cùng các hoàng hậu, hoàng thân nhà Nguyễn- tất cả đều theo một kiến trúc, chỉ khác nhau bởi kích thước và vật liệu xây dựng.

Kích thước thì theo thứ bậc, phẩm trật xã hội: Mộ hoàng đế to hơn cả, mộ hoàng hậu thì có thể to ngang bằng (như ở lăng Gia Long), nhưng thường thì nhỏ hơn và cứ thế theo thứ bậc đi xuống mà nhỏ dần. Phần dưới đất, nơi chôn cất hài cốt các vị, được gọi là "huyền cung", phần nổi bên trên mặt đất gọi là "thạch thất" (nhà đá). Mộ Nguyễn Công Trứ xây bằng gạch cũng mang hàm nghĩa biểu tượng và ý nghĩa lịch sử ấy. Mộ là nhà vĩnh cửu, thường hằng của con người phù sinh, cuộc đời như bèo dạt mây trôi. Ý niệm này có tình nhân loại phổ biến, được lưu giữ ngay trong ngôn ngữ của hơn một dân tộc.

Trong tiếng Nga cổ và kim từ "dom" có nghĩa là "nhà", nhưng trong tiếng Nga cổ còn có một từ đồng căn: "domovina" có nghĩa là "mồ mả". Từ này được lưu giữ lại trong tiếng Ukraina hiện đạu với nghĩa hơi đổi khác: "quan tài". Trong tiếng Latinh (giống hệt trong tiếng Nga) "domus" có nghĩa là "nhà" nhưng trong tiếng Pháp (một hậu duệ của tiếng Latinh, cũng như tiếng Ukraina là hậu duệ của tiếng Nga cổ), từ "dome" có nghĩa trước tiên là cái mái vòm bên trên những nhà thờ, mà ở đấy thường chôn cất các tu sĩ hiển thánh hay những danh nhân lịch sử có công trạng lớn.

Một thí dụ điển hình và nổi tiếng toàn cầu là nhà thờ lớn mang tên thánh tông đồ Pietro (Petrut, Peter) thường được gọi là "tòa thánh Vatican, ở Roma: nơi đây, ở tầng hầm, dưới mái vòm, có mộ của chính thành Pietro, xung quanh là mộ của các giáo hoàng. Đấy, cái ý trường nghĩa của từ "nhà" trong nhiều ngôn ngữ là như thế. Ngay trong tiếng Việt của chúng ta, "nhà" và "mồ" cũng được liên kết sâu kín và rất có ý nghĩa: chúng ta không biết từ đời nào quen nói "ngôi nhà" và cũng nói "ngôi mộ" một cách rất tự nhiên...

Bây giờ trở lại với hiện tại, với cái mộ mới của Nguyễn Công Trứ. Hình thù của nó giống chiếc quan tài. Chiếc quan tài được cách điệu, được nâng lên cao bên trên mặt đất. Hình thể của kiểu mộ này có phải là cái gì mới mẻ không, có phải là một sáng tạo của các nghệ sĩ tạo hình nước ta hay không? Không. Những chiếc quan tài bằng đá hình chữ nhật cách điệu với những trang trí khác nhau trên bốn vách và đặc biệt trên nắp ta bắt gặp trong lăng tẩm của các hoàng đế La Mã còn lưu giữ được đến nay.

Cũng những quan tài đá theo mô thức ấy ta có thể thấy trong nhiều lăng miếu (chapelle) liên thông với các nhà thờ châu Âu mà nổi tiếng nhất là lăng miếu của dòng họ vương giả Médicis được Michen-Ange thiên tài thiết kế và điêu khắc trong khuôn viên nhà thờ Saint-Laurent ở thành phố Florence. Mộ Napoléon trong cung điện Invalides ở Paris cũng có hình dạng như thế. Mộ Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh, xây xong trong những năm 1920 cũng có hình thể như thế.

Nhưng có hai khác biệt quan trọng giữa những mộ- quan tài nói trên và mộ hình quan tài của Nguyễn Công Trứ ở ta ngày nay. Thứ nhất, ở trong các quan tài bằng đá ấy có hài cốt của những người quá cố; thứ hai, những quan tài ấy được đặt trong những không gian kín, có tường vách mái nóc (tức lại là nhà!). Còn mộ hiện nay của Nguyễn Công Trứ là hình mô phỏng, lặp lại cái quan tài tàng giữ hài cốt Nguyễn Công Trứ ở ngay dưới nó. Và chiếc quan tài bên trên mặt đất ấy lại được đặt trơ trơ dưới trời, không có gì bao bọc, che chở. Vậy chiếc quan tài giả ấy mang ý nghĩa gì? Chúng tôi rất mong được các nhà thiết kế chỉ dẫn khai tâm.

Nói đến đây, tôi không thể không nghĩ đến hiện trạng của ngôi mộ rất gần mộ Nguyễn Công Trứ, còn đòi hỏi được bảo quản, gìn giữ nghiêm cẩn hơn, đó là mộ của đại thi hào Nguyễn Du. Nhưng đây đã là đề tài của một bài viết khác.

 

Tiểu Sử:

- Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.

- Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên trong kỳ thi Hương năm 1819.

- Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...

- Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.

- Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà Nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.

 

Tiểu Sử:

- Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.

- Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên trong kỳ thi Hương năm 1819.

- Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...

- Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.

- Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà Nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.

 

Tiểu Sử:

- Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.

- Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên trong kỳ thi Hương năm 1819.

- Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...

- Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.

- Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà Nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.

 

Tiểu Sử:

- Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.

- Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên trong kỳ thi Hương năm 1819.

- Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...

- Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.

- Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà Nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.

------------------------------

(*)

Tiểu Sử:

- Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.

- Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên trong kỳ thi Hương năm 1819.

- Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...

- Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.

- Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà Nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.

--------------------------------

Tiểu Sử:

- Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.

- Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên trong kỳ thi Hương năm 1819.

- Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...

- Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.

- Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà Nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.

----------------------------------

(*) Tiểu Sử:

- Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.

- Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên trong kỳ thi Hương năm 1819.

- Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...

- Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.

- Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà Nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.

 

Cập nhật ( 30/12/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online