Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow TÍNH ÂM NHẠC TRONG KINH PHẬT (NhS Dương Đình Sơn)
TÍNH ÂM NHẠC TRONG KINH PHẬT (NhS Dương Đình Sơn) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
14/01/2009

TÍNH ÂM NHẠC TRONG KINH PHẬT

* Nhạc sĩ Dương Đình Sơn.

          Kinh Phật lời kinh và âm nhạc là hai yếu tố tạo nên hiệu quả của cuộc hành lễ: lời tụng kinh đều đều vang vọng hòa cùng tiếng mõ giữ nhịp, tạo nên khung cảnh trang nghiêm, u linh, thiền định, linh thiêng, trầm lắng sâu xa. Âm hưởng đó sẽ đưa nhân tâm đệ tử vào cõi hư vô đến bên Niết bàn của Đức Phật, trong đó tính âm nhạc tính âm nhạc tập trung tâm lực cao nhất nằm ở âm Om nét láy đuôi trong câu kinh. Chẳng hạn:

          Nam mô đức Quan thế âm Bồ Tát – Om !

          Chữ Om trong triết học Ấn Độ là một dư âm đều đều vang vọng trong không gian, chứa đựng sự thần bí nhất của vũ trụ (1) tức là ý nghĩa của âm nhạc. Ta có thể ví tiếng chuông chùa vang lên kéo dài trong đêm khuya tĩnh lặng bung đó là thể hiện âm Om này.

          Một câu kinh có âm Om làm nét láy đuôi như thế, ngày nay ít được sử dụng, mà sử dụng âm OM MA NI PAP ME HUM xin được nói sau.

          Trong kinh cầu nguyện của các tôn giáo đều có âm kết láy đôi này, chẳng hạn như Amen trong kinh Thánh đạo Cơ Đốc. Tiếng chuông mà nhờ có hai âm kinh keng, kinh keng được coi như âm Amen trong kinh Thánh.

          Theo sự hình thành của âm nhạc của Raphavôên  Uliam người  anh cho rằng: Nét láy đuôi trong kinh cầu nguyện với người đi cúng lễ, có sự thần bí không thể nào diễn tả nói bằng lời. Đó là sự mầu nhiệm của âm nhạc (2).

          Vậy, để có sự so sánh, đối chiếu chúng tôi dẫn âm Om được biến thái ở các vùng và âm kết của một số tín đồ như sau:

          Om                                 Ấn Độ.

          Ommani                         Lạt ma Tây Tạng.

          Aom                              Người Thái ở Tây Bắc.

          Amen                                       Thiên chúa giáo.

          Xít                                 Người Việt.

          Âm xít trong tín ngưỡng của người Việt được thể hiện như sau:

          Cầu trời khấn Phật phù hộ độ trì cho con tai qua nạn khỏi “Xít”.

          Âm Xít này khi thể hiện cho hơi hít vào, tức là đưa tâm linh vào hướng nội (3) vì thế nó không vang lên như âm Amennets láy đuôi của kinh Thánh, hoặc âm Om néy láy đuôi của kinh Phật, nhưng nó đã làm thoả mãn tâm nguyện hướng niệm đến đấng siêu nhiên của người đang hành lễ.

          Với âm  Aom của người Thái ở Tây Bắc là một trường hợp đặc biệt. Người thái không theo đạo Phật, nhưng dòng thầy mo của họ tiếp thu âm Om của đạo Phật và được thể hiện trong các trường hợp như sau:

          Thứ nhất, Trong lễ tang tiễn hồn người chết lên thượng  giới có bản khóc tiễn hồn (hay sông khăn). Bản Hạy xông khoăn rất dài, phải khóc đến sáu, bảy đêm liền mới hết. Do thầy mo thực hiện.

          Lễ tang thì bà con cả bản đều tập trung, và đêm đêm cảnh về khuya cả nhà yên ắng lắng nghe. Không khí linh thiêng, ánh nến chập chờn, với điệu khóc tiễn hồn trầm hùng, sâu lắng hòa cùng tiếng gõ vào chiếc tăng lổng ( cồng ) giữ nhịp của thầy mo ngồi bên quan tài. Đến chỗ kết của từng ý trong lời khóc, thầy mo dồn hết tâm niệm, hướng đến hồn người quá cố, tròn khoan miệng Aom  một tiếng càng làm cho điệu khóc tiễn hồn tăng thêm tính chất thần bí.

          Chữ A ở đây như chữ A Di Đà Phật. A là số nhiều, vô lượng.

          Trường hợp thứ hai. Trong lễ cúng chữa bệnh cho người ốm, thầy mo với câu:

          Pên chép pên lai

Pên lai pên xăm xoi toi xịn – Aom.

          Hoặc trong hát cúng chữa bệnh nặng, sau mỗi câu cúng thầy mo dùng chữ Om và sử dụng liên tục như: Om, Om, Om

          Trường hợp thứ ba. Trong cuộc đời thường, âm Aom được sử dụng như một từ “khóa”. Chẳng hạn trong cuộc họ của chủ Mường mà có cuộc tranh luận, đến giai đoạn phải kết thúc thì chủ Mường nói dõng dạc Aom nê ! thế là cuộc tranh luận im lặng; hoặc trong cãi nhau giữa hai người, đến khi cần kết thúc, người thắng cuộc nói Aom nê ! người kia coi như cứng lưỡi; và âm kết Aom từ “khoá” quyền lực này cũng được người chủ trong gia đình thực hiện (4).

          Ở người Việt, việc tụng kinh cầu nguyện ở nhà chùa là phút thảnh thơi, thăng hoa siêu thoát nhân tâm của đệ tử, khi về già trong phút lâm chung của người quá cố, người nhà mời nhà sư về tụng kinh. Âm hưởng của lời tụng kinh sẽ giúp cho người quá cố từ từ tắt thở, linh hồn nhẹ nhàng siêu thoát đi vào cõi hư vô. Ngoài ra ở đời thường, câu thần chú Ummani cũng được thực hiện như Umbani điều gì cũng biết, hoặc Umbala ba ta cùng tiên…

          Như vậy, âm Om nét kết trong kinh Phật và câu thần chú Ummani với ý nghĩa cao siêu, sâu xa; thần lực mầu nhiệm đã thâm nhập, ngự trị trong ý nghĩa cao siêu, sâu xa; thần lực mầu nhiệm đã thâm nhập, ngự trị trong ý niệm của người Thái ở Tây Bắc và ở người Việt.

          Từ luận giải này, chúng tôi trình bày ý nghĩa của bài Thần chú UM MA NI BAP MÊ HUM của kinh Phật.

Ở Việt Nam cũng có một số sư thầy giảng về ý nghĩa của bài Thần chú này như Ni sư Thích Nữ Lệ Phát trụ trì chùa Châu An. Đường Lê Quang Định Quận Gò Vấp Thành Phố - Hồ Chí Minh, nhưng chưa thấu đạt. Cho nên, chúng tôi lựa theo lời giải thích về ý nghĩa của bài Thần chú của Tây Tạng, tức là thần chú của Quan Thế Âm, vị Phật của lòng bi mẫn Om mani padme hum. Thần chú này cũng như phần đông Thần chú, đều bằng phạn ngữ, cổ ngữ thiêng liêng của Ấn Độ.

THẦN CHÚ CỦA ĐẠI BI TÂM:

OM MANI – PADME HUM

Tạng ngữ đọc là Om Mani Pémé Hung. Thần chú nàytiêu biểu cho tâm đại bi và ân sủng của tất cả chư Phật, Bồ tát nhất là ân sủng của Quán Tự Tại, vị, Phật của lòng bi mẫn. Quán Tự Tại (Quan Thế Âm) là hiện thân của Phật trong hình thức Báo thân và thần chú của ngài được xem là tinh tuý của lòng bi mẫn của chư Phật đối với hữu tình:

Xong để đạt được thần lực mầu nhiệm của thần chú thì phải thực hiện đúng phương pháp thiền định với hai điểm sau đây.

          a. Về tư thế ngồi, theo quy tắc ngồi thiền, mắt lim dim, hai tay lật ngửa đặt vào huyệt đan điền (dưới rốn), bàn tay phải đặt lên trên. Đưa hơi vào miệng, nuốt xuống thâm nhập vào ngũ tạng, rồi dồn đưa lên mũi và từ từ đưa thoát ra ngoài một cách tự nhiên.

          b.Về âm nhạc, âm hưởng vang lên thầm hùng, vang vọng chứa chất thần lự. như “dư âm đều đều vang vọng trong không gian. Ví dụ: UM MA NI BAP MÊ HUM (nghe băng nhạc của thần chú này).

          Thần chú: OM MANI PADME HUM, được phân làm ba tiết, trong đó ý nghĩa của âm Om là tinh chất của thân giác ngộ, âm MANI PADME là tiêu biểu ngữ giác ngộ, còn âm Hum là tiêu biểu ý giác ngộ. Do đó, thân, ngữ, ý của tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh của thần chú này. Thần chú sẽ tịnh hoá những chướng ngại của thân, lời, ý và đưa ra tất cả hữu tình đến trạng thái chứng ngộ. Khi tụng thần chú này mà phối hợp với đức tin và tinh tấn thiền định thì năng lực chuyển hoá của thần chú sẽ phát sinh và tăng trưởng. Quả vậy, chúng ta có thể tịnh hoá bản thân bằng phương pháp ấy.

          Đối với  những người đã quen thuộc với thần chú này, suốt đời tụng đọc với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thư Tây Tạng nói, ở trong cõi trung ấm: “Khi âm thanh của pháp tánh gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện cho tất cả tiếng này trở thành âm thanh của Thần chú sáu âm”. Và kinh Lăng nghiêm cũng nói: “mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của Quan Thế Âm. Đấy là âm thanh tối sơ của vũ trụ … đó là tiếng thì thầm âm ỉ của thuỷ triều trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại giải thoát bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự thanh tịnh vô biên của Niết Bàn.

         

Giáo lý giải thích rằng mỗi âm trong sáu âm của thần chú Om MANI PADME HUM có một hiệu quả đặc biệt để mang lại sự chuyển hoá thuộc nhiều tầng khác nhau của bản thể ta. Sáu âm này tính hoá tất cả sáu phiền não gốc, biểu hiện của vô minh khiến chúng ta làm những ác nghiệp của thân, lời, ý tạo ra luân hồi sinh tử và những khổ đau của chúng ta trong đó. Kiêu mạn, ganh tỵ, dục vọng, ngu si, thèm khát và giận dữ nhờ thần chú mà được chuyển hoá trở về bản chất thực của chúng, trí giác của sáu hội tộc Phật thể hiện trong tâm giác ngộ.         

Bởi thế khi ta tụng thần chú OM MANI PADME HUM thì sáu phiền não trên được tịnh hoá; vì vậy ngăn ngừa được sự tái sinh vào sáu cõi. Đồng thời Thần chú này cũng tính hoá các uẩn thuộc ngã chấp, hoàn cảnh sáu hạnh siêu việt của tâm giác ngộ (Sáu ba la mật): Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Người ta cũng nói rằng Thần chú OM MANI PADME HUM có năng lực hộ trì rất lớn, che chở ta khỏi những ảnh hưởng xấu và các thứ tật bệnh.

          Thường có chủng tự HRIH của Quán Thế Âm được thêm vào sau câu thần chú làm thành OM MANI PADME HUM HRIH. HRIH là tinh yếu tâm đại bi của tất cả chư Phật, là chất xúc tác đã khởi động tâm đại bi chư Phật để chuyển hoá các phiền não của ta thành bản chất trí tuệ của các ngài.

          Tương truyền vô lượng kiếp trước có một ngàn thái tử phát tâm Bồ - Đề nguyện thành Phật. Một vị nguyện thành Phật Thích Ca mà ta đã biết, nhưng Quán Tự Tại thì nguyện không thành Chánh giác khi mà tất cả ngàn thái tử chưa thành. Với tâm đại bi vô biên, Ngài còn nguyện giải thoát tất cả chúng sinh ra khỏi khổ sinh tử luân hồi trong lục đạo. Trước mười phương chư Phật, Ngài phát nguyện: “Nguyện cho con cứu giúp được tất cả hữu tình và nếu có khi nào con mệt mỏi trong công việc lớn lao này, thì nguyện cho thân con tan thành một ngàn mảnh”. Đầu tiên, ngài xuống cõi địa ngục, tiến lên dần dần cõi ngạ quỷ, cho đến các cõi trời. Từ đấy ngài tình cờ nhìn xuống và trông thấy than ôi, mặc dù ngài đã cứu vô số chúng sinh thoát khỏi địa ngục, vẫn còn có vô số khác đang sa vào. Điều này làm cho ngài đau buồn vô tận; trong một lúc ngài gần mất tất cả niềm tin vào lời nguyện vĩ đại mà ngài đã phát, và thân thể ngài liền nổ tung thành ngàn mãnh. Trong cơn tuyệt vọng, ngài kêu cứu tất cả chư Phật. Những vị này từ mười phương thế giới đồng bay đến như mưa tuyết để tiếp cứu. với thần lực nhiệm mầu, chư Phật làm cho ngài hiện toàn thân trở lại và từ đấy Quán Tự Tại có mười một cái đầu, một ngàn cánh tay, trên mỗi lòng tay có một con mắt. Ý nghĩa rằng sự phối hợp giữa trí tuệ và phương tiện thiện xảo là dấu hiệu của đại bi chân thực. Trong hình thức này. Ngài còn sáng chói rực rỡ và có nhiều năng lực hơn trước để cứu giúp tất cả chúng sanh. Tâm đại bi của ngài khi ấy còn mãnh liệt hơn nữa, và ngài lại phát nguyện này trước chư Phật: “Con nguyện không thành chánh giác khi tất cả chúng sanh chưa thành”.

          Tương truyền rằng vì đau buồn trước nỗi khổ luân hồi sinh tử, hai giọt nước mắt đã rơi từ đôi mắt ngài và chư Phật đã làm phép biến hai giọt nước mắt ấy thành hai nữ thần Tara. Một nữ thần có màu xanh lục, năng lực hoạt động của tâm đại bi và một nữ thần có màu xanh trắng, khía cạnh như mẹ hiền của tâm đại bi. Tara có nghĩa là người giải cứu, người chuyên chở chúng ta vượt qua biển sanh tử.

          Theo kinh điển đại thừa, chính Quán Tự Tại đã cho Đức Phật câu Thần chú và Đức Phật trở lại giao phó cho Ngài công tác cao quý đặc biệt là cứu giúp tất cả chúng sanh tiến đến giác ngộ. Vào lúc ấy, chư Thiên tung hoa xuống ca ngợi hai ngài. Quả đất chấn động và không trung vang lên âm thanh OM MANI PADME HUM HRIT.

          Tóm lại kinh Phật phải được vang lên thành giai điệu âm nhạc – có nghĩa giai điệu âm nhạc sẽ mang tinh hoa tư tưởng của kinh Phật đến với chúng sanh vô lượng hằng hà sa số.

          Hiện nay ở một số như Tây tạng, NêPan và Bắc Kinh đã có băng đĩa về giai điệu âm nhạc của Thần chú này./.

 

Chú thích:

1. Giáo sư : Nguyễn Tấn Đắc, Viện Đông Nam Á cung cấp.

2. Raphavôên Uliam. Sự hình thành của âm nhạc. Nhà xuất bản âm nhạc Liên Xô Ấn hành 1961, bản dịch chép tay của Lương Hồng. Thư viện Âm nhạc quốc gia, trang 14.

3. Dương Đinh Minh Sơn, Văn hoá Nõ Nường. Nxb Khoa học xã hội. 5 / 2008. trang 269.

4. Dương Đình Minh Sơn. Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng trong dân ca Thái Tây Bắc, Nxb Âm nhạc tái bản lần thứ nhất 2001.

 

TƯ LIỆU THAM KHẢO:

1. Sogvai,  Sinpoche Tây Tạng sống chết, Trí Hải dịch Nhà xuất bản Thành Phố hồ Chí Minh 1996, 2 tập. Thư viên Phật học 73 Quán Sứ Hà Nội.

2. Kinh Dà La Ni, Xuất Tượng. Sài Gòn 1995.

3. Ni sư Thích Nữ Lệ Phát, Chú Um Ma Ni Pap Me Hum (Bản vi tính), thư viện Phật học Quán Sứ Hà Nội.

4. Hoà thượng Tuyên Hóa, Đại bi chú giảng giải, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2006.

5. Lời dẫn của sư Thầy Minh Tuệ chùa Vạn Niên đường Lạc Long Quận Tây Hồ Hà Nội.

6. Dương Đình Minh Sơn, Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng  dân ca Thái Tây bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Âm nhạc tái bản lần thứ nhất 2001.

7. Dương Đình Minh Sơn, Văn hoa Nõ Nường, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 5/2008.

Cập nhật ( 14/01/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online