Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow ĐÔ THỊ SÀI GÒN THẾ KỶ XVII - XIX (TS Trần Thị Mai)
ĐÔ THỊ SÀI GÒN THẾ KỶ XVII - XIX (TS Trần Thị Mai) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
14/01/2009

ĐÔ THỊ SÀI GÒN THẾ KỶ XVII - XIX

* TS Trần Thị Mai

Đại học KHXH&NV- ĐHQG.HCM

1. Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đô thị có tuổi vào loại trẻ nhất trong số những đô thị ở Việt Nam hiện nay.

Địa danh Sài Gòn chỉ mới được biết đến hơn 300 năm trở lại đây. Ngoài tên gọi Sài Gòn, một số văn bản chữ Hán còn chép địa danh này với tên gọi Tây Cống. Còn trong các văn bản chữ Latin, địa danh Sài Gòn được ghi bằng nhiều cách phiên âm khác nhau: Sai gon, Sai Gun, Sai Goun, Rai Gon… Sách Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776) là văn bản đầu tiên đã chép rõ tên gọi Sài Gòn, khi ghi lại sự kiện tháng 2 năm 1674, chúa Nguyễn đã sai cai cơ Nguyễn Dương Lâm giúp Chân Lạp ổn định triều đình và xếp đặt cho “ Nặc Nộn làm thứ quốc vương, đóng ở Sài Gòn”.

Như vậy, từ khi chưa chính thức trở thành một bộ phận lãnh thổ của Đại Việt, Sài Gòn – mà theo nhà văn hóa Trương Vĩnh Ký là phiên âm từ tên gọi mà người Khmer đã đặt từ trước (Prei Nokor) – đã có một vị trí nhất định trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội thời ấy. Đại Nam nhất thống chí (Lục tỉnh Nam Việt) cho biết, năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho đặt hai trạm thu thuế thương chính đối với lưu dân người Việt ở Sài Gòn (Prei Nokor) và Bến Nghé (Kàs Kobey), càng khẳng định vị trí quan trọng của Sài Gòn trong mối quan hệ với vùng Đồng Nai – Gia Định khi ấy cũng như trong quan hệ giữa chúa Nguyễn với chính quyền Campuchia.

Về vị trí, khó xác định chính xác phạm vi đất Sài Gòn vào thế kỷ XVII rộng hẹp ra sao. Sách  Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí đều chép về sự kiện năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược đất Đồng Nai, lập hai huyện Phước Long và Tân Bình. Về huyện Tân Bình ta được biết “… lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình”. Trong An Nam quốc đại họa đồ, Sài Gòn chính là thành Phiên An – là thủ phủ của Gia Định. Sách Đại Nam nhất thống chí lại chép “ Chợ  Sài Gòn cách phía nam trấn 12 dặm” và trung tâm Sài Gòn chính là khu vực Chợ Lớn ngày nay. 

          Những bức không ảnh người Pháp chụp vào thập niên 20/ XX, mà nhà khảo cổ học L. Malleret đã dựa vào đó để nghiên cứu về vùng Nam bộ, cho thấy một khu vực – tương ứng với khu vực trường đua Phú Thọ ngày nay – mà dấu vết của một khu cư trú cổ còn để lại rất rõ gồm những đường thẳng đan chéo hình bàn cờ, như những con đường của một thành phố.  L. Malleret đã đặt giả thuyết đó chính là một phần của Prei Nokor – một thị trấn cổ đã hình thành từ thời kỳ tiền Ăngkor hoặc sớm hơn nữa.

          Kết quả khai quật khảo cổ học ở khu vực Sài Gòn -  thành phố Hồ Chí Minh trong mấy chục năm qua cũng làm phát lộ một vùng tụ cư quan trọng đã hình thành từ rất sớm trải dài từ Phú Thọ đến Gò Cây Mai và khu vực Chợ Lớn.

           Từ những nguồn tư liệu trên, có thể thấy hai khu vực Sài Gòn ( Prei Nokor) chính là Chợ Lớn sau này và Bến Nghé ( Kàs Kobey) là tên gọi chỉ vùng Sài Gòn về sau  là những trung tâm đã được khai phá sớm và trở thành trung tâm tụ cư của các lớp cư dân qua nhiều thời kỳ. Từ năm 1623, hai trung tâm này tiếp tục được các chúa Nguyễn chú ý khai thác, trở thành những trung tâm điểm trong  quá trình mở mang bờ cõi ra toàn Nam bộ.

Vào thế kỷ XVII, vùng sài Gòn – Bến Nghé được kiến trúc như thế nào? Quy mô của hai trung tâm này đã mở rộng đến đâu? Khó có thể có câu trả lời xác đáng khi chúng ta vẫn còn khá thiếu tư liệu. Tuy nhiên, kết quả khai quật ở Gò Cây Mai và gần đây ở khu vực Xóm Cải, ở quận 6… có thể bước đầu hình dung các trung tâm này vào thời kỳ đó đã được xây dựng cặp theo mé sông ( đảm bảo giao thông thủy bộ), nhà cửa được làm từ các nguồn vật liệu nhẹ, cư dân đã khá đông đúc. Giáo sư Trần Văn Giàu trong lược sử thành phố Hồ Chí Minh (1987, tr.237) cho rằng “ trước những năm 1618 ( năm vua Chân Lạp lấy vợ người Việt và phong làm hoàng hậu) và năm 1623 ( năm vua Chân Lạp cho phép chúa Nguyễn lập đồn thu thuế thương chánh ở Sài Gòn – Bến Nghé) thì người Việt Nam đã đến Sài Gòn khá đông rồi, làm ruộng vườn, làm thủ công và buôn bán với người ở các nơi đến”.

          Các tác giả của công trình “ Đô thị cổ Việt Nam khi viết về đô thị cổ Sài Gòn, dựa trên ghi chép của Đại Nam nhất thống chí ( tỉnh Gia Định) và Gia Định thành thông chí, đã nhận định: “ … phần “đô” của đô thị sài Gòn cổ, sau sự kiện cắm mốc buổi đầu ấy, khởi hình từ hai đồn thu thuế được đoán định là tọa lạc ở khoảng “ xóm bến Nghé” ( đầu đường nguyễn Huệ, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) và ở khoảng “ xóm sài Gòn” ( giữa quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) ngày càng phát triển, với doanh trại và dinh thự của phó vương Nặc Nộn, xuất hiện trong các năm 1674 – 1690, có lẽ ở khoảng từ Cây Mai đến Phú Thọ (trong quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay); rồi đồn dinh Tân Mỹ lập ra năm 1679 với đồn dinh làm chỗ cho quan tổng tham mưu cư trú…, nha thự cho các giám quân, cai bộ và ký lục ở, lại có quân trại hộ vệ, ngăn ra từng khu rào, ngoài ra thì cho dân trưng chiếm, chia lập làng xóm, phố chợ”

          Từ cơ sở ban đầu ấy, năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Đồng nai, lập hai huyện Phước Long và Tân Bình. Huyện Tân Bình với dinh thự là dinh Phiên Trấn, khi ấy vừa là trị sở của phủ Gia Định, vừa là trị sở của huyện Tân Bình. Nơi đây, chính quyền đặt các chức quan lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị. Diện mạo đô thị Sài Gòn được quy hoạch như sau: khu vực trung tâm với đồn dinh của quan tổng tham mưu đóng ở chợ Điều Khiển ( Ngã ba đường Nguyễn Trãi và Nam Quốc Cang, quận 1, hiện nay), xung quanh là nha thự cho các quan giám quân, lưu thủ, cai bộ và ký lục ( mở rộng về hướng Tân Thuận – Chợ Đũi), hệ thống kho quản thảo ( vùng chợ Cầu Kho), cùng với những phố thị mở rộng về hướng bắc và hướng tây nam như Bến Nghé, vùng sau này là Thị Nghè, Đất Hộ, Chợ Quán, Chợ Lớn… Như vậy, từ năm 1698, sài Gòn đã là đô thị đóng vai trò trung tâm hành chính của cả vùng Gia Định.

          Bước sang thế kỷ XVIII, các chúa Nguyễn ngày càng đẩy mạnh khai phá vùng đất Gia Định. Năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm cho xây dựng một thành lũy kiên cố trên nền cũ của một thành đất mà Đỗ Thành Nhân đã xây từ trước. Từ đây, lối kiến trúc thành thị ra đời, với thành lũy kiên cố đáp ứng yêu cầu chính trị - quân sự và hệ thống phố thị đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Sách Gia Định thành thông chí chép: cai cơ Nguyễn Cửu Đàm sau khi vâng lệnh chúa Nguyễn đi đánh quân Xiêm xâm lấn trở về đã chọn Sài Gòn “ đắp lũy đất, phía nam từ Cát Ngang, phía tây đến cầu Lão Huệ, phía bắc giáp thương khẩu Nghi Giang, dài 15 dặm, bao quanh đồn dinh, cắt ngang đường bộ, để ngăn ngừa sự bất trắc”. Công trình thành lũy này có tên gọi là Bán Bích cổ Lũy, Lũy Bán Bích, còn có tên là Cựu Lũy, nối liền Thị nghè với Bến Nghé cả theo đường bộ lẫn đường sông, khống chế cả một vùng rộng lớn tương ứng với  khu vực Sài Gòn – Chợ lớn hiện nay.

2. Sau khi thế lực chúa Nguyễn bị Tây Sơn tiêu diệt, Nguyễn Ánh, một hậu duệ của chúa Nguyễn, ra sức bám giữ Gia Định, nuôi chí phục thù Tây Sơn. Trên cơ sở Lũy Bán Bích, vào năm 1779, Nguyễn Ánh cho gia cố, đắp cao thành lũy cũ. Đồng thời, ông phân định lại hành chính Gia Định. Phủ Gia Định được tổ chức thành 4 dinh và 1 trấn. Sài Gòn trở thành phủ sở của phủ Gia Định đồng thời cũng là trị sở của dinh Phiên Trấn. Dinh Phiên Trấn khi ấy từ đông sang tây cách 352 dặm, từ nam sang bắc cách 107 dăm, kiêm quản một huyện (Tân Bình) , gồm 4 tổng “ lỵ sở ở thôn Tân Lân, tổng Bình Trị, huyện Bình Dương.

 Năm 1790, Nguyễn Ánh cho đắp thêm một thành lũy mới trên nền cũ của đồn Tân Khai ( Đồn Đất, quận 1). “bắt đầu đắp thành Bát Quái hình như hoa sen, mở ra 8 cửa, có 8 con đường ngang dọc: từ đông đến tây là 131 trượng 2 thước ( 648 mét), từ nam đến bắc cũng đồng như thế; bề cao 13 thước ( hơn 6 mét), dưới chân dầy 7 trượng 5 thước (36,5 mét)…, hào thành rộng 15 trượng 5 thước (75,5 mét), sâu 14 thước ( gần 7 mét), xây cầu ngang qua; ngoài đắp lũy bằng đất, chu vi 707 trượng (3,8 km), rất là kiên cố, tráng lệ”. Thành Bát Quái còn được gọi là thành Quy là tòa thành tiêu biểu cho khí thế đang lên của thế lực Nguyễn Ánh, đồng thời cũng phản ánh tương quan thế và lực mới của vùng đất Gia Định. Để xây dựng công trình này, Nguyễn Ánh đã huy động hơn 3 vạn dân phu và thầy, thợ. Thành được xây theo kiến trúc kết hợp giữa lối kiến trúc Á Đông với kiến trúc Vauban của phương Tây. Hai người Pháp là Olivier và Lebrun trông coi việc xây dựng thành. “Trong thành, phía trước tả tiền, dựng Thái Miếu, giữa có dinh hành tại, phía tả có kho trừ tích, phía hữu có chế tạo cục; trại lính bố liệt xung quanh để quân túc vệ ở”.   

          Cùng với việc xây thành Bát Quái, Sài Gòn cũng được quy hoạch xây dựng với quy mô lớn hơn trước rất nhiều. Qua mô tả của sử liệu, về phía sông Sài Gòn, là hệ thống công xưởng như xưởng Chu Sư cũng gọi là Xưởng Thủy, dài đến 3 dặm ( nay là xưởng Ba Son). Rồi các công trình khác như Xưởng Voi, Trường thuốc súng, Khám đường và ngục sở, Sứ quán, Hải quan trường, Trường thi, Kho bốn trấn, Trường võ, Trường tiền… cũng được xây dựng.

          Hệ thống giao thông nối liền các thành lũy, các khu công xưởng và khu dân cư được mở mang, đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng, an ninh và yêu cầu phát triển kinh tế. Ngoài ba con đường thiên lý đã được xây đắp từ trước ( Cấn Chỉ đi về phía bắc, Tốn Thuận đi về phía nam, Đoài Duyệt đi về phía tây), Nguyễn Ánh còn cho mở mang thêm nhiều trục giao thông mới “ ngoài thành, đường xá, phố chợ, ngang dọc bài liệt đều có thứ tự”. Phía nam thành Bát Quái, đường phố mở lan tới bờ sông Bến Nghé, nối liền giao thông thủy bộ, tạo nên cảnh giao thương “ trên bến, dưới thuyền” tấp nập ngày đêm. Phía bên phải thành, đường phố nối dài thẳng tới bờ sông Thị Nghè và còn lan cả sang bên kia cầu Thị Nghè. Mặt hậu ( hướng bắc) là khu vực buôn bán sầm uất, nhà cửa, phố xá lan dài. Mặt hữu, phố xá lan tới đường Thiên lý đi Nam Vang (Campuchia). Xa về phía tây nam, là phố thị Sài Gòn ( tức Chợ lớn ngày nay) dân cư đông đúc, họp chợ suốt ngày đêm. Cảnh sinh hoạt kinh tế nhộn nhịp của Sài Gòn khi ấy đã được nhiều người phương Tây tận mắt chứng kiến không khỏi trầm trồ và như Lebrun – người đã góp công trong việc xây dựng thành Bát Quái - đã gọi Sài Gòn là thành phố “ de la ville de Saigon”.

          Có thể xem đây là đợt xây dựng quy mô lớn đầu tiên ở Sài Gòn, tạo động lực cho một quá trình đô thị hóa nhanh của trung tâm hành chính – quân sự và kinh tế lớn nhất của toàn vùng Gia Định.

2.     Bước sang thế kỷ XIX, nhà Nguyễn thu phục giang sơn, thống nhất chính quyền trên cả nước. Sài Gòn từ chỗ là “ Gia Định Kinh” của họ Nguyễn trước đây phải nhường vị trí trung tâm chính trị cho kinh đô Huế, để chỉ còn đảm nhận là thủ phủ của Gia định Thành. Từ năm 1801, sau khi thu phục Phú Xuân, Gia Long cho triệt hạ Thái Miếu ở thành Bát Quái, đem ra Huế. Quy mô của thành cũng bị thu hẹp so với trước.

          Vào năm 1830, thành Bát quái được Lê Văn Duyệt củng cố và đổi gọi là thành Quy nằm giữa bốn con đường hiện nay là: Đinh Tiên Hoàng (đông), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (tây), Lê Thánh Tôn ( nam), Nguyễn Đình Chiểu (bắc). Việc gia cố thành Quy của Lê Văn Duyệt là để đề phòng bất chắc của nạn ngoại xâm, chủ yếu là nguy cơ từ phía nước Xiêm. Song, việc lm ny của Lê Văn duyệt đã khiến vua Minh Mạng lo lắng cho là Duyệt “ đắp thành Phiên An, tiếm bằng Kinh thành ( Huế), hào thì đào sâu hơn. Nếu bảo thành cao hào sâu để phòng giặc Xiêm, thì đường bể phải phòng ở Hà Tiên, đường bộ phải phòng ở Chân Lạp … thế là rõ rằng phòng triều đình chứ không phải phòng ngoại hoạ!”. Điều lo lắng này cho thấy Minh Mạng nhìn nhận về việc phòng thủ đất phía nam có phần hạn hẹp, cũng như mối quan ngại của nhà vua về thế lực của Lê Văn Duyệt.

Sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, với quan điểm thành quách ở địa phương phải nhỏ hơn thành quách ở kinh đô, bất kể mục đích của thành đó là gì, vua Minh Mạng đã ra lệnh phá thành Quy vào năm 1835, để xây dựng thành Gia Định mới ( còn gọi là thành Phụng). Triều đình bắt binh dân 4 tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường “ cả thảy 10.000 người tới đắp trong 2 tháng thành đắp xong”. Sách Đại Nam nhất thống chí, phần  tỉnh Gia Định, cho biết thêm chi tiết:  “ Thành tỉnh Gia Định chu vi 429 trượng, cao 10 thước 3 tấc, hào rộng 11 trượng 4 thước, sâu 7 thước có 4 cửa. Thành mới nằm ở góc đông bắc thành cũ.”

Theo cách định hướng cổ, thì thành Phụng đúng là nằm ở góc đông bắc thành Qui cũ. Trên bản đồ thành phố hiện nay, thành Phụng nằm trong khung 4 con đường: Nguyễn Du là mặt tiền, Nguyễn Đình Chiểu mặt hậu, Nguyễn Bỉnh Khiêm mặt tả và Mạc Đĩnh Chi mặt hữu. Cửa Tiền nằm hướng ra đường Tôn Đức Thắng, cửa Hậu nhìn ra đường Đinh Tiên Hoàng, cửa Tả, Hữu đều nhìn ra Nguyễn Thị Minh Khai. Quy ra mét, thành Phụng có chiều kích như sau: Chu vi:1.960m; mỗi cạnh 490m; tường thành cao 4m70; hào rộng 52m07, sâu 3m19.

Về địa điểm của thành Phụng, sách Đại Nam Thực lục ghi ở thôn Hoà Mỹ, còn sách Đại Nam Nhất Thống chí lại ghi ở thôn Nghĩa Hoà. Hiện tại, thôn Hoà Mỹ còn ngôi đình khá cổ kính trong hẻm Hoà Mỹ ở góc đường Đinh Tiên Hoàng với Võ Thị Sáu (quận1). Về thôn Nghĩa Hoà thì không để lại dấu vết gì, nhưng cũng có thật (chứ không phải viết nhầm từ Hoà Mỹ) vì còn có “trường thi ở địa phận thôn Nghĩa Hoà” gần thành Phụng. Nghĩa là thành Phụng vừa nằm trên địa phận thôn Hoà Mỹ vừa nằm trên  thôn Nghĩa Hoà (Hoà Mỹ ở phía hậu còn Nghĩa Hoà ở phía hữu thành).

Tường thành Phụng có lẽ xây bằng vật liệu của thành Qui tháo gỡ ra. Cũng là những viên đá ong Biên Hoà dài 40 cm, rộng 35 cm, dày 16 cm, hoặc nhỏ hơn đôi chút; cũng là những viên gạch “thất thốn” dài 28 cm, rộng 14 cm, dày 7 cm, rất rắn chắc; hồ vữa có pha mật mía nên hết sức bền. Chỉ nhìn kiểu cách của cầu và cổng thì thành Phụng làm theo lối Á Đông; nhưng xem kỹ cách đặt 4 pháo đài ở 4 góc thì thành Phụng vẫn tham bác kiểu bố phòng Vauban của Tây Phương. Thành Phụng nhỏ hơn thành Qui nhiều, tuy nhiên, cũng đủ chỗ làm lỵ sở cho các quan đầu tỉnh, làm trại lính phòng thủ và làm kho dự trữ lương thực, đạn dược,…

Thành Phụng thực không tương xứng với vị trí đầu sóng ngọn gió của Sài Gòn ở miền Nam Đông Dương và toàn bộ vùng Đông Nam Á. Triều đình đã chủ quan áp chế, hạ thấp chức năng tự nhiên đó của Sài Gòn bằng cách xây thành Phụng quá nhỏ (cũng như bạt thấp tường thành Hà Nội xuống chỉ còn cao hơn 3m) “cho hợp với thể chế”, nghĩa là không để cho bất cứ đâu có thành trì so sánh được với kinh thành Huế. Vì thế, sau này Pháp đã dễ dàng hạ được thành Phụng vào ngày 17/2/1859 và chỉ 20 ngày sau Pháp đã cho nổ tung toàn thể tường thành cùng các pháo đài bằng 32 khối mìn.                            

Tuy vị trí và vai trò chính trị bị mất, song, Sài Gòn vẫn là một trung tâm kinh tế phồn thịnh vào bậc nhất nước khi ấy. Sài Gòn không chỉ phát triển nông nghiệp, mà nhiều trung tâm thủ công nghiệp, trung tâm thương mại đã rất phát triển. Như nghề thủ công, ở Sài Gòn có thôn chuyên làm nghề gốm, có thôn chuyên làm đinh, rồi thôn đan buồm, thôn đúc đồng, thông làm nghề nhuộm… . Về thương nghiệp có vô số chợ lớn nhỏ, như ghi chép từ Trịnh Hoài Đức: chợ bến Nghé với “phố xá trù mật”, chợ Cây Da Còm “ buôn bán suốt ngày”, chợ Bến Thành sầm uất hai bên kênh Sa Ngư, có đò ngang, cầu ván, “ phố ngói, hàng hóa tụ tập rất nhiều, dọc sông thương thuyền đậu liên tiếp”, chợ Thị Nghè trên bến dưới thuyền, rồi chợ Tân Kiểng, chợ Quán, Chợ Nguyễn Thực, chợ Bình An… Ở các chợ, theo mô tả của du khách người Anh là Finlayson, có mặt ở Sài Gòn vào năm 1821 thì: gà, vịt, thịt heo, thịt sấu… đã nhiều lại rẻ, gạo trắng cá tươi, cá khô, thuốc lá, hạt tiêu, đường, dao, kéo, đinh, sơn, buồm, chiếu, sừng v,v… không thể kể xiết, và trầu cau thì không thấy ở đâu nhiều bằng xứ này. Trịnh Hoài Đức cũng mô tả: trong các cửa tiệm bày bán gấm, đoạn, đồ sứ, giấy mực, sách vở, châu báu, thuốc men, trà lá… “ không thiếu món gì”.

Đặc biệt, Sài Gòn còn là một thương cảng lớn của khu vực. Từ đây, lúa gạo được thương lái chất lên thuyền đem bán cho nhiều nước ở Đông Nam Á, Trung Quốc. Ngoài người Việt, Sài Gòn còn là nơi tụ hội, lui tới của đủ mọi thành phần dân cư: Hoa, khmer, Ấn, Âu…            

Về mặt dân cư Năm Gia Long thứ 17 ( 1819), nhà Nguyễn cho xét dân cư ở các trấn. Kết quả thống kê cho biết 5 trấn của Gia Định có tổng cộng 97.100 xuất đinh, dân số khoảng gần 700.000 người. Riêng trấn Phiên An có 28.200 xuất đinh và số dân vào khoảng 180.000 người. Sài Gòn khi ấy có chừng 60.000 dân, phân bố trong các thôn xóm thuộc tổng Bình Trị, tổng Dương Hoà ( huyện Bình Dương) và tổng Tân Phong (huyện Tân Long). Sách Gia Định thành thông chí  của Trịnh Hoài Đức đã liệt kê đầy đủ số thôn phường, lân, ấp của các tổng đó gồm: Long Hưng thôn, Tân Phước phường, An Hoà lân, Tân Thuận lân, Tân Hội lân, Tân Mĩ lân, Tân Khánh lân, Tân Thạnh lân, Tân Phú lân, Tân Thới lân, Tân Lộc lân, Tân Định lân, Nhơn Hoà lân, Tân Khai thôn, Hoà Mĩ thôn, Mỹ Hội thôn, Tân An thôn, Phú Nhuận thôn, Bình Hoà thôn, An Nhơn thôn, Vĩnh Khánh thôn, Tân Thạnh thôn, An Bình thôn, v v… (thuộc tổng Bình Trị); Mỹ Hoà thôn, Tân Thuận thôn, Thuận Kiều thôn, Tân Thới Nhì thôn, Tân Kiểng thôn, Bình An phường, Vĩnh Khánh thôn, Tứ Xuân thôn, Tân Vĩnh thôn, Phú Mĩ Tây thôn, v.v… (thuộc tổng Dương Hoà); Bình Tây thôn, Bình Đăng thôn, Bình Tiên thôn, Tân Hoà thôn, Tân Phú Đông thôn, Tân Phú Lâm thôn, Tân Tạo thôn, Tân Phú Đông điếm, v.v…(thuộc tổng Tân Phong)… Các thôn, phường, lân, ấp này đều được ghi chép cẩn thận là những đơn vị hành chính có địa phận, có ruộng đất, có sổ đinh riêng và phải đóng thuế chánh nạp. Ngoài ra, còn có hạng người biệt nạp, biệt tính, có xâu thuế mà không có tên trong sổ đinh gọi là ngụ cư. Lại có nhiều danh mục hộ khẩu đều chưa gồm vào đây. Các hộ làm nghề thủ công, những đội đi lấy dầu sơn, những người ở trên thuyền để chuyên chở hay ở phố chợ để buôn bán, những ngoại kiều hay người Minh hương… chính quyền không nắm chắc, vì vậy họ cũng được liệt vào hạng dân ngụ cư và đóng thuế biệt nạp.

Như vậy, trên thực tế dân số Sài Gòn đầu thế kỷ XIX cao hơn nhiều so với số kê khai trong sổ sách của chính quyền. Và số liệu chính xác về dân số Sài Gòn lúc bấy giờ là điều khó xác định được. Song, chắc chắn, dân số Sài Gòn như số liệu nói trên cho biết cũng đã là rất đông. Điều này cũng trùng với nhận xét của nhiều người ngoại quốc có mặt ở Sài Gòn khi ấy. Chẳng hạn như Finlayson cho rằng dân số Sài Gòn ước có khoảng từ 10 đến 15 vạn người, hoạt động ở hai thị trấn lớn và 40 thôn.

Thành phần dân Sài Gòn ở giai đoạn này đã khá phức tạp. Sự phân hoá giai cấp bắt đầu diễn ra khá mạnh và nhanh. Người giàu, kẻ nghèo cách biệt nhau khá đậm. Sự so sánh cũ mới đã khá rõ nét. Cũ là những thành phần sinh trưởng ở thành phố từ một vài đời, mới là những người nhập cư vào từ miền Bắc hay miền Trung kể từ khi cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn chấm dứt. Thành phần người Hoa ở Sài Gòn cũng bắt đầu có sự phân chia khá phức tạp. Nhóm Minh Hương có mặt từ rất sớm đã hội nhập vào với cộng đồng người Việt gần như hoàn toàn; các nhóm đến sau còn gọi là Thanh kiều hay Hoa kiều chia ra thành nhiều bang khác nhau. Sài Gòn còn là nơi quy tụ các thành phần tộc người rất đa dạng đến từ nhiều khu vực trong và ngoài nước như: các thành phần tộc người thiểu số, người phương Tây, người An Độ, người Mã Lai, người Khmer… do đó, Sài Gòn cơ bản là nơi cư trú của người Việt Nam, nhưng đồng thời cũng là địa bàn sớm mang sắc thái quốc tế.

Là một trung tâm dân cư và kinh tế lớn, Sài Gòn đầu thế kỷ XIX cũng sớm xuất hiện những vấn đề xã hội phức tạp. Các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, thuốc phiện, trộm cướp… đã khá trầm trọng. Triều đình đã phải ban hành các luật lệ “ bỏ thuế cờ bạc”, “cấm nha phiến”, trừng trị nặng các vụ trộm cướp, nhưng tệ nạn vẫn không thuyên giảm. Giữa năm 1821, vấn đề “trộm cướp ở Gia Định” được đem ra bàn bạc giữa triều đình. Vua Minh Mạng hỏi triều thần: “Đất Gia Định vốn sợ Lê Văn Duyệt, sao trộm cướp ngày càng nhiều thế?”. Quan hữu quân Nguyễn Văn Nhơn tâu rằng: “Đất ấy nhiều nơi bụi rậm, đầm lầy, trộm cướp dễ nhóm họp, huống chi dân đất ấy không biết chứa để, ngoài việc cấy lúa, không trồng trịa gì, ngộ năm mất mùa, thời không giữ lòng thường được”. Để đối phó với tình hình này, triều đình thường dùng các biện pháp hành chính không mấy hiệu quả như những kẻ trộm cướp phần nhiều đều không có tên trong sổ, nay cho biên tên vào sổ để tiện kiểm soát. Đầu năm 1822, quan thành Gia Định tâu xin: gần đây, những án trộm cướp ở hạt thành, phần nhiều là dân cùng lậu sổ, nay xin cho dân lậu sổ được tục dân đinh.

 

     Trong gần ba thế kỷ, từ một vùng đất hoang nhàn, Sài Gòn qua bàn tay và khối óc của các thế hệ người Việt, Hoa, Khmer… tiên phong đi mở đất đã nhanh chóng trở thành một đô thị lớn của Nam bộ và của đông Nam Á.

Du khách người Anh là Finlayson, có mặt ở Sài Gòn vào năm 1821 đã nhận xét rằng mỗi cái trong hai thị trấn của Sài Gòn khi ấy là Bến Nghé ( Sài Gòn) và Sài Gòn ( Chợ Lớn) đều đã to lớn bằng kinh đô Băngkok của nước Xiêm rồi, và  “ nhà cửa rộng lớn, thích hợp với phong thổ. Mái lợp ngói. Cột điều mộc. ván thì trét lên sườn tre rồi tô bề lên. Nhiều nhà cao cẳng, sàn bằng ván, xếp hàng dọc theo bờ kênh, bờ sông, hay theo đường cái rộng lớn thoáng đãng. Phố xá ngang hàng thẳng lối hơn là nhiều kinh thành châu Âu”.

Một đặc điểm lớn của các đô thị Việt Nam thời trung đại là được hình thành do nhu cầu hoạt động hành chính trên cơ sở xuất phát điểm là một xã hội nông nghiệp chứ không phải từ hoạt động công thương nghiệp. Khởi nguyên, triều đình đầu tư xây dựng cung điện, dinh thự, chuyển bộ máy quan lại, binh lính đến ở và kéo theo gia đình, họ hàng thân tộc, làng xóm cùng đến. Nơi nhà vua đóng đô có xây thành lũy gọi là đô hoặc thành, do yêu cầu về mọi mặt phục vụ bộ máy hành chính và quân đội nên ở ngoài thành hình thành các chợ (thị) để mua bán, trao đổi, đô thị ra đời từ đó. Vì thế các đô thị thực chất là những đô thị hành chính mang tính chất tự cấp, tự túc của nền sản xuất nông nghiệp. Một đô thị đóng kín.

Đô thị Sài Gòn thế kỷ XVII – XIX đã được hình thành không theo hướng trên, mà nguồn gốc của nó là một đô thị thương nghiệp với chức năng chính là tiêu thụ và trao đổi sản phẩm tích hợp từ  nông nghiệp. Với vị trí địa lý nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam bộ và đồng bàng sông Cửu Long trù phú, điều kiện giao thông thủy, bộ thuận lợi, những nông dân từ buổi đầu khai hoang, mở đất đã biến các sản phẩm nông nghiệp thành hàng hóa thương nghiệp cung cấp cho nội vùng và cho các quốc gia khác trong vùng. Từ đó, hoạt động mua bán nơi đây trở thành hoạt động chủ yếu, khiến  Sài Gòn nhanh chóng trở thành thị trường đầu mối tiêu thụ sản phẩm tích hợp từ nông nghiệp của cả khu vực Nam bộ, một đô thị thương nghiệp của nông nghiệp.

     Sự phát triển của đô thị Sài Gòn các thế kỷ XVII – XIX là nền tảng quan trong và vững chắc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa trong thời cận đại tiếp sau đó.

----------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Văn Giàu (chủ biên) - Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh,

2. Trịnh Hoài Đức - Gia Định thành thông chí, Viện Sử học, NXB Giáo dục, 1998.

3. Quốc sử quán triều Nguyễn - Ñaïi Nam nhaát thoáng chí, phaàn  tænh Gia Ñònh.

4. Quốc sử quán triều Nguyễn – quốc triều chính biên toát yếu.

5. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam - Đô thị cổ Việt Nam, Viện Sử học, Hà Nội 1989.

6. Sở Văn hóa và Thông tin TP. Hồ Chí Minh- Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 300 năm hình thành và phát triển 1698-1998, 1999.

7. 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, nxb Chính trị quốc gia, 1998.

8. Viện nghiên cứu xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Đô thị hóa ở Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn lịch sử - văn hóa, kỷ yếu Hội thảo khoa học, TP. Hồ Chí Minh, tháng 4-2008.

----------------------------------

Chú thích :

(1) Trần Văn Giàu - Lược sử thành phố Hồ Chí Minh ,1987, tr.237

(2) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam - Đô thị cổ Việt Nam, Viện Sử học, Hà Nội 1989, tr. 339.

(3) Trịnh Hoài Đức - Gia Định thành thông chí, Viện Sử học, tr. 86

(4) Trịnh Hoài Đức - Gia Định thành thông chí, sđd, tập hạ, tr.74.

(5) Trịnh Hoài Đức - Gia Định thành thông chí, sđd, tập hạ, tr.74

(6) Ñaïi Nam nhaát thoáng chí, phaàn  tænh Gia Ñònh

(7) Quoác trieàu chính bieân toaùt yeáu, tr. 115.

(8) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam - Đô thị cổ Việt Nam, Viện Sử học, Hà Nội 1989, tr. 350

Cập nhật ( 02/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online