Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow NGÀY XUÂN, TÌM HIỂU THÚ CHƠI TRANH (Nguyễn Hữu Hiệp)
NGÀY XUÂN, TÌM HIỂU THÚ CHƠI TRANH (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
14/01/2009

NGÀY XUÂN, TÌM HIỂU THÚ CHƠI TRANH VÀ NHỮNG DÒNG TRANH TRUYỀN THỐNG CÓ SỨC SỐNG TRONG DÂN GIAN

* Nguyễn Hữu Hiệp

Chơi tranh ngày Tết là một mỹ tục của nhân dân. Nó đã được định hình từ rất lâu đời. Cứ mỗi dịp đón chào năm mới, cũng như mâm ngũ quả, cặp liễn đối, tấm thiếp xuân… đâu đâu cũng vậy, dù nhà nghèo người ta cũng cố sắm cho được dăm ba tờ tranh lẻ, hay một vài bộ tứ bình, đem treo lên cho vui cửa vui nhà.

Người xưa có phép chơi tranh trong ngày Tết hết sức độc đáo. Từ nội dung đến vị trí treo tranh, thậm chí ngày giờ “lên tranh” nhứt nhứt đều áp dụng theo nguyên tắc rất nghiêm chuẩn, trân trọng và đậm đặc ý nghĩa ­ một thứ ý nghĩa nặng về hoài bão, do đó không thể không kỹ càng chọn lọc.

Những mẫu tranh Tết được người xưa ưa chuộng là loại tranh dân gian in trên giấy dó theo lối in mộc bản cổ truyền. Màu sắc thì có 5 màu chính là đỏ, vàng, trắng, xanh, đen… đều là nguyên liệu có sẵn từ thiên nhiên mà pha chế ra thành hàng chục màu khác với độ đậm nhạt theo ý muốn. Nơi sản xuất chủ yếu tại các làng Nam Dự Thượng (huyện Thanh Trì), Bình Vọng (Hà Đông), Sen Hồ (Bắc Giang) nhưng nổi tiếng hơn cả là làng Hồ (Đông Hồ). Nội dung mang đầy hồn tính dân tộc như tranh Vũ Đinh ­ Thiên Ất (không rõ sự tích 2 vị này) có kèm câu “Khử bạo trừ hung, phù nguy cứu nạn” ­ dán tại cổng chính, gọi “môn thần”. Tranh “Trấn trạch” ­ chú gà trống đang dương oai diễu võ như một dũng tướng, đang trong tư thế phùng xòe, sẵn sàng diệt trừ kẻ xấu, quyết không để chúng lọt vào nhà ­ dán lên vào chiều ngày cuối năm. Tại cửa nhà thì có tranh “Tiến tài, tiến lộc”, vẽ hai ông lão mũ áo chỉnh tề, đối diện nhau, một ông trao cuốn thư, đề chữ “tiến tài”, một ông trao trái đào đề chữ “tiến lộc” ­ dán trong đêm trừ tịch. Trên vách là tranh Lợn, Gà, Cá chép, Con dơi, Thầy đồ cóc, Ngư tiều canh độc, Canh nông vụ đồ, Mục đồng thổi sáo trên lưng trâu… nói lên những lời chúc tụng, mơ ước đất nước thanh bình. Giữa nhà là nơi dành cho các bức thuộc đề tài lịch sử như Hai Bà Trưng cưỡi ngựa, Bà Triệu cưỡi voi, Đinh Tiên Hoàng đứng trên lưng rồng… ngưỡng kính và đề cao truyền thống đấu tranh, yêu nước. Đặc biệt, bàn thờ là nơi tôn trí tranh chân dung các đức Phật Di Lặc, Thích Ca, Quan Âm… ­ “thượng tranh” trước ngày cúng rước Ông Bà. Riêng tranh thờ “Thổ công vị” (thần Bếp) thì thay trước ngày đưa ông Táo về trời (hăm ba tháng chạp). Các tranh “Thần hổ”, “Chư vị”, “Bà mẹ sanh” cũng được thay mới vào dịp cuối năm ­ dán ở cửa buồng, hoặc ngay ở cửa nhà. Riêng về “tranh bùa yểm” (Bát quái, Tứ tung ngũ hoành…) thì treo dán tại cửa giữa, hoặc treo trên đọt cây nêu tuốt trên trời cao vào sáng ngày mùng một Tết.

Đành rằng tranh nào cũng đẹp, cũng hồn nhiên hóm hĩnh đáng yêu, nhưng như đã nói, không vì thế mà quá dễ dãi, tranh gì cũng mua, cũng treo dán trong mấy ngày hệ trọng thiêng liêng đầu năm đầu tháng. Chính vì vậy mà các tranh thuộc loại hớ hênh như tranh Hứng dừa, hoặc chế giễu như tranh Đánh ghen, Đa thê đều phải bị ế. Và đối với loại tranh tôn vinh thần thánh, nếu thần nào cũng “lên hương” vào dịp này thì “thần Bạch My” không ai buồn nhớ đến, nhất là nhà có đàn bà, con gái ­ ngoại trừ những “ả lầu xanh” vì với họ, “Nghề này, thì nhớ ông này Tiên sư” (Kiều ­ Tú Bà nói với Kiều) Bạch My là… tổ nghề.

Đó là “phép chơi tranh” mộc bản của người xưa rất phổ biến ở miền Bắc nước ta trước 1945. Thời Pháp thuộc, do có trường Mỹ thuật Đông dương, nên từ sau khóa đầu tiên 1925 ­ 1930 ngành hội họa chuyển mình, bước sang giai đoạn mới. Với chất liệu sơn dầu, các loại tranh vẽ theo lối trừu tượng, lập thể, kỹ hà… ra đời, nhưng chỉ xuất hiện tại những cuộc triển lãm, lại quá “khó hiểu” nên không đáp ứng được nhu cầu thưởng ngoạn của tuyệt đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động. Cho đến sau Cách mạng tháng Tám hầu hết các họa sĩ đều tập trung sáng tác theo trường phái ấn tượng, hiện thực. Nhờ bám sát thực tiễn đời sống lao động và chiến đấu, một số tác phẩm đã gần gũi với quần chúng hơn. Tuy nhiên do đặc điểm nhất định của loại tranh này, và cũng do kỹ thuật in ấn lúc bấy giờ còn nhiều hạn chế, nên nó không đến được tận từng nhà như loại tranh in mộc bản, bán ra trung bình trên 2 triệu bức/ năm!

Ở miền Nam dù sao cũng có điều kiện hơn nên ngoài loại tranh sơn dầu, còn có không ít dòng tranh khác phát triển mạnh, được giới tạo hình các nước cảm phục. Nổi bật nhất là dòng tranh lụa, tiêu biểu là tranh của họa sĩ Thuận Hồ (tức Hồ Tấn Thuận, sinh 1920, người Long An); dòng tranh sơn mài, tiêu biểu là tranh của họa sĩ Nguyễn Gia Trí, có bức rất hoành tráng, được xem là “quốc bảo”, không thể không là niềm kiêu hãnh của Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam (Ủy Ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ưng mua với giá 600 triệu đồng, tương đương 200 lượng vàng theo thời giá năm 1990, từng làm xôn xao dư luận trong cả nước!). Tuy nhiên, với các loại tranh này do giá thành quá đắc nên phần lớn chỉ xuất hiện trong các gia đình “thế gia vọng tộc”. Còn ở nông thôn, nếu so với cái thuở vang bóng một thời của tranh mộc bản miền Bắc, thị trường tranh Tết miền Nam nhộn nhịp không kém ­ nếu không muốn nói là hơn nhiều, bởi không nhà nào không chơi tranh, mà “cái nết” của họ như ai nấy đều đã biết, hễ chơi thì phải “chơi tới bến”, “còn chơi hết thôi”!

Phổ dụng là loại tranh vẽ in ốp sết trên giấy trắng thường (nên giá rất bình dân), còn đề tài thì bao quát chứ không nhất thiết chỉ là xuân, là Tết. Có nghĩa, bên cạnh những bức tranh lẻ vẽ mâm ngũ quả, Phước Lộc Thọ, nhành mai, hoặc tranh tứ bình Mai Lan Cúc Trúc… còn có tranh truyện như Vân Tiên Nguyệt Nga, Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Trần Minh khố chuối, Sự tích đức Phật Thích Ca… mỗi bộ 4 tấm, mỗi tấm 3 tranh, vị chi 12 tranh/ bộ. Dưới mỗi tranh đều có đôi dòng diễn giải nội dung. Người thưởng ngoạn cho dù đã nắm biết cốt truyện, khi đọc vẫn thích thú và thường hay “giảng giải” cho người khác nghe. Con trẻ trong nhà qua đó cũng cảm nhận được đạo lý nhân quả, lẽ phải lẽ trái.

Nếu tranh mộc bản ở miền Bắc được thể hiện bởi những đường nét ngây ngô, ngộ nghĩnh, hàm chứa triết lý ý nhị và không giới thiệu tên tác giả ­ đích thị là tranh dân gian ­ thì, tranh miền Nam đa phần đều minh họa những tác phẩm “truyện thơ”. Cho dù tác giả vô danh hay có tên tuổi cụ thể, nhưng nhờ phổ biến sâu rộng trong quần chúng nên tự nó đã được dân gian hóa từ rất lâu đời. Để giữ bản quyền và cũng nhằm “chịu trách nhiệm” với người thưởng ngoạn, hầu hết các bộ tranh truyện vừa nói đều có nêu rõ tên (và năm vẽ) của người họa sĩ. Ở đó quen thuộc nhất và được giới bình dân phục nhất là họa sĩ Lê Trung (tên thật là Lê Toàn Trung, sinh năm 1919, người An Giang, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương tại Hà Nội năm 1933). Qua những tác phẩm tham dự các cuộc thi hội họa ở trong nước và quốc tế, ông đã nhận được nhiều huy chương vàng, hoặc giải Nhất, giải Đặc biệt, giải Danh dự… ông thực sự trở thành nhà danh họa, từng được mời làm giám khảo quốc tế. Ông thiên về tân cổ điển và ấn tượng, được người đương thời liệt vào hàng thượng thặng và ngoại hạng (hors ­ concours), nên những tuyệt tác của ông rất gần gũi đối với quần chúng nhân dân lao động, nhất là loại tranh bình dân dưới dạng “tứ bình”, xuất hiện rộ vào dịp Tết hàng năm.

Sẽ rất thiếu sót nếu nói đến tranh miền Nam mà không đề cập đến những loại tranh “khuôn mặt thục” với chất liệu toàn bông gòn “chạm nổi” hình hai chú thỏ đối xứng; tranh “phù điêu” làm bằng vải lụa có dặm chỉ kim tuyến hình chim loan chim phụng với những câu “Loan phụng hòa minh”, “Gia đình hạnh phúc”. Và đặc biệt hơn hết là loại “tranh kiếng” (sơn vẽ ngược ở phía sau tấm kiếng). Có 3 nơi làm tranh này, nổi tiếng trước nhất là ở Thủ Dầu Một, chuyên về tranh sơn thủy, được vẽ theo mô thức truyền thống: có núi cao mây gợn, in trên nền trời là những cánh cò bay lả thong dong, dưới sông ông câu nhàn thản trên “chiếc thuyền con bé tẻo teo”, xa tít là vài cánh buồm no gió, rồi thì nào là hoa cỏ, con đường làng, cây da trăm tuổi… tất cả phản ánh sự tĩnh lặng quê hương mến yêu, đất nước thanh bình. Cũng có loại tranh tín ngưỡng (Quan Thánh, Thổ Thần, Tài Thần); và tranh trang trí cho những xe bán hoành thánh, hủ tiếu… ở thành phố. Nhưng đi sâu vào lòng quần chúng hơn hết là “tranh kiếng Bà Vệ” (thuộc Cù lao ông Chưởng, huyện Chợ Mới, An Giang). Đó là loại tranh bình dân, được sản xuất đại trà tại làng nghề Bà Vệ từ những thập niên đầu thế kỷ XX, sau lan rộng các xã quanh vùng, nhiều nhất là 2 xã Mỹ Luông, Long Điền. Ngoài những bức tranh lẻ, còn có tranh bộ (một bộ 2 bức, minh họa các truyện thơ đã ăn sâu vào tâm thức dân gian, như Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương… Nhưng chủ yếu và chiếm tỉ lệ áp đảo là bộ “tranh thờ”. Gọi “bộ” vì tranh được hoàn thành cả thảy 12 khuôn lớn nhỏ, treo khít sát nhau thành một mảng. Có 2 loại: loại I (lớn), và loại II (nhỏ hơn). Tùy theo diện tích cụ thể bức vách nơi đặt bàn thờ ở giữa nhà mà người ta chọn mua loại phù hợp. Cho dù lớn hay nhỏ, tranh bố cục như một quy ước đã được người tiêu dùng chấp nhận, gồm (ghi theo kích thước loại I): khuôn giữa, gọi “tròng giữa” (58 x 80 cm) viết chữ nho từ trên xuống 4 chữ “Cửu Huyền Thất Tổ”, hiểu là ông bà cha mẹ đã qua đời. Khuôn trên (20 x 58 cm) trang trí “thủ quyển” với 4 chữ số kỷ niệm năm cất nhà (thí dụ: 1953, 1970…). Khuôn dưới (40 x 58 cm) là “bửng” vẽ mâm ngũ quả, hoặc bông sen, gọi “bửng sen”. Hai khuôn bên vẽ lục bình (bình bông) hoặc liễn đối (19 x 80 cm/ khuôn) với những câu chữ truyền thống như: “Tổ công phụ đức thiên vạn hạnh, Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh”; Trọng Cửu Huyền nội ngoại tương đồng, Kỉnh Thất tổ thiên niên vô tận”; “Phước tại công tâm sanh hiếu tử, Đức do hiền phụ xuất hiền tôn”… Ở hai góc trên và dưới là những khuôn “trám” (19 x 20 cm/ khuôn) trang trí “hoa lá cành”. Xung quanh điểm xuyết hoa văn họa tiết khá sinh động, thường là những con vật “tứ linh” huyền thoại làm tăng thêm vẻ trang trọng. Chất liệu chính để “vẽ” là loại dầu sơn (nhưng thường gọi “nước sơn”), màu sắc không hạn chế nên rất sặc sở. Tranh thờ thuộc “loại cao cấp” thì có điểm xuyết thêm những “bông”, và đường chỉ tráng thủy, giả cẩn ốc xà cừ, hoặc vỏ trứng. Để sang hơn, sáng hơn, tranh được thếp vàng lá Hồng Kông, và dặm thêm “sao nháy”.

Trên cùng là bức “hoành” (24 x 96 cm) với câu chữ trang nghiêm nhằm nhắc nhở hành giả đi đứng nằm ngồi luôn nhớ đến đức Di Đà, hoặc tưởng nghĩ đức Phật Thích Ca… qua đó vừa tỏ lòng kính trọng vừa thường hằng tu rèn tâm trí. Cũng có loại hoành gồm 3 khuôn, hai bên là khuôn trang trí hoa sen nở, giữa kẽ chữ giới thiệu tính danh của gia tộc, thí dụ “Phan phủ đường”. Về tuổi thọ của tranh thì… vĩnh viễn ­ tất nhiên nếu bảo quản tốt.

Tranh thờ được thể hiện bởi những đường nét chân phương, làm cho nơi thờ phượng uy nghiêm mà sáng sủa, tôn kính mà gần gũi thân thương, chân chất mộc mạc nhưng vui cửa vui nhà.

Tất cả, cho dù đề tài thuộc loại lịch sử, trang trí, tranh truyện hay tranh thờ, thể hiện đơn giản hay cầu kỳ đều mang tính giáo dục chân thiện mỹ rất cao, đặc biệt là toát lên tinh thần đạo lý, mà tư tưởng chủ đạo là nêu gương trung hiếu tiết nghĩa vốn đã ăn sâu vào tâm não ngàn đời dân tộc.

Đã là tranh Tết tất không thể thiếu “chữ Tết”. Đó là những câu lời mang nội dung chúc mừng, mong ước như Cung chúc tân xuân, Chúc mừng năm mới, Tân niên vạn phúc, Tân xuân vạn hạnh… Mừng xuân, đón Tết mà nhận được những lời chúc tốt lành như thế, hạnh phúc biết dường nào!

Ngày Tết, cả nhà quây quần mừng tuổi, chúc thọ ông bà, cha mẹ; bạn bè chòm xóm thăm viếng nhau… Trong khung cảnh ấm cúng gia đình, bên chén rượu nồng, hoặc chung trà xuân nghi ngút hương sen, hương lài, người ta không thể không đưa mắt ngắm nhìn những tuyệt tác rộn rã sắc màu, rồi cùng tranh nhau bình phẩm “dụng bút” thần tình của người nghệ nhân dân gian tài hoa nào đó! Tranh mộc bản mở ra bao nhiêu là tiền đề để mọi người qua đó mặc tình mà… “thời sự”! Như khi thưởng ngoạn tranh “Thầy đồ cóc” người xem không thể không nghĩ đến việc cần phải lập lại kỷ cương vốn có trong học đường, thi cử. Nhìn tranh “Đám cưới chuột” người ta liên tưởng ngay đến những tệ hối lộ, tham nhũng, “rút ruột” công trình đang diễn ra đây đó, như vẫn đang thách thức công luận và pháp luật. Các đề tài trên tranh in, tranh kiếng ấy, nó chuyên chở bao nhiêu là bài học luân lý giá trị, tác động rất mạnh mẽ đến cách đối nhân xử thế của từng thành viên trong gia đình, xã hội. Chỉ nói về tranh cảnh thôi, cũng đủ làm cho tâm hồn người thưởng ngoạn phơi trải thong dong, làm tan biến đi những lo toan trong suốt một năm trời cật lực lao động vất vả.  Tinh thần bỗng nhiên sảng khoái lạ thường. Thật không còn gì thú vị bằng!

Xin cảm ơn những người làm tranh ­ các nghệ nhân, nghệ sĩ cùng hàng vạn người khác vẫn đang ngày đêm miệt mài sáng tạo, tham gia lưu thông phân phối ­ đang lao động sản xuất với thái độ công nghiệp để nhằm thúc đẩy làng nghề ngày một phát triển thêm hơn! Chúng ta không mong gì hơn sinh hoạt các làng nghề luôn ổn định và phát đạt.

Nay, theo xu thế hiện đại hóa, chúng ta có đủ điều kiện thưởng ngoạn tranh Tết hơn xưa, vì với sự tiến bộ vượt bực ngành in ấn, tin học, truyền hình… đều như chung sức chung lòng tích cực chuyển tải những tác phẩm của các nghệ nhân dân gian, các họa sĩ tài danh, các nhà nhiếp ảnh nghệ thuật nổi tiếng đến tận từng nhà. Tha hồ chọn lựa, thưởng lãm!

Là người nước ngoài, có ai mà không nghiêng mình cảm phục thú chơi vô cùng văn hóa đó? Và, là người Việt Nam có ai mà không tự hào mình là thành viên của một dân tộc nghìn năm văn hiến.

Cập nhật ( 14/01/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online