Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow NGÀY TẾT ĐẶC BIỆT DƯỚI TRIỀU VUA THÀNH THÁI
NGÀY TẾT ĐẶC BIỆT DƯỚI TRIỀU VUA THÀNH THÁI PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
02/02/2009

NGÀY TẾT ĐẶC BIỆT DƯỚI TRIỀU VUA THÀNH THÁI

* Lê Nguyễn

Trong lịch sử chế độ quân chủ tại Việt Nam, chuyện lên ngôi vào đúng những ngày Tết Nguyên Đán như trường hợp của vua Thành Thái là điều hiếm có. Vị hoàng thân có cái tên dễ nhớ Nguyễn Phúc Bủu Lân mới lên 10 tuổi, đang sống trong cảnh thanh bần như một thứ dân bổng nhiên được kiệu hoa đến tận nhà rước vào cung để làm lễ tấn phong ngay trong dịp Tết. Điều bất ngờ thú vị này nghe đâu xuất phát từ một giai thoại chỉ được truyền tụng trong chốn cung đình…

Vua Đồng Khánh băng hà vào ngày 26 tháng 12 năm Mậu Tý (1889), hoàng tử tưởng là Nguyễn Phúc Bửu Đảo (vua Khải Định sau này) cưa đầy 4 tuổi. Việc tìm một người khác trong hoàng tộc lên kế vị được quần thần nhất trí và cuối cùng người ta chọn hoàng thân Bửu Lân, con của ông Dục Đức, người được vua Tự Đức chỉ định lên kế vị, nhưng chưa kịp làm lễ tấn phong thì đã vị phế bỏ. Quần thần không thể chọn một ông hoàng tử 4 tuổi, nhưng rồi lại chọn một hoàng thân 10, cái tuổi còn quá non nớt để nắm lấy việc triều chính, quả cũng có điều đáng ngờ. Chính vì thế, lúc bấy giờ tại Huế, người ta truyền tụng một giai thoại về việc này. Nguyên ông Bửu Lân có một người cô ruột (em gái vua Dục Đức) là công nữ Thiện Niệm lấy chồng là ông Diệp Văn Cương, từng du học tại Pháp, lúc đó đang làm thông ngôn tại tòa trú sứ Huế. Một hôm, các hoàng thân trong Tôn nhơn phủ và đại thần ở Cơ Mật viện kéo sang Tòa trú sứ hỏi ý kiến Tổng trú sứ Rheinart về việc chọn người kế vị vua Đồng Khánh. Một người trong phái đoàn đề nghị Rheinat cho ý kiến nên chọn ai, ông Cương lại dịch ra tiếng Pháp là: “Triều đình muốn cử hoàng thân Bửu Lân lên kế vị, vậy ý quan Tổng trú sứ như thế nào?”.

Rheinart trả lời nếu triều đình đã trọn thì ông cũng thỏa thuận như thế và ông Cương lại dịch ra tiếng Việt: “Theo ý tôi, triều đình nên chọn hoàng thân Bửu Lân kế vị”. Không rõ chuyện kể trên có bao nhiêu phần trăm sự thật, nó vĩnh viển trở thành một giai thoại không thể kiểm chứng được bằng các sử liệu chính thức.

Sau đó, theo đề nghị của Khâm thiên giám, triều đình chọn ngày mồng một Tết Kỷ Sửu (1889) làm ngày tôn ông Bửu Lân lên địa vị Tân quân. Hôm ấy, Tổng trú sứ Rheinart cùng tùy tùng qua cung điện thông báo cho tân quân biết việc Tòa trú sứ công nhận ông là vua nước Việt Nam. Lễ đăng quang chính thức diễn ra vào ngày mồng hai Tết điện Thái Hòa. Người ta kể rằng vị tân quân 10 tuổi mặc hoàng bào, mang đai ngọc, có một thái giám theo sau nâng vạt áo nhưng cũng vất vả lắm mới bước được lên mấy tầng cấp để ngồi vào ngai vàng. Tuy vậy, với nước da ngâm đen và đôi mắt sáng quắc, tân quân tỏ rõ tư chất của một con người cương nghị và sớm trưởng thành.

Tân quân lấy niên hiệu Thàn Thái, có hai phụ chánh là thân thần là hoàng thân Tuy Lý Công Miên Trinh và Hoài Đức Công Miên Lâm cùng hai phụ chánh là đại thần Nguyễn Trọng Hợp và Trương Quang Đản. Nhân dịp trọng đại này, vua Thành Thái ban ân chiếu gồm tất cả 18 điều đồng thời phong tước cho các giới chức đứng đầu bộ máy thuộc địa Pháp tại Đông Dương : Phong Toàn quyền Đông Dương Richaud tước hộ quốc công, Tổng trú sứ Rheinart tước hộ quốc công, sau có lẽ do phía Pháp không vừa ý, lại cải phon Richaud tước Phù quốc quận vương và Rheinart tước Lạng quốc quân vương.

Từ đó, triều đình ban hành lệ : cứ mỗi năm sắp đến ngày Tết Nguyên Đán, quan lại các địa phương từ cấp Kinh lược đại sứ đến Quản đạo lập biểu chúc mừng gửi về triều đình. Biểu mang nội dung qui định sẵn:

“Chúng tôi là Kinh lược đại sứ, các Tổng đốc, Thần phủ, Đề đốc, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh và Quản Đạo ở…cúi lạy kính cẩn dâng lời chúc mừng về dịp Tết Nguyên đán. Sân rồng án thụy, bàu ngọc màu xuân. Tiết dương hòa Đan bệ đủ ân quang, việc khang thái Thanh Phiên thêm cảnh sắc. Chúng tôi khôn xiết hân hoan, kính cẩn dâng tờ biểu chúc mừng này. Trộm nghĩ chín bệ vốn dòng đế thất, rạng rỡ thay truyền thống nhà vàng. Tam vương nối trị đời xuân thịnh vượng bởi mở đầu năm sớm…

…Chén quỳnh chúc khán, hướng Thần kinh ba tiếng tung hô, chúng tôi khôn xiết lòng vui mừng ca tụng, kính dâng hạ biểu tâu lên…

Ngày mồng một tháng giêng năm Thành Thái…kính dâng”.

Trong dịp khánh tiết Nguyên đán diễn ra tại Huế vào năm Thành Thái thứ 16 (104), một viên chức Pháp là A. Raquez đã kể lại trong tạp chí Revue Indochinois xuất bản cùng năm đó buổi lễ mà ông ta đã được tham dự theo phái đoàn của khâm sứ Huế Auvergne. Lễ diễn ra tại điện Thái Hòa vào đúng ngày mồng một Tết. Sáng sớm, trên khoảng sân rộng lát đá trước điện, binh lính tham gia buổi lễ đã tề tựu đông đủ. Họ đứng im, bất động như những pho tượng, tay cầm những lá cờ đủ màu sắc, gươm kiếm sáng lòa dưới nắng ban mai. Dàn nhạc cung đình với kèn, sáo, chiêng trống cũng đã chuẩn bị xong, chờ buổi lễ khai diễn.

Ở hai bên sân điện là đàn voi với những cạp ngà dài bọc khoen vàng, mang trên lưng những tấm vải thuê có tua cũng màu vàng. Giữa sân điện, chín tấm bảng đá được cắm cách đều nhau là chỗ đứng của các quan lại từ nhất phẩm đến cửu phẩm. Quan văn xếp hàng bên phải, quan võ bên trái. Tất cả đều mặc triều phục. Người đừng đầu hàng văn quan là Đông các đại học sĩ Nguyễn Sinh Đăng, mặc áo màu hồng cam. Đứng kế sau vị Đông các đại học sĩ là các quan trong Cơ mật viện: Thượng thư bộ Lại Nguyễn Thuật, Thượng thư bộ Công Đào Tấn (nhà soạn tuồng nổi tiếng đất Bình Định), Thượng thư bộ Binh Hồ Lê và Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh, tất cả đều mặc triều phục màu tím nhạt. Sau nữa là các quan chức còn lại mặc áo màu xanh dương. Ở hàng đầu phía võ quan, người ta đặt một chiếc chiếu tượng trưng chỗ đứng của viên Thống ch6e` đã mất cách đó ít lâu nhưng chưa có người thay thế. Các võ quan khác mặc áo màu hồng cam hay màu đỏ với những đường viền to màu xanh lục.

Tại ngõ vào điện Thái Hòa, hai người anh, em của nhà vua đang túc trực cùng hai vị Đô ngự sử của Đô sát viên. Khạm sứ Huế Auvergne đến tham dự lễ Tết Nguyên đán trên một cỗ xe tứ mã sang trọng. Ông ta cùng đoàn tùy tùng đi vào điện bằng cửa giữa. Thông lệ cửa này dành riêng cho nhà vua đã bị phá bỏ cách đó gần 20 năm, khi viên tướng Pháp De Courcy vào triều kiến vua Hàm Nghi vào tháng 7 năm 1885. Phái đoàn Pháp tiến theo hai nhạc công cung đình vừa đi vừa tấu nhạc bằng cụ là cây sáo.

Lúc đó, vua Thành Thái đã được rước ra điện, ngồi sẵn trên ngai vàng. Ngài thong thả đứng dậy tiếp phái đoàn đại điện chính phủ Pháp đến dự lễ và nghe khâm sứ Auvergne đọc bài diễn văn chúc mừng: “Thưa Bệ hạ, tôi đến đậy nhân danh Chíng phủ Cộng hòa Pháp, Ngài Toàn quyền Đông Dương và tất cảnhững người Pháp có mặt ở Annam, xin gửi đến Bệ hạ những lời chúc thịnh vượng và hạnh phúc…”

Khi khâm sứ Pháp đọc xong bài diễn văn, vua Thành Thái đã cầm sẵn trên tay một tấm thẻ ngà có ghi bài diễn văn đọc trong buổi lể. Ngài đọc khe khẽ, từ tốn. Quan chưởng vệ Ngô Đình khả (thân sinh của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu…)lớn tiếng dịch bài diễn văn ra tiếng Pháp.

Đọc xong bài diễn văn, nhà vua ngồi xuống ngai vàng. Từ cuối sân điện, dàn đồng ca cung đình cất tiếng hát, lúc đầu nhỏ, sau to dần vang vọng cả một khu vực rộng. Rồi bổng nhiên, tất cả đều im bật. Một viên quan tuyên cáo đứng ngất ngưởng trên lưng voi hô to từng tiếng Bái (lạy), Hưng (đứng dậy) kế tiếp nhau 10 lần, mỗi lần như thế, tất cả quan binh  có mặt làm theo lời tri hô, đồng bộ, nhịp nhàng. Sau mỗi lần lạy, các ca sĩ cung đình lại hô vang những lời chúc tụng.

Cuối cùng, một quan chức cao cấp của bộ Lễ tiến trước ngai vàng, tâu: “Khánh hạ lễ thành”. Vua Thành Thái bước xuống ngai vàng trong lúc dàn đồng ca cung đình cất cao tiếng hát.

Đình thần còn ở lại điện Thái Hòa chờ rước ân chiếu của nhà vua ra và tuyên đọc. Cuối cùng, ân chiếu được long trọng rước đi đến Phu Văn lâu và niêm yết tại đó trong ba ngày Xuân cho mọi người cùng xem./.

Cập nhật ( 02/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online