Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow HÀNH HƯƠNG CHIÊM BÁI TỨ ĐẠI DANH SƠN TRUNG QUỐC (Nguyễn Thái Hai)
HÀNH HƯƠNG CHIÊM BÁI TỨ ĐẠI DANH SƠN TRUNG QUỐC (Nguyễn Thái Hai) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
14/01/2009

HÀNH HƯƠNG CHIÊM BÁI TỨ ĐẠI DANH SƠN TRUNG QUỐC

* Minh Ngộ Nguyễn Thái Hai

PHỔ ĐÀ SƠN (PUTUOSHAN): đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát

Phổ Đà Sơn có rất nhiều chùa, nằm trên đảo lớn nhất trong quần thể đảo nằm trong vịnh phía Nam Thượng Hải và gần Hàng Châu. Từ thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, đến đảo  phải dùng phà cao tốc khoảng một giờ hải hành nhưng biển thường lặng sóng. Đường lên đĩnh núi rất tốt, sạch sẽ, có nhiều đường rẽ nhỏ dẫn lên những chùa lớn nổi tiếng về nét kiến trúc thuộc các đời nhà Minh và Thanh, và rất nhiều chùa nhỏ rải rác xung quanh núi, phong cảnh hai bên đường đẹp đẽ, nhất là đoạn qua rừng Tử Trúc với loại trúc đen.

         Trên một sân rất rộng ta thấy một cổng tam quan  __  không giống như cổng ở Việt Nam __ cao to đồ sộ bằng đá xanh chạm trổ công phu. Từ đó nhìn lên đĩnh núi một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát (QTÂBT) cao 18m bằng đồng màu vàng  óng ánh sừng sững giữa nền trời trong xanh. Vì ngại gió biển làm hư hỏng lớp đồng nên tượng đã được tráng phủ một lớp vàng dày khoảng 4 mm với hy vọng giữ được màu vàng mãi mãi.

Qua mấy tầng sân và bậc thang chúng tôi lên một thượng đài rộng lớn với đại lư nhang đồng đen tỏa đầy hương khói trước một giàn sắt đầy sáp đủ cở đang cháy dở dang. Vì gió, sáp chảy tùm lum và rớt xuống một bể chứa nước, gắn sẵn vào giàn sắt, nên sáp được vớt ra dùng lại dễ dàng và sạch sẽ. Lư nhang và giàn sáp được dùng tại hầu hết các chùa tại Trung Quốc. Phía trước và hai bên thượng đài này là 4 bức tượng hộ pháp bằng đá cao lớn với mặt mũi, áo mão được chạm trỗ sắc sảo tinh vi và từ đó lên đến đỉnh đầu tượng là 32m. Kích thước này tượng trưng cho 32 tướng hóa thân của QTÂBT cũng như chiều cao 18 m nói trên tượng trưng cho 18 A la hán. Hai bên hông đài là hai dãy hành lang,mặt trước trống, mặt sau là tường với những bức tranh bằng đá xanh chạm trổ những cảnh sinh hoạt và tiến trình tu tập của đức Phật Thích Ca. Có thể nói những bức tranh này đều là những tác phẩm điêu khắc tuyệt vời sống động không khác gì những họa phẩm, nơi thì những hình tượng Phật lớn gần bằng hình người, nơi thì hàng loạt các tăng sĩ lớn nhỏ diễn tả rõ ràng những động tác mà nghệ nhân muốn trình bày.Tiếc một điều là có nhiều phần đã bị các bàn tay của khách đã sờ mó làm đổi qua màu đen láng bóng.

Nếu tập quán này không được chấn chỉnh những công trình nghệ thuật này sẽ ra sao? Sau lưng tượng QTÂBT là hai bức tường đá màu đen được khắc chữ sơn nhũ vàng, ghi danh sách những Phật tử mạnh thường quân đã cúng dường để xây dựng công trình này trước khi khởi công. Sau hai bức tường này là một tường khác cao hơn ghi danh sách Phật tử đóng góp từng năm và tường này còn một khoảng trống rất rộng dành cho danh sách tương lai. Trên thượng đài này còn có một đài nhỏ hơn có gắn 4 chữ Hán bằng đồng lớn, trên đài đó là đài sen và tượng QTÂBT uy nghi, gương mặt dịu dàng vui tươi hướng ra biển, bàn tay mặt hướng lên trời, bàn tay trái để ngang trước ngực. Dưới tượng QTÂBT là điện thờ Phật Thích Ca đứng hướng ra phía trước sân thượng đài. Tượng Phật Thích Ca được đặt trong một vách vòng cung mặt trong chạm nổi __  hình như bằng đồng, tôi không nhớ rõ  __ , phần vách ngoài là những bức tranh bằng gỗ gắn vào vòng cung, chạm trổ những hình ảnh về cảnh Phật. Trần phòng được trang trí thật đẹp. Giữa vòng cung và vách ngoài là một vòng 8 cột tròn lớn chống đỡ đài tượng QTÂBT ở trên. Công trình này mới được xây dựng 9 năm nay, căn cứ vào truyền thuyết bất khẳng khứ Quan Âm tượng của nhà sư Nhật Bản Huệ Ngạc và Hải Triều Âm động. Cũng từ ngày tượng được đặt tại đây ngư dân địa phương nhận thấy ngư trường này được sóng yên biển lặng không còn phải chịu cảnh giông tố bảo táp như xưa nay. Công trình này đã được UNESCO công nhận là di tích lịch sử thế giới vào năm 2005.

Truyền thuyết kể rằng vào năm 915 Tây lịch có một chú tiểu Nhật Bản qua Trung Quốc tu tập. Trong bao năm tu tập chu tiểu để tâm và rất thích thú một tượng QTÂBT nhỏ. Lúc gần về Nhật, chú tiểu thành nhà sư Huệ Ngạc xin  đem pho tượng nhỏ này về, nhưng phương trượng trù trì không cho.Vì quá thích nhà sư quyết định trộm pho tượng quý này về Nhật mặc dầu biết đó là phạm giới luật. Sau mấy ngày thuận buồm xuôi gió khi dến vùng này chiếc ghe cứ luẩn quẩn đi xoay vòng trên biển không làm sao tiến ra khơi được. Nhà sư nghĩ đây là hậu quả của việc trộm tượng, liền quỳ xuống và khấn nguyện QTÂBT nếu ngài không chấp thuận việc đem pho tượng về Nhật thì cứ giữ ghe lại và nếu cảm thông mong ước của người thì cho thuận buồm xuôi gió.

Kết quả là ghe vẫn không vượt ra khỏi vùng biển này, nhà sư Huệ Ngạc bèn lên bờ và thiết lập một am  thờ pho tượng nhỏ này gần một cái hố nhỏ khá sâu khi thủy triều lên sóng vổ mạnh phát ra những âm vang dội mạnh mà dân địa phương rất sùng bái. Nơi cái am nhỏ xưa, nay đã được xây một điện khang trang thờ QTÂBT và pho tượng nhỏ quý đó đã bị đánh cắp từ lâu. Căn điện này có nhiều tên như là Đại Trượng Phu Điện nói lên tướng hóa thân nam của Ngài, Phạm Âm Điện, kết hợp chữ phạm là dạy dỗ với âm vang  của sóng, để khuyên răn Phật tử tránh những hành vi phạm giới hoặc Trúc Lâm Tự vì gần khu vực có loại trúc đen. Ngay vách tường bên phải trước cửa điện có một bức điêu khắc rất sắc sảo bằng đá xanh với một chú tiểu cầm pho tượng nhỏ, một nhà sư chắp tay đứng bên bàn thờ QTÂBT, một chiếc thuyền với buồm căng gió và núi Phú sĩ với ý nghĩa gốc Nhật của nhà sư. Dọc theo đường ra là một hành lang chưng bày, sau vách kiếng, 32 bức điêu khắc bằng đá xanh các hình tượng hóa thân của QTÂBT. Trên đường đến Phổ Đà Sơn có một đoạn ta có thể nhìn thấy ngoài biển khơi có một dãy núi có hình dáng QTÂBT nằm trên mặt biển. Nhưng đứng tại Phạm Âm Điện nhìn sẽ rõ hơn có thể thấy cả hàng lông mày và lông mi..

 

          Nói về QTÂBT chúng ta cần biết Phổ Tế Tự cũng tại Phổ Đà Sơn, Chùa này có pho tượng thờ Đại Trượng Phu Quán Thế Âm Bồ Tát. Gọi Đại Trượng Phu vì tượng có dạng nam trang. Vào thời ấy phụ nữ không muốn để tượng Phật nam giới trong nhà nên sau đó mới đổi ra hình nữ. Một ngàn năm về trước tại đây chỉ có một am nhỏ bằng tranh của Phổ Tế Đại Sư, tuy vậy vị đại sư đã tế độ được rất nhiều người. Tiếng lành đồn xa, mặc dầu phương tiện di chuyễn lúc ấy rất khó khăn nhưng rất nhiều người đem lễ vật đến cúng kiếng. Có một thương gia họ Mã, cùng với một đứa con trai, đem một cặp đèn sáp lớn đến cúng và cầu xin chư Phật phù hộ để kiếm được nhiều tiền. Bất ngờ không rõ lý do, cặp đèn sáp đó được đem cất trước khi cháy hết. Người thương gia buồn và nghĩ xấu rằng chùa đã làm tiền bằng cách lấy đèn cất trước để bán lại cho những Phật tử khác, nên đã đem đứa bé về trước và đứa bé đã chết dọc đường. Người thương gia bèn mua quan tài để đem thi hài con về quê an táng. Nào ngờ khi về đến nhà thì đứa con trai đó lại chạy ra đón cha. Ông ta bèn cho cạy nắp quan tài ra thì thấy cặp đèn sáp cháy dở dang nằm gọn gàng trong quan tài. Hối hận về suy nghĩ bất tín của mình ông ta bèn cúng một số tiền lớn để xây cất một ngôi chùa lớn hơn với tên Pháp Giới Tràng Sanh. Ngôi chùa hiện nay là do vua Khang Hy xây dựng, và vua Càn Long đã cho in tập Đại Tạng Kinh.

Mỗi di tích mà chúng tôi được chiêm bái đều có giá trị riêng, nhưng ngoài giá trị về tín ngưỡng, mỹ thuật và nghệ thuật tôi thích nhất là vật liệu kiến trúc tại Phổ Đà Sơn. Tất cả từ tường vách, tượng thờ với những chạm trổ tinh vi, đến sân đài, lan can, lối đi với các hoa văn sơ sài của những nhà điêu khắc, đều bằng một loại đá xanh một màu đơn giản. Điều này sẽ làm công trình giữ được nét sắc sảo lâu dài hơn và việc duy trì tu bổ dễ dàng hơn rất nhiều so với các sự tô vôi và sơn phết lòe loẹt như các chùa khác.

 

CỬU HOA SƠN (JIUHUASHAN): đạo tràng của Bồ Tát Địa Tạng Vương.

Cửu Hoa Sơn nằm về hướng Tây Bắc Thượng Hải, thuộc tỉnh An Huy, phía Nam Dương Tử Giang. Ngọn núi này gồm có 9 đĩnh nhỏ bao quanh một vùng bằng phẳng: thị trấn Cửu Hoa Sơn với cao độ 600m. Thi sĩ Lý Bạch đời Đường đã đặt tên Cửu Hoa Sơn với ý nghĩa: thị trấn với những nhà tường trắng mái ngói đỏ là nhụy bông sen, 9 núi nhỏ bao quanh thị trấn có cái với vách đứng, có cái hơi ngã ra ngoài là những cánh sen. Cửu hoa Sơn có 3000 dân trong đó có 1000 tu sĩ tu tập trong 99 chùa. Phong cảnh lên núi tuyệt đẹp với những rừng tre, rừng thông xanh tươi quanh năm. Đường lên núi rất tốt nhưng quanh co thật gắt vì núi nhỏ và vách thật dốc với nhiều thung lũng nhỏ dọc theo sườn núi, có thể nói là phần trên cao không có đoạn đường thẳng nào dài hơn 10m. Nhờ tre ở đây mọc rời rạc từng cây một, thẳng đứng với các nhánh nhỏ gần trên ngọn nên tôi đã nhìn thấy vài nơi 3 tầng đường, nói lên sự quanh co và khúc khủy của khoảng  đường này. Tuy nhiên sự lưu thông được an toàn nhờ hệ thống gương vòm đặt tại những khúc quanh gắt báo hiệu cho tài xế biết khi có xe ngược chiều.

Đứng trước khách sạn nhìn lên thấy trên cao có những vách đá lớn, thẳng đứng màu trắng xám phảng phất vài đốm cây xanh, có những vách núi xanh ẩn hiện trong những tảng mây trắng lờ lững trôi, có những chùa sơn trắng, vàng, nâu nỗi bật trên vách núi xanh rì, có chùa lấp ló dưới tàng cây, có một vách đá cao vòi vọi gồm nhiều tảng đá đơn độc cao cả chục thước, có những hòn chồng lên nhau lớn và cao hơn các tảng đá ở Định Quán trên đường đi Dalat, có những cây tùng cổ thụ thân thẳng đứng với tàn rộng lớn mọc cheo leo ngang vách đá, có cây sừng sững một mình độc chiếm mỏm đá,  có chùa hiên ngang ngạo nghễ trên các đĩnh núi mà chúng tôi không thể viếng thăm.  Có một vách núi thật đặc biệt trông tưởng như một vách thẳng đứng nếu không có hai chùa, một sơn xanh một vàng  chen vào lưng chừng vách và một ngôi chùa trắng nằm giữa kẹt hai vách đá trên đỉnh núi mà sau khi lên chiêm bái tôi mới biết chùa sơn xanh là Địa Tạng Tự và không thể hình dung được xưa kia làm sao mà họ xây cất được những chùa này. Cảnh trí này làm ta thán phục sự tu hành của các tăng sĩ Trung Hoa và xin sám hối khi nghĩ sự tu hành của giới tăng ni của ta ngày nay có vẻ quá thế tục. Vòm trời hơi có mây không đựợc trong sáng nhưng không còn cảnh mù mịt ô nhiểm quá độ không phải chỉ tại các thành phố mà ngay cả tại các vùng ruộng nương. Thời tiết ấm áp thoải mái. Cảnh trí uy nghi hùng vĩ của núi rừng, của chùa chiền nhưng yên bình, thoát tục của cư dân địa phương làm cho ta có cảm giác như đã lạc vào tiên cảnh như Lưu Nguyễn ngày xưa. Chúng tôi chỉ chiêm bái được 3 chùa chính là chùa Hóa Thành, Bách Tuế Cung và Nhục Thân Điện.

 

Chùa Hóa Thành, còn được gọi là Địa Tạng Tự, nơi tu tập của Thánh Tăng Kim Kiều Giác, người Triều Tiên, thọ 99 tuổi, vốn được xem là hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng tại Cửu Hoa Sơn. Phải dùng xe cáp treo đưa lên, mỗi xe 6 người. Gọi thế là vì xe được cáp treo kéo nhưng lại chạy trên đường rầy. Vì nhà tôi bị đau đầu gối mỗi khi lên cầu thang nên tôi rất lo sợ không biết có lên tới chùa không? Tôi vội lên trước và đếm được hơn 300 bậc thang vừa lên vừa xuống trên một khoảng đường khá dài, có đoạn sát vách đá cheo leo, nhưng bằng phẳng nhờ được lát với những tảng đá xanh dày được cưa với kích thước đồng nhất khoảng 1m x 0.25m, mặt trên có rảnh nhỏ nên không sợ vấp và trơn trợt. Chùa nguyên thủy, cổ nhất của Cửu Hoa Sơn, được xây cất từ thế kỷ thứ 5 và chùa hiện hữu được xây dựng vào thế kỷ thứ 8 và được tân trang nhiều lần và lấy tên Hóa Thành từ đó. Đứng tại đây có thể nhìn thấy một dãy núi với hình dáng Phật Thích Ca đang nằm. Mặc dầu sườn núi cheo leo nhưng chùa có nhiều dãy nhà xây xung quanh dùng cho các Phật sự khác.

Dọc đường chúng tôi thấy những người đàn ông gánh 2 bao nylong đựng gạo dày đầy đá trông thật tội nghiệp nên nhiều người trong đoàn đã dúi vào tay họ chút ít tiền cảm thông sự cực nhọc. Tôi nhìn bao đá để ước lượng trọng lượng, nhưng khi thấy các hàng chữ ghi trên bao nên dừng lại đọc. Và tưởng mình hoa mắt đọc nhầm, vội nhìn kỹ lại rõ ràng là 50kg và chụp hình bao này làm vật chứng. Không biết vật dụng nguyên thủy đựng trong bao là gì nhưng chắc là không nặng bằng đá nên mỗi người phải gánh trên 100kg trên những đường mòn dốc gồ ghê lởm chởm từ hầm đá lên đến công trường quả thật là khó tin nếu không có hàng chữ ghi trên bao. Tôi chợt nghĩ công đức cúng dường trong chùa tại đây có nhiều công đức nhưng có thể chưa cao bằng chút quà nhỏ cho các người lao động này.

Cũng trên lối đi này dọc theo lan can sắt có những ổ khóa đồng có khắc chữ Tàu được khóa chắc vào lan can, và có những gian hàng nhỏ bán và khắc chữ những nơi rộng ngang phía sát vách đá. Hỏi ra và được biết đó là những cặp nam nữ lên viếng chùa mua khóa khắc tên rồi khóa vào lan can sau khi đã khấn nguyện chư Phật và Bồ Tát phù hộ cho họ được trọn đời bên nhau. Tôi không khỏi cười thầm về tập quán mê tín này vì khi đã lên gần chót vót đĩnh núi, trong không gian tu hành thanh thoát này để mong được thoát tục ra khỏi vòng luân hồi của thế giới ta bà lại có những người chỉ mong được buộc chặt với nhau trong chốn phàm trần này. Tại Chùa Hóa Thành, đoàn hành hương chúng tôi có duyên may là được Hòa Thượng Trụ Trì Thích Thường Trạm cho xem một pháp bảo  của chùa: phẩm Kinh Đại Hạnh Phổ Hiền, mà Đại sư Vô Hà đã trích máu ở lưỡi chép lại bản kinh này trong 28 năm, và cho mỗi người một xâu chuổi. Tại ngôi chùa này đoàn cũng được xem nhục thân, mão và đôi hài cỏ của của ngài Kim Kiều Giác, được lưu giữ tại ngôi chùa cổ này

 

Bách Tuế Cung hoặc Vạn Niên Tự, nơi tu tập của Đại Sư Vô Hà ( 1497-1609).  Bảy trăm năm sau khi ngài Kim Kiều Giác viên tịch, Đại sư Vô Hà, lúc 26 tuổi, đã đến đây để tìm dấu tích của ngài Kim Kiều Giác và xây một chùa nhỏ, tiền thân của Bách Tuế Cung, điểm đặc biệt của ngôi chùa này là có thờ nhục thân của Vô Hà Đại Sư, viên tịch năm 126 tuổi, phái đoàn đã có phước duyên vào thăm và đảnh lễ nhục thân còn nguyên vẹn của Ngài.

 

Nhục Thân Điện nơi thờ phượng bảo tháp nhục thân của Thánh Tăng Kim Kiều Giác.

 

Thiên Đài, đỉnh cao nhất và đẹp nhất của Cửu Hoa Sơn. Cần xuống núi trước khi trời tối chúng tôi không đủ thì giờ leo thêm hơn 300 bậc thang trên triền núi thật dốc để viếng Thiên Đài. Thật tiếc. Những ai có dịp đọc web Quangduc.com có thể thấy trong những hình chụp ở Cửu Hoa Sơn có một tấm hình có một chùa màu vàng, một màu xanh dương và một màu trắng nằm giữa kẹt hai vách núi trên đĩnh. Cái màu xanh dương __ màu của màn lưới an toàn xung quanh giàn giáo của công trường tu bổ __  là chùa Hóa Thành. Ngôi chùa màu trắng cheo leo trên đĩnh núi là mặt sau của Thiên Đài. Tuy không lên được nhưng tôi có chụp  được tấm hình quang cảnh Thiên Đài qua bảng giới thiệu bên đường. Xin ghi lại đây để thấy được nét siêu phàm của nó và hiểu thêm câu châm ngôn dưới đây

” Những ai đã đến Cửu Hoa Sơn mà chưa lên Thiên Đài, được xem như chưa biết Cửu Hoa Sơn. Những ai đã đến Thiên Đài đều mong muốn được đến đây nữa”. Cả 4 kiến trúc này là tập hợp chùa danh tiếng và quan trọng nhất của Cửu Hoa Sơn về lịch sử, kiến trúc và thắng cảnh.

 

NGŨ ĐÀI SƠN (WUTAISHAN), đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, nằm phía Tây Nam Bắc Kinh, thuộc tỉnh Sơn Tây gần biên giới xứ Nội Mông, được đặt tên theo 5 ngọn núi có đĩnh dạng vung tròn và tương đối bằng. Đứng trên đĩnh Đông, nhìn về trước ta sẽ thấy đĩnh Tây nhưng khuất sau dãy núi, từ trái qua là các đĩnh Nam, Trung, Bắc. Thung lũng sâu trước mặt là Hoa Đài thị xã, thị trấn của Ngũ Đài Sơn.

Chúng tôi đến gặp mùa lá cây đã rụng hết nên quang cảnh thật u buồn với cỏ khô màu cà phê nâu lạt như cảnh núi đồi trọc California chỉ khác là thỉnh thoảng có loang lỗ những triền đồi đá, nhưng sách vở thường khen phong cảnh Ngũ Đài Sơn thật đẹp và nên thơ. Đĩnh Bắc, có tên Vọng Biển vì những buổi sáng mặt trời mọc khi mây còn phủ núi trông giống như cảnh thật trên biển cả. Đĩnh Nam là đĩnh Thảm Hoa vì có mùa đủ loại hoa bao phủ triền núi tạo thành những làn sóng hoa tuyệt đẹp khi gió thổi . Đĩnh Đông, đĩnh Thảm Xanh, tức Đại Lỏa Đĩnh, 3000m cao nhất, nhờ có một hồ nước thiên nhiên nên cây cỏ xanh tươi trải dài. Đĩnh Tây là đĩnh Trăng Treo vì có những tháng du khách nhìn thấy mặt trăng lấp ló trên các ngọn cây. Đĩnh Trung là đĩnh Đá Xanh vì có một loại rêu xanh phủ đá. Dưới ánh nắng mặt trời rêu rung rinh di chuyễn nên còn có tên là Rồng Múa. Giao thông an toàn nhờ đường vào rộng rãi và tốt, nhưng giá vé vào cửa rất cao. Các lối đi bộ xung quanh chùa đều sạch sẽ, phẳng phiu nhưng rất dốc được lát đá xanh. Đá lót tại các sân được chạm trỗ hình bông và lá sen rất đẹp. Sơn Tây là xứ sản xuất than đá và điện lực nên mặc dầu ở trên núi cao vẫn bị ô nhiễm trầm trọng. Ngũ Đài Sơn là trung tâm Phật giáo cổ có lịch sử hơn 1200 năm với hàng mấy trăm chùa và hiện còn 124 ngôi chùa lớn nhỏ.

Từ thế kỷ thứ 14, Ngũ Đài Sơn là trung tâm duy nhất tại Trung quốc có  sự giao thoa hài hòa giữa hai nền Phật Giáo Hoa Tạng. Đứng trên bãi đậu xe nhìn lên các ngọn núi cao xám trơ trọi tôi thấy những quần thể chùa bao bọc bởi những vách tường cao màu đỏ nâu lạt như thành lũy với những đường bậc thang ngoằn nghèo thật dốc. Dưới thung lũng  có một tháp trắng với kiến trúc khác lạ giữa một quần thể chùa khác. Quang cảnh khác hẳn Cửu Hoa Sơn

Thù Tượng Tự hay Văn Thù Đĩnh. Sau khi được xe đưa lên gần chùa chúng tôi phải đi bộ một khoảng ngắn thì tới chùa. Tới gần mới biết các bức tường màu đỏ tưởng là thành lũy kia chỉ là hai vách tường hai bên đường đi lên chùa với cao độ khác nhauvì triền núi dốc. Thù Tượng Tự là một thánh địa Phật giáo danh tiếng tại Ngũ Đài Sơn vì ngài Văn Thù đã từng sống và hoằng pháp tại đây. Ngôi chùa đầu tiên được xây cất vào đầu thế kỷ thứ 7, và vào đời nhà Minh (1368-1644) Phật giáo Tây Tạng bắt đầu hoạt động tại đây, và chùa được xây dựng lại dưới triều vua Khang Hy thứ 36 (1697) và được đổi tên là Văn Thù Tự. Đây là ngôi chùa độc nhất tại Ngũ Đài Sơn với mái ngói men vàng, và đến năm 1702 vua Khang Hy lại ban cho chùa một sắc phong bằng lụa rộng 80cm, cao 44cm với hai chữ Hán Kong Lin __ theo tài liệu phiên dịch ra Anh ngữ, mà một người Hoa giải thích là sang trọng giống như hoàng cung nhưng không phải hoàng cung, do ngài tự thảo. Tượng tại chùa này được thực hiện theo phong tục Tây Tạng với tay mặt cầm kiếm sắc bén với ý nghĩa dùng để chặt đứt phiền não, tay trái cầm cuốn kinh bát nhã tượng trưng cho trí huệ. Truyền thuyết kể rằng đầu tượng Bồ Tát được làm đi làm lại nhiều lần nhưng vẫn chưa được vừa ý.

Một hôm người thợ này đang làm bánh bao chợt thấy ngài Văn Thù  hiện rõ ràng trên đám mây. Ông ta bèn dùng bột làm bánh bao nặn mặt ngài làm mẫu và theo đó mà thực hiện, nên được xem đây là pho tượng Bồ Tát Văn Thù đẹp và chính xác nhất tại Trung Hoa, nhưng  hình thức tượng này khác với các tượng ở Trung Hoa và Việt Nam. Tại đây nhiều áng văn thơ của vua Càn Long được khắc bằng 4 thứ tiếng Hoa, Tạng, Mông và Mãn trên những tháp bia đá 4 mặt. Có lần vua Càn Long đến chùa gặp lúc tuyết rơi, ngài tỏ vẻ buồn rầu. Một vị tăng vội giải thích đó là Bồ Tát Văn Thù rải hoa đón vua. Vui vẻ lại nhà vua liền ứng khẩu một bài thơ về đề tài đó. Chùa này còn giữ được 3 chảo nấu cơm lớn có đường kính 2m. Cách đây lối 100 năm, hằng năm vào ngày 14 tháng 6 âm lịch, sinh nhật Ngài Văn Thù, chùa nấu 6 lần, tổng cọng 18 nồi cháo đủ 8 loại đậu __ số 8 tượng trưng cho bát chánh đạo __  cho dân chúng ăn

Tháp Viện Tự là cái tháp nổi  bật nhất trong khu vực vì màu trắng cao 75m, đường kính 28m với nét kiến trúc Népal, và hàng ống pháp luân quanh chùa, nhưng chúng tôi không có duyên vào chiêm bái phía trong.

 

Hiển Thông Tự là ngôi chùa lớn nhất tại Ngũ Đài Sơn. Chánh điện có 108 trụ cột mà không có trụ chính ở giữa đang đang được tu sửa nên không được vào xem. Mặt tiền có những hoa văn chạm trổ rất công phu. Trước sân chùa có 108 bậc thang thật dốc nhưng bậc thang bằng đá đặt hơi nghiêng về phía trước mà mặt trên không có rảnh nên khá trơn trợt khi trời mưa.

Đại Lỏa Đãnh  nằm trên Đĩnh Đông, còn được gọi Ngũ PhươngVăn Thù Điện, vì là nơi du khách có thể chiêm bái một lần cả 5 tượng Bồ Tát Văn Thù được đúc giống như các tượng được thờ trên 5 ngọn núi của Ngũ Đài Sơn. Đại Lỏa Đãnh được gọi để diển tả đĩnh ngọn núi có hình dáng xoắn ốc. Trước đây khách thập phương phải leo 1080 bậc thang khi lên thẳng đứng, khi lên xéo góc để lên chùa. Từ năm 1993 một hệ thống xe cáp treo, chở mỗi lần 2 người kiểu tại các nơi trượt tuyết, được thiết lập giúp cho sự lên xuống mau chóng và dể dàng. Ngôi chánh điện 3 gian thờ 5 vị Bồ Tát Văn Thù với gian giữa thờ 3 vị, và mỗi bên một vị.

Truyền thuyết kể rằng vua Càn Long đã nhiều lần đến Ngũ Đài Sơn và muốn lên chiêm bái nơi Bồ Tát Văn Thù từng sống và tu tập, nhưng vì đường lên núi cheo leo hiểm trở nhà sư trụ trì sợ trách nhiệm khi có tai nạn xảy ra cho nhà vua mà không dám trình bày, cứ tìm cách tránh né việc này. Nhà vua liền ra lịnh cho nhà sư bằng mọi cách trong năm sau nhà vua có thể thực hiện mộng ước. Nhà sư ngày đêm suy nghĩ nhưng không tìm ra giải pháp. Một buổi trưa một chú tiểu trong chùa lấy trộm một trái chuối đem ra vườn sau ăn. Cũng hôm ấy nhà sư không nghỉ trưa được bèn ra vườn sau dạo chơi và bắt gặp chú tiểu đang ăn chuối. Đang bực mình, nhà sư liền phạt chú tiểu quỳ hương. Ngạc nhiên về sự trừng phạt quá nặng so với tội phạm chú bèn thưa

- Bạch Thầy con đã từng phạm nhiều lỗi nặng nhưng Thầy đã không phạt mà còn giảng dạy cho con. Nay với một trái chuối mà sao Thầy phạt con nặng vậy.

- Đang đau đầu chưa tìm ra giải pháp về việc vua chiêm bái Bồ Tát con không biết sao?

- Tưởng gì chớ việc đó có khó gì đâu. Thầy cứ chọn một địa điểm mà nhà vua có thể lên an toàn rồi xây một ngôi chùa thờ luôn cả  5 vị Bồ Tát Văn Thù tại một chổ. Ta vừa dễ làm mà nhà vua cũng tiện chỉ một nơi mà chiêm bái được cả 5 vị.

Nhân thấy tại sân chùa có mấy cây cổ tùng mấy trăm năm mọc vươn lên thẳng tắp, Hòa Thượng Bảo Lạc, hòa thượng chứng minh của đoàn, đã lấy hình ảnh này làm mẫu mực khuyên Phật tử noi theo đó mà tu tập.

NGA MI SƠN (EMEISHAN) : Đạo tràng của Bồ Tát  Phổ Hiền

Núi Nga Mi , cao lối 3000m, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, giáp ranh miền đồng bằng Tây Trung Quốc, bản doanh của Lưu Bị thời Tam Quốc. Cách Thành Đô (Chendu) thủ đô Tứ Xuyên 150km, cách Lạc Sơn (Leshan) chừng 50km. Chữ Nga Mi được dùng căn cứ vào hình ảnh 2 ngọn núi đối diện nhau có đôi lông mi đẹp như các mỹ nhân Trung Hoa. và tên 5 ngọn núi đều có chữ Nga. Núi Nga Mi khởi đầu là một trung tâm Lão giáo từ thế kỷ thứ nhất, được chuyễn dần qua Phật giáo từ thế kỷ thứ 3 và phát triễn mạnh vào triều nhà Minh. Hiện nay còn khoảng 70 chùa trong đó có 10 chùa nổi tiếng, và được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1996. Ngoài lịch sữ phong phú về Phật giáo, núi Nga Mi  có nhiều loại thực vật quanh năm xanh tốt, với những cây tùng bách cở 1000 năm, nên phong cảnh rất ngoạn mục và hữu tình. Tuy đường sá lên núi  dài 60km, rất tốt nhưng quanh co khúc khủy và thường xuyên có mây mù nên một công ty vận tải địa phương dùng các xe đò nhỏ hơn với tài xế quen thuộc đường sá phụ trách việc đưa hành khách lên núi. Hôm chúng tôi đến mây mù phủ kín cả bầu trời. Người hướng dẫn viên cho biết trời chỉ trong xanh trong vài tháng mùa hè nhưng nóng lắm nhất là dưới chân núi. Do đó dân chúng thích trời mù thơ mộng và mát mẻ hơn. Đường lên núi quanh co giữa những rừng núi xanh ngắt với vách thẳng đứng và khe sâu thăm thẳm, và những dãy núi trùng điệp mờ mờ ảo ảo trong sương mù thật lạ và đẹp. Đáy các khe suối nơi khô, nơi chảy róc rách gồm  toàn là đá đủ kích thước có những tảng thật lớn nằm rải rác.

Vào mùa mưa nước chảy mạnh văng dội trắng xóa đẹp lắm. Trên sườn núi xanh tươi có một thác hai tầng cao trắng xóa, có thác lờ mờ ẩn hiện qua tàn lá xanh, thỉnh thoảng có vài giòng suối khô. Rừng tre và thông mọc lẫn lộn. Những rừng thông ở đây có cành rủ xéo xuống trông xa lú nhú như rừng người mặc áo choàng mùa đông. Có lần tôi thấy trên đĩnh một dãy núi một hàng thông dài thưa thớt và đều đặn nỗi bật lên trên nền trời mù xám giống như đoàn chúng tôi đang đi kinh hành, chỉ khác có màu áo thôi. Khi đoàn xe ngừng cho khách đi vệ sinh nhiều người thắc mắc khi người hướng dẫn thu thẻ thông hành những người trên 60 tuổi. Hỏi ra mới biết nếu đoàn có tỷ lệ người già cao sẽ đươc xe chở lên bến trên và được mua vé cáp treo với giá hạ hơn. Hệ thống cáp treo tại đây đặc biệt hơn, dài 1164m, chỉ có hai trụ hai đầu và chở được 100 người/lần, mới hoạt động được hơn một năm.  Lúc lên gần đến đỉnh trời trong quang đãng, mọi người reo mừng khi thấy tòa kim đĩnh óng ánh giữa bầu trời xanh lạt.

Kim Đĩnh Hoa Tạng Tự. (Jinding Golden Sumit) Kim đĩnh, mới khánh thành được 2 năm thật là đẹp đẽ hùng tráng, nhọn vút lên trời cao nhờ màu vàng chói mặc dầu là trời hơi mù làm nhiều người gần như nghẹt thở không phải vì lên cao thiếu dưỡng khí mà vì há hốc mồm kinh ngạc. Dưới chân, kim đĩnh đài có hai dãy voi trắng 6 ngà, __  biểu tượng của Bồ Tát Phổ Hiền __ mỗi bên 6 con, đứng trên bệ cao. Mỗi con voi với yên đai màu vàng mang trên lưng bánh xe luân hồi hoặc vòng tròn dựng đứng trên một đài sen với một cái gậy để xéo ngang ( tôi không rõ ý nghĩa của hình thức này) trông thật uy nghi và trang nghiêm như đón chào quan khách. Sân đài rộng lớn như một sân banh được lát đá tảng xanh lớn có rãnh cạn tránh trơn trợt.

Giữa sân đài là bệ kim đĩnh với 6 bậc thang màu vàng và tượng đàn voi trắng nhỏ đứng vòng quanh. Trên bệ này là đế tròn chân kim đĩnh với 4 con voi vàng 6 ngà đứng ngoảnh ra bốn hướng. Từ sân đài, kim đĩnh tượng cao 20m, có 8 tượng Bồ Tát Phổ Hiền __ 4 tựợng nguyên thân ngồi trên voi ở tầng dưới, 3 và 1 tượng đầu ở hai tầng trên. Phía trước kim đĩnh là cửa vào Kim Đĩnh Hoa Tạng Tự, thờ Phật A Di Đà với trần vòm cung, trang trí với các hình tượng A La Hán, được chống đỡ bởi 10 cây cột tròn. Trong tường quanh vách điện là 8 tượng Phật khá lớn đứng trong vòm cung. Sau kim đĩnh còn có hai căn nhà lớn và một sân hẹp với lan can vững chắc. Đứng sát lan can nhìn xuống thấy, trên lớp mây mù dưới sâu, vách núi thẳng đứng như mô hình kiến trúc cho biết phía sau sân đài là vách núi thẳng đứng sâu cả mấy trăm thước. 

Vạn niên tự  (Wannian temple) hiện hữu, một trong 8 chùa chính của núi Nga Mi, được xây cất dưới đời nhà Minh, là một kiến trúc đặc biệt độc đáo của Trung Hoa: một điện thờ bằng gạch không có đà ngang mà sau hơn 400 năm với 18 lần động đất vẫn vững chắc. Chánh điện là một mái nhà  hình vòm cung trang trí đơn sơ. Phật đài cũng chỉ có một bàn dài với mâm đĩa chưng hoa quả, bộ lư đồng cho nhang đèn đặt trước một pho tượng Bồ Tát Phổ Hiền thật đẹp, bằng đồng thiếp vàng cỡi trên con voi trắng sáu ngà cao 7.3m nặng 62 tấn . Nơi đây bốn Phật tử trong đoàn đã quy y Tam Bảo dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Thích Bảo Lạc.

 

CÁC THẮNG TÍCH KHÁC

Chiêm bái các Xá Lợi Phật.

A Dục Vương Tự,(Asoka temple)  cách  thành phố Ninh Ba 20km có một tháp hình lục giác 7 tầng, cao 37m, nơi chúng tôi có duyên được chiêm bái Xá Lợi Máu của Phật do vua A Dục gởi tặng Trung Quốc. Sau khi đảnh lễ chư Phật chúng tôi được đưa vào an tọa trong một phòng riêng. Xá Lợi Phật để trong một tháp đen nhỏ xung quanh có khe trống được đem vào để trên bàn trên Phật đài. Phía sau tháp có cây đèn rất sáng. Vị sư niệm chú rồi bảo, qua người thông dịch, muốn thấy rõ Xá Lợi Phật, áp cằm vào thành bàn và ngước mắt nhìn lên sẽ thấy. Từng người một vào xem, vợ chồng chúng tôi thấy một vật tròn tròn bằng hạt bắp màu nâu.

          Linh Quang Tự, (Ling-guang Monastery) được xây dựng từ thế kỷ thứ 8, nơi chúng tôi được chiêm bái Xá Lợi Răng của Phật, là chùa thứ hai trong 8 chùa lớn tại Bát Đại Sứ, một trung tâm hành hương và du lịch quan trọng tại ngoại ô Bắc Kinh. Nguyên thủy có hai xá lợi răng: một ở Tích Lan và một ở Udayana nay thuộc Pakistan. Phật giáo sử trung Hoa chép vào thế kỷ thứ 5 một tăng sĩ Trung Hoa tên Fa Xian qua Udayana  nhận xá lợi tại Pakistan đem về thủ đô Nam Kinh, và Tần Thủy Hoàng sau đó cho đem về Tràng An và đến thời vua Càn Long, nhà Thanh, vào dịp sinh nhật, cung tần quan tướng triều đại này đã thỉnh xá lợi này và an trí trong một tháp bằng vàng (cao lối 1.5m đế rộng 0.80m, nặng 152 kg) để dâng vua, Sau đó vua Càn Long đã cúng dường lại cho chùa Linh Quang thờ cho đến ngày nay. Linh Quang Tự cũ hình bát giác cao 10 tầng  được xây với gạch có hình tượng Phật nên còn có tên gọi Chùa Ngàn Phật, được xây từ thế kỷ thứ 8. Năm 1900  chùa bị bom đạn của quân đội đồng Minh phá sâp. Khi  dọn dẹp tầng hầm chùa, nhà sư trụ trì tìm thấy một hòm đá trong đó có ghi “Xá Lợi Răng của đức Phật Thích Ca” với lời ghi chú của Sơn Hội ngày 23 tháng 4 năm thứ 7 đời vua Thiên Hội“ Chùa hiện hữu được xây lại từ năm 1958-1964, cao 51m, cao 13 tầng vẫn với nét kiến trúc cổ của Trung Hoa nhưng với vật liệu và trang thiết bị hiện đại.

Mặc dầu đã được chấp thuận nguyên tắc trước, nhưng phải có duyên lớn chúng tôi mới được chiêm bái pháp bảo này vì cần phải có 3 chìa khóa của nhà sư trụ trì, hội trưởng hội Phật giáo Bắc Kinh và đại diện chánh quyền Bắc kinh mới mở được cửa tầng tháp lưu trữ xá lợi. Muốn vào tháp đoàn được chia làm 3 nhóm 25 người, tất cả mọi vật dụng giày, ví, máy chụp hình đều phải để ngoài. Qua một cầu thang riêng hẹp với thảm đỏ đoàn được vào tầng tháp đặc biệt này. Xá lợi răng được đặt trong một tháp thiếp vàng được gắn nhiều đá quý và chạm trổ công phu, cao lối 1,5 x 0.80m. Khi nhìn vào xá lợi răng chúng tôi thấy ngoài xá lợi còn có một hình tượng Phật Bà đứng kế bên. Hình ảnh Phật Bà chỉ mới xuất hiện khoảng hơn mười năm nay. Lúc đầu chỉ thấy lơ mờ nhưng ngày càng rõ như hiện nay.Xá lợi răng này đã được nhiều quốc gia xin được rước về để cho Phật tử địa phương và các xứ lân cận đến chiêm bái như Miến điện 3 lần, Tích Lan và  Hồng Kông 1 lần, và Thái Lan từ 2002-2003 trong dịp lễ sinh nhật của vua Thái Lan.

Lạc Sơn Đại Phật Di Lặc  (Leshan giant buddha) nằm tại thành phố Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, trên đường Thành Đô đi Nga Mi. Tượng cao 71m trong tư thế ngồi tựa lưng vào vách núi, hai chân đặt trên mặt đất, được chạm vào vách đá màu đỏ ngoảnh mặt ra giao điểm của 3 con sông Mân Gia, Đại Lộ Hà và Thanh Y, phụ lưu của sông Dương Tử. Một vài kích thước sưu tầm được: tượng cao 71 m, đầu cao 14.7m, tai cao 7m, ngón tay dài 3m, diện tích bàn chân 8 x27 tương đương với sân bóng rổ. đủ chổ cho 100 người ngồi.     

          Pho tượng được thực hiện từ năm 713 đến 803, có một gương mặt cân đối an nhàn tự tại đã là nguồn cảm hứng cho nhiều văn thi nhạc sĩ sáng tác nhiều tác phẩm để đời. Người đời miêu tả tượng Phật vĩ đại này bằng câu nói: “Núi là một vị Phật, Phật là một quả núi” Giữa bầu trời bao la sông núi ta thấy bức tượng đã lớn nhưng có thể vẫn chưa hình dung đúng mức được sự to lớn khổng lồ của nó khi ta chưa so sánh ngôi chánh điện chùa ta thường sinh hoạt với bàn chân tượng đủ rộng để 100 người ngồi, hoặc đứng trong thành phố ngước mắt nhìn một cao ốc 7 tầng. Chúng tôi không đủ thì giờ và cũng không dám leo xuống để hiểu biết thêm các chi tiết rồi lại leo lên theo hai dãy cầu thang hai bên tượng. Nếu không thấy đoàn người áo quần đủ màu nhúch nhích giống như đàn kiến hai bên vách núi thì cũng không nghĩ là có thể đến đó đảnh lễ ngài. Lên bờ lại và kinh hành khoảng gần 1 km trên đường lát ván với lan can vững chắc dọc theo mép sông (sông ở  dưới sâu) và leo nhiều dãy bậc thang trên núi để đến chiêm ngưỡng chái tai và một phần gương mặt ngài. Phải chi nơi đây giới hữu trách cho làm một kiến trúc gì tiêu biểu cho chái tai để khách thập phương so sánh chái tai với thực tế như bàn tay tại Linh Sơn Đại Phật ở Vô Tích. Ngoài sự đồ sộ, đây là một công trình có trình độ kỹ thuật cao. Trên đầu có 1021 búi tóc được gắn vào đầu còn tồn tại; một hệ thống thoát nước tuyệt diệu với các rãnh được bố trí kín đáo sau vành tai, dưới lớp áo v..v..để dẫn nước thoát không làm sói mòn tượng. Tuy vậy qua thời gian dài pho tượng nguyên thủy cũng đã bị hư hại khá nhiều nên năm 1963 chánh quyền trung ương bắt đầu tu bổ lại nhưng có thể là không đáp ứng được nhu cầu nên hiện nay UNESCO tự đảm nhiệm và tượng này chỉ mới được ghi vào danh sách di sản thế giới vào năm 1996 mà thôi ???? Trước đây  khi tu bổ lại tượng, chánh quyền có làm một mái che mưa gió để bảo vệ tượng nhưng mái này đã bị sụp đổ và nhờ đó khung cảnh được tự nhiên và đẹp đẽ hơn. Một điều khá lý thú là mãi đến năm 1983 một du khách Hồng Kông đi thuyền ngắm tượng và đã vô tình thấy một tập hợp 3 hòn núi có hình dáng Phật A Di Đà nằm ngang trên biển với pho tượng Di Lặc ngồi ngang bụng hình Phật A Di Đà, nên ngày nay khách thập phương và cả đoàn chúng tôi đều đến vị trí này để ngắm.

Lịch sử ghi chép rằng năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đời vua Đường Huyền Tông (713 Tây lịch), Hòa Thượng Hải Thông khi thấy cư dân tại vùng hợp lưu 3 con sông  này thường xuyên bị đắm tàu bởi sóng gió bất thường. Ngài nghĩ rằng về tâm linh sự hiện diện của một tượng Phật to lớn tại đây giúp cho niềm tin của dân chúng và về kỷ thuật đá phế thải do chạm tượng lấp cạn bớt giòng sông làm giảm tai nạn. Dân chúng thấy dự kiến vĩ đại này khó thực hiện được và tỏ vẻ lơ là nên sự đóng góp không được bao nhiêu. Với một niềm tin vững chắc và một quyết tâm sắt đá, Ngài tiếp tục hóa duyên nên được sự chú ý của nhiều người nhiều tỉnh ủng hộ. Sau 20 năm kiên trì Ngài thấy số tiền tạm đủ để khởi công với hy vọng sự đóng góp sẽ dồi dào hơn khi dân chúng thập phương thấy tiến trình công tác. Thấy sự thành công của Ngài, một số chức trách địa phương muốn trục lợi và tranh công buộc Ngài phải giao số tiền và công việc lại cho họ tiếp tục phụ trách. Ngài khẳng định nhất quyết không giao. Họ không giám giết Ngài nhưng nghĩ nếu làm cho Ngài mù mắt không thể điều hành công việc thì họ sẽ dành được công tác nên tuyên bố nếu Ngài không giao họ sẽ móc mắt Ngài. Không chờ họ hành động, Ngài khẳng khái tự mình móc đôi mắt trao cho họ làm họ khiếp vía chạy trốn. Tin này lan nhanh và rộng  nên nhóm chánh quyền ô lại bị thay thế, uy tín Ngài càng lên cao tạo nhiều thuận tiện cho Ngài tiếp tục công tác. Nhưng Ngài viên tịch trước khi hoàn tất ước nguyện và công trình được hai đệ tử Ngài tiếp tục.

Linh Sơn Đại Phật (Lingshan Giant Buddha)  nằm trong thành phố Vô Tích, một thành phố đẹp vùng Tây Hồ, phía Tây Bắc Thượng Hải. Pho tượng Phật Di Đà, cao nhất thế giới, mạ đồng cao 88m, nặng 700 tấn, đứng nhìn ra Tây Hồ được xây dựng năm 1997, được xem là tượng Phật cao thứ hai của Phật Giáo thế giới hiện nay.Tên Linh Sơn Đại Phật được gọi do tên ngọn núi Linh Sơn phía sau. Sau khi đi qua một cửa cổng tam quan đồ sộ cao đẹp với 7 gian, 5 cửa vì có 2 gian là hai bức tường đá chạm trổ 2 bức tranh và trên đầu mỗi cột là con sư tử đá, và một hành lang, trống, rộng lát đá tảng cưa với rãnh nhỏ, giữa hai dãy bồn bông và hai hàng cây cao, ta đến một quãng trường rộng ở giữa có một  bồn nước với 9 con rồng phun nước, một số tượng các tiên nữ đang múa xung quanh tháp hoa sen chính giữa. Tháp  là một cột rất lớn màu đen cao 12 m, dưới thấp và xung quanh có tượng Tứ Đại Thiên Vương tiếp theo là một phần cột trang trí đơn giản và trên cùng là hoa sen 8 cánh, có người gọi là hoa vô ưu. Hàng ngày đúng 2:30 chiều là lễ hoa khai kiến Phật rất đẹp __  tả lại quang cảnh thị hiện đản sanh của Đức Phật Thích Ca tại vườn Lâm Tỳ Ni bên Ấn Độ cách đây 2631 năm __ thật uổng nếu đến đây mà không được chứng kiến cảnh này. Đúng giờ nhạc nhẹ bắt đầu trỗi, nước bắt đầu phun theo cường độ, lúc cao lúc thấp uốn éo theo nhịp nhạc. Chừng mười phút sau nhạc trỗi mạnh nước phun cao và sau một tiếng bùm mạnh nước phun cao che khuất hoa sen với ngụ ý là rửa sạch hoa để đón mừng Phật Đản sanh. Các cánh hoa từ từ mở theo điệu nhạc để hé lộ đầu tượng Phật Đản Sanh. Các cánh hoa càng mở rộng thân hình tượng Phật càng rõ ràng. Khi các cánh hoa đã mở hết mức tượng Phật Đản Sanh bắt đầu quay. Khi quay đủ vòng nước lại phun mạnh lên che phủ kín toàn thân tượng Phật tượng trưng cho lễ tắm Phật. Nhạc êm dịu lại, các cánh hoa từ từ khép lại và khi đã kín một đợt nước nữa được phun lên rửa sach đóa hoa. Lúc đang tắm Phật  chúng tôi thấy rất nhiều người chạy túa lại một dàn vòi nước gắn trên bệ cao tranh nhau hứng nước tắm Phật và uống tại chỗ. Một ý nghĩa khác của hoạt cảnh này là ý nghĩa "hoa khai kiến Phật" thế giới Cực Lạc Phương Tây, một hành giả được hóa sanh trong đóa sen khi thác sinh về cõi giới này.

Tiếp tục đi về hướng Phật Đài có cây cột đá của vua A Dục cao chót vót với 4 con sư tử trên cùng. Tiếp theo một sân rộng, bên trái là một bàn tay Phật và bên mặt là tượng Phật Di Lặc với hàng trăm trẻ con tười cười chọc phá Ngài đủ kiểu đủ cách mà ta khó tưởng tượng được. Bàn tay Phật bằng đồng đỏ, cùng kích thước với bàn tay của tượng trên Phật đài, lớn đến độ đầu du khách chưa đến giữa bàn tay Phật. Khách hành hương vừa đi vòng quanh vừa đưa tay rờ bàn tay Phật, để mong được phát tài và khỏe mạnh, làm cho màu đồng đỏ mòn và đổi sang màu vàng óng. Vị trí hai kiến trúc này được dùng làm bán kính cho 2 vòng cung lồng đèn pháp luân lớn theo nghi thức Phật giáo Tây Tạng. Tại giao điểm của hai vòng cung và tim hành lang có một tượng bản sao ( replica) nhỏ của tượng lớn để những ai không thể lên Phật đài đến đây cầu nguyện. Muốn lên đến tượng đài ta phải qua một sân rộng có cây bồ đề khá lớn và leo 7 tầng bậc thang, __ mỗi tầng gồm có 30 bậc và sân chờ rộng khoảng 10m __ tổng cọng 210 bậc, hoặc dùng hai 2 đường xe hơi hai bên. Đường bậc thang lên Phật đài rộng mấy chục mét, ở giữa có bảy bức tranh bằng đá chạm trổ công phu chia đường lên thành hai lối. Tượng Phật thật sắc sảo với nét mặt hiền hậu đứng trên tòa sen nhìn xuống chúng sinh trông thật uy nghi. Trong tòa sen và dưới tượng Phật là bảo tàng viện ở tầng dưới và Điện Mười Ngàn Tượng Phật ở tầng trên. Tiếc là hôm ấy mưa suốt sáng chỉ thấy tượng Phật lờ mờ may mà buổi chiều hết mưa trước giờ làm lễ hoa khai kiến Phật nên mới chụp được hình. Xem lại các hình chụp được tôi thấy còn rất nhiều kiến trúc khác mà tôi không rõ ý nghĩa nên nghĩ rằng đây là một tập hợp nhiều cảnh của Phật giáo. Nhìn trên họa đồ, khu đất dành cho công trình này thật là lớn không thể đi khắp và diễn tả được, trên đây chỉ là những bộ phận chính yếu. Về cảnh hoa khai kiến Phật tôi có ý nghĩ là trong không gian của thánh địa cảm xúc của mình nhạy bén hơn nên cảnh hoa khai ngụ ý là nhắc nhở khuyên ta nên mở rộng lòng từ tâm. Khi lòng từ bi của mình đã rộng mở, Phật tánh ta liền lộ rõ toàn diện như  hình Phật Đản Sanh giống như dân gian thường nói nhân chi sơ tính bản thiện. 

Chùa Huyền Không ( hanging temple) cách thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây 65km, nằm trong một thung lũng giữa 2 vách đá cao vòi vọi của dãy núi Hoàng Sơn, một bên là xa lộ, một bên là chùa. Dưới thung lũng là một con suối lớn có một cầu treo cổ điển cho du khách vào viếng chùa. Là một chùa nhỏ toàn bằng gổ duy nhất còn lại của Trung Hoa, 50m cao hơn mặt đất, đứng cheo leo như dán sát vào vách đá nên thường còn được gọi là chùa treo. Chùa được tu bổ nhiều lần vào thời nhà Minh và nhà Thanh. Chùa này được tồn tại hơn 1400 năm, với một kiến trúc độc nhất vô nhị và thờ tam giáo Phật Lão và Khổng. Phần chính các tượng được chạm trong vách đá nhưng cũng có những tượng bằng đồng, chạm trổ vào sắt, đá và đất sét đặt trong các hang nhỏ vòm cung hay trên bàn thờ. Tuy lối đi lên chùa bằng gỗ đã được gia cố bằng những thanh sắt góc nhưng tin đồn là năm 2008 sẽ cấm không cho du khách lên thăm viếng nữa.

Vân Cương Thạch Động (Yunggang grotto) tọa lạc dưới chân núi Vũ Châu, thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây, thạch động này là một di tích Phật Gíáo lớn nhất, đẹp và lâu đời nhất, có từ thời Bắc Ngụy (439 Tây Lịch), và được xem là di sản văn hóa thế giới từ năm 2002. Trên đường vào, từ xa chúng tôi đã nhìn thấy một dãy núi trọc không cao lắm với những hang lớn nhỏ đen như hang mà dân cư Ngũ Đài Sơn thường làm để dùng như nhà ở. Trên cao phía trái có một mỏm thật lớn  giống như phần còn lại của một cổ thành thường thấy ở Trung Hoa. Phía dưới các hang là một dãy dài nhà 4 tầng với kiến trúc chùa, không có gì to lớn đặc biệt để được liệt vào di sản thế giới. Thậm chí đứng ngay tại bến đậu xe bên một tảng tá trắng thật lớn với 4 chữ Vân Cương Thạch Động bằng Hán văn tôi cũng chưa hình dung được sự vĩ đại của nó.

Qua một đoạn đi không dài lắm chúng tôi đến một khu khá bằng phẳng rộng độ 50-60m được xem như là chân hang động. Những hang tưởng nhỏ lúc nãy thật sự rộng từ 10-15m cao 8-15m và vô số những hang đủ cỡ  nhỏ hơn. Thạch động dài hơn 1km và được thành hình trên 70 năm từ 453-525 Tây lịch. Có tất cả 53 động chính được chia làm 3 phần: phần bên Đông gồm động số 1 đến 4, phần trung tâm từ số 4 đến 13, phần bên Tây từ 14 đến 53, và hơn 1000 hang động trung và nhỏ với vô số pho tượng lớn nhỏ không thể đếm được. Tượng lớn nhất cao 17m và nhỏ nhất là 2cm. Những hình và tượng ở đây là sự phối hợp tôn giáo, văn hóa, và nghệ thuật của Hoa, Tạng, Ấn và Hy Lạp đã đưa Thạch Động lên thành một trung tâm hành hương và du lịch về hang động và được công nhận là di sản thế giới. Lịch sử ghi rằng vào thời đó có một vị vua tàn phá chùa chiền, làm nhiều điều ác đức nên nhà vua con là Huệ vân Đế cảm thấy ân hận về hành động của vua cha, muốn tìm một địa điểm có tầm vóc và thích hợp cho công trình sám hối hầu giảm bớt nghiệp cho cha. Một đại sư đề nghị với vua địa điểm này. Họ khởi sự khoét một hang nhỏ sâu vào khoảng vị trí đầu tượng Phật. Từ đó họ thực hiện việc điêu khắc phần trần hang, đầu tượng và vách từ từ xuống dưới. Có những dãy hốc đá vòm đục sâu trong vách với hàng cột ngoài được chạm trổ công phu và sơn nhiều màu. Vì đá thuộc loại đá cát (sandstone) mềm nên dễ bị phân hóa và khoét mòn vì thời tiết và gió nên có nhiều chỗ bị hư hại nhưng trông cũng giống như được chạm trổ phù hợp với khung cảnh. Có nơi là một vách với các vòm vòng cung cạn trong đó thờ tượng Phật hoặc các thần linh. Không phải chỉ có các tôn giáo thực hiện công trình này mà còn nhiều dân tộc thiểu số tạc tượng Phật theo văn hóa riêng của họ. Thật khó mà diễn tả hết nghệ thuật chạm trổ và vẽ hình trên đá và hình chụp cũng không được rõ vì thiếu ánh sáng nhưng tôi cũng cố gắng phác họa sơ quang cảng một số động.

Các động từ 1- 4 đã bị gần như hoàn toàn hư hại. Ở giữa động số 5 là tượng Phật Thích Ca ngồi kiết già hai bên vách có Tứ Đại Thiên Vương đứng chầu được chạm trổ vào vách. Trần và vách còn có nhiều hoa văn trang tri đẹp. Động 6 ngoài pho tượng, xung quanh là các cảnh tiêu biểu toàn thể đời của đức Phật Thích Ca. Trên cao động 7 là tượng của Tam Thế Phật, phía dưới là vua Huệ vân Đế và bà mẹ. Cái vòng cung giữa Tam Thế Phật và vua là một dãy tiên nữ đang múa. Hai bên vách là 2 tượng Hộ Pháp. Động 8 có tượng Phật Di Lặc theo văn hóa Ấn Độ với hai chân bắt chéo xéo xuống đất chứ không ở thế kiết già như ở VN. Tay mặt tượng  đưa lên và hướng ra trước vì sợ bị gãy nên có một tượng Hộ Pháp nhỏ dùng đầu đội cùi chỏ Phật, tay trái đặt lên đầu gối.  Động 16, Tượng Phật Thích Ca  đứng và phần dưới bị hư hại nhiều nay thấy có nhiều lỗ nhỏ. Nguyên nhân là nhà Thanh muốn phục hồi lại phần hư hại đã cho đục những lỗ sâu để câu lớp đất sét mới đắp bên ngoài vào vách đá. Nhưng với thời gian và thời tiết khắc nghiệt phần đất sét bị phân hóa để lộ ra những lỗ nhỏ. Động 18, Tượng Phật Thích Ca đứng với hoa văn là những tượng Phật nhỏ ở tà áo tay và ngực, và xung quanh vách là tượng những bồ tát. Động 19 là tượng lớn thứ hai cao 16.8m, ngồi kiết già,  có trái tai xuống gần đến vai. Động 20 tượng Phật Thích Ca ngồi cao 13.7m có một tượng hộ pháp đứng hầu bên trái, hiện là tượng còn lại đẹp nhất. Động này có một mái đá che và mới bị sập và được sửa chữa cho gọn gàng như hiện nay. Có nơi nhờ  mặt tiền động cao và hệ thống cột tuy bị phân hóa nhưng còn vững chắc và đẹp, nên giới hữu trách đang cho chỉnh trang cột đá còn lại hòa hợp với mái ngói theo kiến trúc chùa.  

Chùa Pháp Vũ, tại Phổ Đà Sơn  nơi tu hành của tổ sư Ấn Quang, tổ thứ 13 của tông Tịnh độ. Trước điện thờ ngài có 2 câu đối ghi lại lời dạy của ngài về cốt lõi của pháp tu niệm Phật rằng “Mạc nhạ nhất xưng siêu thập địa, Tu tri lục tự quát tam thừa” nghĩa là: không ngờ một câu qua mười địa; phải hay sáu chữ phủ ba thừa. Ba thừa  là Thinh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa , mười địa là mỗi thừa có 10 địa vị tu. Ngài Ấn Quang đại sư muốn nhắn nhủ đến sự mầu nhiệm siêu việt của câu Nam Mô A Di Đà Phật.  Chỉ cần niệm Phật sáu chữ này  một cách tinh tấn người tu môn tụng niệm Phật có thể vượt qua đuợc 10 địa vị tu chứng của hàng Bồ Tát, và  đắc được quả chứng của tam thừa.

Chùa Linh Ẩn, (Ling Yin temple) nơi tu hành của Tế Điên Hòa Thượng là chùa cổ nhất ở Hàng Châu. Chùa nguyên thủy được bắt đầu từ thế kỷ thứ 3 và được phát triễn mạnh vào thế kỷ thứ 10 nhờ sự ngưỡng mộ đạo Phật của vua đương thời, trong chùa đã có trên 3000 tăng sĩ tu tập. Khuôn viên chùa rất rộng và các điện thờ đều được tàn các cây cổ thụ che phủ quanh năm nên rất mát mẽ. Năm 1974  chánh quyền cho phục hồi lại như hiện tại nên còn có tên Vân Sơn Tự, và trong chùa cò có sắc phong do vua Khang Hy tự thảo. Chùa hiện tại gồm dài 7 gian, rộng 5 gian với mái nhà thật cao. Tượng Phật Thích Ca cao 25m gồm 24 khúc gỗ trầm hương ghép lại được thiếp vàng. Nếu tôi khong lầm thì đây là ngôi chùa có nhiều điện thờ nhất. Từ ngoài cổng chính vào theo nhiều lối đường quanh co dài dẫn đến điện thờ đầu tiên của Tứ Đại Thiên Vương, kế đến là điện thờ Tế Điên Hòa Thượng, chánh điện thờ phật Thích Ca, rồi điện thờ Dược Sư Bồ Tát và nhiều điện nữa. Phật tử đến đãnh lễ nơi Dược Sư điện rất đông.

Trên một bức tường chắn đất sau chánh điện  có ghi một văn kiện bằng Hán văn, tôi không hiểu ý nghĩa, nhưng dân chúng viếng thăm chùa này thường lấy tay thoa rờ vào một số chữ trên một bảng như chữ Phúc, Thọ v..v.. hoặc cố nhảy lên cao để rờ vào một chữ gì đó. Những chữ này đã trở nên đen thui. Bên tay trái trong một ngôi nhà lớn hình chữ vạn, có 500 tượng A La Hán màu đồng đỏ, lớn bằng người. Các tượng với diện mạo, tư thế và vũ khi từng tượng đều khác nhau được đặt trên kệ cao thành 4 hàng ngoảnh mặt ra 2 lối đi ở giữa mỗi cánh của hình chữ vạn. Ngay giữa giao điểm chữ vạn là một tháp vuông. Mỗi mặt trên cao có ghi bảng hiệu  của các Bồ Tát Quán Thê Âm, Văn Thù, Địa Tạng, và Phổ Hiền. Phia dưới là những bức tranh diễn tả hạnh nguyện của mỗi vị Bồ Tát. Với Bồ Tát Địa Tạng chúng tôi thấy ngài Bồ Tát cầm cây gậy với hào quang tỏa sáng mở khóa Địa Ngục. Những người thoát được ra ngoài tươi cười vui vẻ, những ai còn bên trong cố chen lấn cho gần cửa ra. Bồ Tát Quán Thế Âm cầm nhành dương liểu dài hướng về một chiếc thuyền trên mặt biển nhiều sóng. Chúng tôi không rõ ý của 2 mặt còn lại.

Tế Điên Hòa Thượng là một vị tăng dị biệt ăn uống bừa bãi. Sự tu tập của ngài phần chính là lo giúp đỡ người gặp khó khăn, có thể gom gọn trong câu: Người ta tu khổ không tu tâm, ta tu tâm không tu khổ. Truyền thuyết kể rằng khi đến đây tu tập, ngài bảo nơi đây sắp có tai họa vì sẽ có một hòn núi sẽ bay đến đáp vào làng này nên khuyên dân chúng nên tản cư đi nơi khác, nhưng dân chúng thấy sự tu hành của Ngài nên không tin. Một hôm trong làng có đám cưới Ngài bèn ôm cô dâu chạy và đốt làng, toàn thể dân chúng tức giận rượt theo. Nhưng khi nghe tin có một cụ già không chạy thoát được và còn kẹt lại trong biển lửa. Ngài vội bỏ cô dâu, trở về cứu bà lão và thấy một hòn đá lớn đang lăn đến gần bà lão. Ngài bèn đưa bàn tay ra chận hòn đá và để lại dấu 5 ngón tay trên tảng đá. Tới lúc đó dân chúng mới hiểu hành động cứu dân làng của ngài. Ngoài ra trong hòn núi này cò có một lổ hũng cao lối hơn 1m, dài 3, cao hơn mặt đất chừng 1.5m được coi là nơi Ngài nằm ngủ trong thời gian tu tập.    

Chùa Tuyết Đậu, ở Phong Hóa, nơi ẩn tu của Bố Đãi Hòa Thượng, vốn hóa thân của Bồ Tát Di Lặc. Bố Đãi Hòa thượng có thân hình to lớn, bụng phệ và luôn tươi cười thường xuyên mang một bao bố lớn, do đó có tên như trên, chứa đựng đủ thứ quà mà trẻ con thích. Các công trình của chùa Tuyết Đậu, với khuôn viên rất lớn nằm dưới chân núi, đã hoàn chỉnh và chánh quyền đang cho xây dựng một tượng đài với tượng Phật Di Lặc cao 38m. Tượng được chọn trong 26 mẫu dự thi.Tượng đài nằm trên sườn núi với hơn 300 bậc thang nên sẽ được thấy từ xa. Công trình được khởi công từ đầu năm 2005 đến nay mới hoàn thành phần đế.

          Chùa Quang Hiếu, nơi xuất gia của Lục tổ Huệ Năng, là một chùa lớn ở Quảng Châu. Dọc theo các lối đi xung quanh chùa đều có các phướn ghi các câu kệ của Lục Tổ. Chùa có cây bồ đề cổ thụ, hơn 1700 năm, do một nhà sư Nhật Bản đem từ Ấn độ về trồng, mà từ đó tất cả những cây bồ đề ở các chùa Trung Quốc và Việt Nam đều được chiết ra; một cái tháp nhỏ được xây nơi Lục tổ ngồi để xuống tóc đi tu. Dưới gốc cây bồ đề là tấm bia đá ghi lại bài kệ của Ngài. Hôm đó có nhiều người thuộc bài kệ qua truyền khẩu nên có vài chữ không được đúng. Xin ghi lại đây bài kệ ghi trên bia qua lời đọc của Hòa Thượng Bảo Lạc: Bồ đề bổn vô thọ , Minh cảnh diệt phi đài, Bổn lai vô nhất vật, Hà xứ nhá trần ai. Tạm dịch: Bồ đề chẳng thật là cây, Kiếng soi chẳng phải vật này đài gương, Xưa nay mọi vật tỏ tường, Làm gì bụi dính bám vương được nào. Sau đây là bài kệ của Ngài Thần Tú: Thân thị bồ đề thọ,Tâm khứ minh cảnh đài, Thờ thời thường phất thức,Vật sử nhá trần ai. Tạm dịch: Thân như cây bồ đề, Tâm là đài gương sáng, Luôn luôn năng lau chùi, Làm gì có bụi bám.  Ghi chú: Bốn ngôi chùa trên là nơi còn những dấu tích của những hành giả tu tập và chứng đạo, và trở thành những thánh địa của Phật Giáo Trung Hoa.

Vài cảm nghĩ về chuyến hành hương

1. Với cảnh rừng núi cheo leo trùng điệp, với nghệ thuật và văn hóa linh hoạt và hài hòa thể hiện trong những kiến trúc nguy nga đồ sộ, tôi hết sức khâm phục sự quyết tâm tu hành và xây dựng các công trình của tiền nhân Trung Hoa. Các điều đó giúp tôi hiểu rõ thêm các hạnh nguyện to lớn của các vị Bồ Tát này và tạo thêm niềm tin về Phật pháp của vợ chồng tôi và gieo duyên cho các con cháu __ khi đứa cháu ngoại 11 tuổi đã nói “ Đúng là Buddha đã cho bà ngoại thêm power mới đủ sức leo chừng ấy bậc thang”

2. Hòa Thượng Bảo Lạc đã dùng hình ảnh các cây cổ tùng mọc thẳng đứng một cách ngạo nghễ tại Văn Thù Điện để khuyên chúng ta theo đó mà tu tập. Theo thiển ý hình ảnh đó thích hợp cho các vị Tăng Ni và các cư sĩ cao thâm hơn là đối với chúng ta, đang dọ dẫm tu tập, hình ảnh rừng tre tại Cửu Hoa Sơn có vẻ phù hợp hơn. Tre tại rừng này có thân cây suôn đuột thẳng đứng với một số nhánh khẳng khiu và lá nhỏ mỏng manh trên ngọn và mọc riêng rẽ từng cây một, giúp cho ta nhìn xuyên sâu vào rừng. Hình ảnh thân cây thẳng đuột giúp ta phấn đấu vươn lên, các nhánh khẳng khiu tượng trưng cho sự tương trợ nhỏ nhoi nhưng cần thiết của các bạn đồng tu. Nếu mọc riêng rẽ cây tre nếu không  gãy ngang thì cũng nghiêng ngã xiêu vẹo.

3. Đoàn đi kinh hành dẫn đầu bởi 7 vị tăng ni áo vàng tiếp nối với hơn 80 Phật tử, khi áo tràng khi áo dài, vừa đi vừa tụng niệm trang nghiêm là một cảnh đặc biệt lạ mắt làm khách viễn phương đứng nhìn hoặc chụp hình lia lịa. Nhờ chương trình được nghiên cứu kỹ lưỡng chúng tôi được chiêm bái nhiều pháp bảo hiếm quý tại một số tu viện, nhờ khách sạn sang trọng an toàn, nhà hàng sạch sẽ, thức ăn ngon nên mọi người đều khỏe mạnh trong suốt cuộc hành hương. Có được kết quả này là nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Thầy Nguyên Tạng và anh Tony Thạch, một Phật tử Úc kiều gốc Việt Hoa, giám đốc một công ty du lịch hành nghề lâu năm. Vừa là Phật tử lại biết tiếng Hoa nên khi gặp các hướng dẫn viên địa phương kém Anh ngữ  anh Tony trao đổi với họ bằng Hoa ngữ nên hiểu rõ ngọn ngành để giải thích cho đoàn. Sau khi về nhà những tràng dài email hàng ngày __  đã kéo dài thêm thời gian hành hương __  giúp cho Phật tử tiếp tục trao đổi thêm những thắc mắc về giáo pháp còn vấn vương, những tâm tình mới nẫy nở; đặc biệt có một vị cho biết nhờ sự giao tiếp cởi mở đầy nhân ái trong chuyến hành hương nên bây giờ đã dám nêu lên những e ấp từ lâu giữ kín trong lòng. Đó là những điểm son của tổ chức này.  

4. Chúng tôi đã ở Quảng Châu nơi có đài tưởng niệm chí sĩ Phạm hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương. Khi biết được điều này thì đã quá trể để đến thăp nén hương cho người.  Một điều thật đáng tiếc

5. Cấu trúc chùa chiền Trung Quốc khác hẳn ở VN nên tôi ghi lại để sau này những ai đi hành hương đỡ bở ngỡ hơn. Từ ngoài cổng vào thứ tự các điện một chùa đơn giản nhất gồm 3 điện thờ: 1) Tứ Đại Thiên Vương, 2) Đại Hùng Bửu Điện tức là chánh điện và 3) Tàng  Kinh Các. Trong cấu trúc biến cải, như tại tứ đại danh sơn, điện thứ 2 là nơi thờ phượng vị chủ chốt  của chùa như các Bồ Tát Quán Thế Âm, Văn Thù , Địa Tạng và Phổ Hiền; điện thứ 3 thờ Phật Thích Ca, mới là chánh điện; còn như tại Linh Ẩn Tự có khá nhiều điện, điện thứ 2 chủ chốt là Tế Điên Hòa Thượng, thứ 3 là chánh điện, thứ 4 là Dược Sư Bồ Tát, thứ 5 và 6  là… và cuối cùng là Tàng Kinh Các. Tất cả các điện đều có mái thật dốc với các tượng Phật thật lớn được đặt trên Phật đài cao ngay dưới đòn giông trông thật uy nghi. Chùa được bố trí dùng để lễ bái nên phần trước và sau Phật đài rất hẹp __ chứ không phải để Phật tử ngồi trước Phật đài nghe thuyết pháp như ở Việt Nam.

6. Thân nhân các khách hành hương nên thận trọng hơn có nên để thân quyến mình tham dự khi tình trạng sức khỏe không được tốt. Có một vị đã gần bị xỉu 2 lần may mà không hề hấn gì.  Một số người trong đoàn lo ngại nếu có sự bất trắc đoàn sẽ mất vui và mất thì giờ . Một số khác nghĩ là sẽ có Phật độ đừng lo. Tuy nhiên chúng tôi thiễn nghĩ ban tổ chức cũng nên cẩn trọng hơn.

 

Đây là lần đầu tiên chúng tôi đi hành hương nên có rất nhiều lo ngại về thời tiết, về địa hình, về nơi ăn chốn ở nơi chùa chiền trên núi cao, nhất là nhà tôi bị đau nhức khi gặp lạnh và đau đầu gối khi lên cầu thang. Những tin tức do bạn bè đã đi hành hương trước cho biết cũng không được thống nhất vì có thể địa điểm và thời điểm khác nhau. LT của chúng ta cũng chưa có bài viết nào ghi lại những điều cần lưu ý, nên tôi ghi  lại vài điều cần lưu tâm.

- Nếu lộ trình hành hương là tứ đại danh sơn thì đường sá an toàn và rất tốt, khách sạn và nhà hàng đủ loại gần chùa, nếu người tổ chức chịu chơi  và Phật tử không ngại chi tiền thì không đáng lo ngại. Với lộ trình khác ta nên hỏi ban tổ chức những điều cân biết.

- Thời tiết vào đầu tháng 11 không đến nỗi nào ngoại trừ gặp luồng khí lạnh bất thường hoặc bản thân người hành hương không chịu được lạnh. Đa số khách hành hương thích đi vào tháng lạnh vì chỉ cần mặc nhiều lớp áo là được chứ đi vào mùa hè trời nóng đi bộ ra mồ hôi khó chịu hơn. Với những ai không chịu được lạnh nên mua loại pat tạo nhiệt tại các tiệm bán dụng cụ thể thao và để vào găng tay, bí tất hay một bao bì gì mà ta có thể cột vào vai, ngực v.. v.. nơi ta thường bị đau. Các pat này chỉ rất tiện lợi,  tự tạo và giữ nhiệt khi tiếp xúc với không khí. Giá từ1-2 đô và dùng được từ từ 4-24 giờ tùy loại.

- Trước khi ghi tên tham dự nên hỏi rõ phương tiện di chuyễn bằng gì và nên tránh những phương tiện hoặc đơn vị tổ chức rẻ tiền như dùng xe lửa ở Ấn Độ. Vì những hướng dẫn viên địa phương thường dùng Anh ngữ và trình độ Anh văn có khi không được khá nên nếu người hướng dẫn viên chính của đoàn cần có một số kiến thức về Phật giáo và rành Hoa ngữ để trao đổi với hướng dẫn viên địa phương thì mới dẫn giải rõ ràng được các chi tiết của nơi chiêm bái.  Lẽ tất nhiên tiền nào của nấy.

- Số lượng người tham dự dưới 50 người thì tốt hơn vì mỗi xe buýt chỉ chở được chừng ấy và thời gian tập họp kéo dài khi đông người vì người Việt mình chưa tôn trọng giờ giấc ấn định.

- Nên có một máy ghi âm để thâu trực tiếp những điều hướng dẫn viên giải thích để khi về nhà ta nghe lại thì tốt hơn.

- Ngoài những thuốc thường dùng hàng ngày, ta cần đem theo thuốc ho, cảm, tiêu chảy, dầu nóng, và vài thứ khác mà ta cảm thấy cần thiết, nếu  có thể với số lượng khá nhiều để giúp những bạn gặp khó khăn.

Cập nhật ( 14/01/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online