Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow CÁC NGÀY LỄ TẾT CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM (Lê Hoàng Linh)
CÁC NGÀY LỄ TẾT CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM (Lê Hoàng Linh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
02/02/2009

CÁC NGÀY LỄ TẾT CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM

* Lê Hoàng Linh sưu tầm

Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Ðán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Ðây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau... và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới.

Tết Nguyên Ðán

Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Ðán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Ðây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau... và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới. Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, Tết Nguyên Ðán trước hết là tết của gia đình. Chiều 30 tết, nhà nhà làm lễ cúng "rước" gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà.

- Thứ nhất là cuộc "gặp gỡ" của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư - vị tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.

- Thứ hai là cuộc "gặp gỡ" tổ tiên, ông bà... những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết.

- Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu làm gì... hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.

Tết Khai Hạ

Theo cách tính của người xưa, ngày mùng Một tháng Giêng ứng vào gà, mùng Hai - chó, mùng Ba - lợn, mùng Bốn - dê, mùng Năm - trâu, mùng Sáu - ngựa, mùng Bảy - người, mùng Tám - lúa. Trong 8 ngày đầu năm cứ ngày nào sáng sủa thì coi như giống thuộc về ngày ấy cả năm được tốt. Vì vậy, đến mùng Bảy, thấy trời tạnh ráo thì người ta tin cả năm mọi người sẽ gặp may mắn, hạnh phúc. Mùng Bảy kết thúc Tết Nguyên Ðán thì cũng là lúc bắt đầu Tết Khai Hạ - Tết mở đầu ngày vui để chào mùa Xuân mới.

Tết Thượng Nguyên

Tết Thượng Nguyên (Tết Nguyên Tiêu) vào đúng rằm tháng Giêng - ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền vì Rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Thành ngữ: "Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng" xuất phát từ đó. Sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cỗ.

 

Tết Hàn Thực

"Hàn thực" nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này, vào ngày mùng Ba tháng Ba (âm lịch). Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, Công tử Trung Nhĩ (về sau là vua Tấn Văn Công) khi gặp cảnh loạn lạc, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình nấu dâng cho ăn. Sau 19 năm phiêu bạt, Trung Nhĩ lại trở về nắm giữ vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đã cùng mình nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi! Tử Thôi đưa mẹ vào sống ở núi Ðiền. Lúc vua nhớ ra, cho người tới mời mà không được. Vua sai đốt rừng để Tử Thôi phải ra. Nhưng Tử Thôi không chịu và hai mẹ con cùng chết cháy! Ðau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi. Hôm ấy đúng ngày mùng Ba tháng Ba. Người đời thương Tử Thôi nên mỗi năm, đến ngày đó thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn.

Từ thời Lý (1010 - 1225) nhân dân ta đã tiếp nhập Tết này và thường làm bánh trôi, bánh chay để thay cho đồ nguội. Nhưng mục đích chủ yếu là để cúng gia tiên chứ ít ai rõ chuyện Giới Tử Thôi! Hiện nay, Tết này vẫn còn đậm nét ở miền Bắc, nhất là tại các vùng thuộc tỉnh Hà Tây.

Tết Thanh Minh

Thanh Minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh (truyện Kiều)

"Thanh minh" có nghĩa là trời trong sáng. Nhân có người ta đi thăm mồ mả của những người thân. Tết Thanh Minh - thường vào tháng Ba âm lịch - trở thành lễ tảo mộ. Ði thăm mộ, nếu thấy cỏ rậm thì phát quang, đất khuyết lở thì đắp lại cho đầy... rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên.

Tết Trung Nguyên

Tết Trung nguyên vào Rằm tháng Bảy. Người xưa tin theo sách Phật, coi hôm ấy là ngày vong nhân được xá tội, ngày báo hiếu cha mẹ... nên tại các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu lan. Vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch có 2 ngày lễ cúng:

- Lễ cúng được truyền tụng lâu đời trong dân gian: "Tháng 7, ngày rằm xá tội vong nhân" (tha tội cho tất cả người chết), nhiều người gọi là cúng cô hồn các đảng. Quan niệm dân gian cho rằng đây là lễ cúng những linh hồn vật vờ lang thang không nơi nương tựa, không còn người thân ở trần gian để thờ phụng hoặc thất lạc, hoặc vì một oan khiên nào đó...

- Cũng ngày Rằm tháng Bảy còn có lễ Vu lan, xuất phát từ tích truyện Ðại Mục Kiều Liên. Vu lan được coi là lễ cầu siêu giải thoát cho ông bà cha mẹ bảy đời, xuất phát từ lòng báo hiếu. Trong những năm gần đây, trong lễ Vu lan còn có tục "Bông Hồng cài áo" thể hiện lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ.

Tết Trùng Cửu

Mùng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng Cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Thời Hán, có người tên gọi là Hoàn Cảnh, đi học phép tiên. Một hôm thầy bào Hoàn Cảnh khuyên mỗi người trong nhà nên may một túi lụa đựng hoa cúc, rồi lên chỗ cao mà trú ngụ. Quả nhiên, ngày Chín tháng Chín có lụt to, ngập hết làng mạc. Nhờ làm theo lời thầy, Hoàn Cảnh và gia đình thoát nạn. Từ xưa, nho sĩ nước ta đã theo lễ này, nhưng lại biến thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc - gọi là thưởng Tết Trùng Dương.

Tết Trùng Thập

Ðây là Tết của các thầy thuốc. Theo sách Dược lễ thì đến ngày Mười tháng Mười, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết được sắc tứ thời, trở nên tốt nhất. ở nông thôn Việt Nam, đến ngày đó người ta thường làm bánh dày, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc chứ không quan tâm mấy đến chuyện cây thuốc, thầy thuốc!

Tết Hạ Ngươn

Tết Hạ Ngươn (Tết Cơm mới) vào Rằm hay mùng Một tháng Mười. Ở nông thôn, Tết này được tổ chức rất lớn vì đây là dịp nấu cơm gạo mới - trước để cúng tổ tiên, sau để tự thưởng công cày cấy.

Tết Táo Quân

Tết Táo Quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua. Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá, phải bỏ nhau. Sau đó, người vợ lấy được chồng giàu. Một hôm, đang đốt vàng mã ngoài sân, thấy một người vào ăn xin, nhận ra chính là chồng cũ nên người vợ động lòng, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng mới biết chuyện, nghi ngờ vợ. Người vợ đâm khó xử, lao vào bếp lửa tự thiêu. Người chồng cũ nặng tình, cũng nhảy vào lửa chết theo. Người chồng mới ân hận, đâm đầu vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm "vua bếp". Từ tích đó mới có tục thờ cúng "Táo quân" và trong dân gian có câu: "Thế gian một vợ một chồng, không như vua bếp hai ông một bà". Ngày nay cứ đến phiên chợ 23 tháng Chạp hàng năm, mỗi gia đình thường mua hai mũ ông, một mũ bà bằng giấy và 3 con cá làm "ngựa" (cá chép hóa rồng) để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và 3 con cá chép được mang thả ở ao, hồ, sông...

Không khí Tết nhộn nhịp bắt đầu kể từ ngày "tiễn Táo Quân về chầu trời vào ngày 23 tháng Chạp (tức ngày 23 tháng 12 Âm Lịch). Theo tục cổ truyền của người Việt thì Táo Quân gồm hai ông và một bà, tượng trưng là 3 cỗ "đầu rau" hay "chiếc kiềng 3 chân" ở nơi nhà bếp ngày xưa. Vào ngày nói trên, Táo Quân sẽ lên thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Đế (Ông Trời) Táo Quân cũng còn gọi là Táo Công là vị thần bảo vệ nơi gia đình mình cư ngụ và thường được thờ ở nơi nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp nữa. Táo Quân quanh năm ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua Bếp "phù trợ" cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu Trời rất là trọng thể. Lễ vật cúng Táo Công gồm có mũ ông Công ba cỗ (ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà). Mũ dành cho các Táo ông thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy. Màu sắc của mũ, áo hay hia ông Công thay đổi hàng năm theo ngũ hành. Thí dụ:

- Năm hành kim thì dùng màu vàng

- Năm hành mộc thì dùng màu trắng

- Năm hành thủy thì dùng màu xanh

- Năm hành hỏa thì dùng màu đỏ

- Năm hành thổ thì dùng màu đen

Những đồ "vàng mã" này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Công. Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo Quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo Quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!

Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc nước ta người ta còn cúng một con cá chép hãy còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý "cá hóa long" nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông táo về trời. Con cá chép này sẽ được "phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng). Ở miền Trung thì người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì giản dị hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ. Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc...) để tiễn Táo Công. Sự tích Táo Quân bắt nguồn từ Trung Hoa, truyện đã được "Việt Nam hóa" với nhiều tình tiết khác nhau. Tuy nhiên, các câu chuyện vẫn nói lên "tình nghĩa yêu thương" giữa một người vợ và hai người chồng cũ và mới. Chính vì những mối ân tình đó mà ba người đều nhảy vào lửa quyên sinh… Thượng Ðế thông cảm mối tình sâu nghĩa đậm này đã cho làm Vua Bếp ở các gia đình... Bài vị thờ Vua Bếp thường được ghi vắn tắt là "Định Phúc Táo Quân" nghĩa là thần định mọi sự hạnh phúc của con người.

Tết Trung Thu

Theo lịch pháp cổ đại Trung Quốc thì tháng tám âm lịch tháng giữa thu gọi là trọng (trọng có nghĩa là "ở giữa"). Ngày rằm tháng 8 là ở giữa trọng thu vì thế gọi là Trung Thu tiết hay Trọng Thu tiết. Ðêm Trung Thu trăng sáng tỏa khắp trần gian, mọi người ngắm trăng tròn vành vạnh như chiếc mâm ngọc tự nhiên liên tưởng đến sự đoàn tụ. Những người xa quê nhìn trăng sáng mà như muốn gửi gắm tình cảm nhớ nhung của mình về với người thân, do đó người ta còn gọi Tết Trung Thu là Tết Ðoàn Viên. Theo ghi chép của sử sách, các vua chúa cổ đại trước thời Tần Hán quy định mùa xuân thì tế thần mặt trời và mùa thu thì tế thần mặt trăng. Thời Tần Hán rất coi trọng phong tục này. Ðến đời Ðường việc tế trăng lại càng được coi trọng. Thời Minh Thanh (từ thế kỷ 13 cho đến đầu thế kỷ 20), Nguyệt Ðàn ở Bắc Kinh là nơi để Hoàng đế bái trăng. Thời Từ Hy Thái Hậu của nhà Thanh, mỗi lần Tết Trung thu thì ở Di Hòa Viên (Bắc Kinh) tổ chức lễ bái trăng rất linh đình, trọng thể. Bánh dùng để bái trăng thường rất to, trên mặt có hình cung Quảng Hàn, cây quế và hình ảnh Hằng Nga. Sau khi làm lễ bái trăng xong, bánh và hoa được đem phân phát cho các phi tần, thái giám và thị nữ trong hoàng cung.

Trong dân gian, phong tục tế trăng Trung Thu cũng rất đa dạng. Ðúng giờ ngắm trăng vui Tết, tất cả phụ nữ đều trở về nhà để dự buổi "đoàn viên". Mọi người trong nhà uống rượu đoàn viên, ăn bánh đoàn viên và ăn cơm ngắm trăng. Bánh đoàn viên tức là bánh Trung Thu ngày nay. Việc cử lễ ngắm trăng thì thời Ngụy Tần đã có. Mỗi khi đến ngày này, các tửu lầu đều được trang hoàng rực rỡ. Ngoài việc tế trăng, ngắm trăng, ở tỉnh An Huy, thiếu niên nhi đồng còn tổ chức "múa rồng cỏ". Ở nông thôn Quảng Ðông có phong tục tổ chức đêm hoa đăng, dùng giấy màu, giấy bóng để làm nên hình dạng con cá, con tôm có thắp đèn cầy bên trong rất rực rỡ. Bên ngoài đèn nổi bật dòng chữ "Chúc mừng Trung Thu" và "Hoa đẹp trăng tròn".

Ăn bánh Trung Thu là nội dung quan trọng của ngày Tết Trung Thu. Bánh Trung Thu thời xưa làm rất nhỏ gọi là "tiểu binh" (bánh nhỏ), hoặc "cam binh" (bánh ngọt), vốn là lễ vật để dâng lên thần mặt trăng. Theo sử sách thì kinh thành Tràng An đời Ðường đã có tiệm bánh Trung Thu. Ðến đời Tống thì việc làm bánh Trung Thu rất thịnh hành và các tiệm bánh xuất hiện khắp kinh thành.

Còn Tết Trung Thu ở nước ta, có lẽ là được du nhập từ Trung Quốc vào qua các thời kỳ Bắc thuộc Tết Trung Thu với các tục tế trăng, ngắm trăng, ngâm thơ vịnh nguyệt chỉ giới hạn ở các bậc vua chúa và quan lại của triều đình phong kiến. Về sau, Tết Trung Thu mới được phổ biến ra ngoài dân gian. Tục ăn Tết Trung Thu rất thịnh hành dưới thời Pháp thuộc. Các tỉnh thành đều có múa lân, trẻ con vui chơi với các loại đèn Trung Thu như đèn cá trắm, đèn trái ấu, đèn kéo luân, đèn ông sao...được người lớn phát cho quà bánh gọi là bánh Trung Thu. Từ đầu tháng Tám âm lịch, ngoài phố chợ đã có màu sắc Trung Thu. Lồng đèn, kẹo, bánh, được bày bán la liệt trong các cửa hiệu rực rỡ ánh đèn. Người mua lẫn người đi xem, đông như hội.

Tết Trung Thu được sửa soạn với những cỗ đèn muôn mầu, muôn hình dáng, những bánh hình mặt trăng, mà ta gọi là bánh trung thu, tức là bánh nướng và bánh dẻo. Đến tối, trẻ em thắp lên, nào là đèn ông sao, đèn hình thú vật, đèn xếp, đèn lồng... rồi kéo nhau đi từng đoàn ca hát vui vẻ. Vào hai đêm 14 và rằm âm lịch, nhiều đám múa sư tử, còn được gọi là múa lân, với tiếng trống, tiếng thanh la diễn ra rất náo nhiệt. Trẻ em thì thường rủ nhau múa lân ngay từ mùng 7 mùng 8 cho vui. Rồi đến những cuộc rước đèn, và nhiều nơi mở cuộc thi đèn nữa. Và để thưởng trăng, có rất nhiều cuộc vui được bày ra. Người lớn có những cuộc thi cỗ, thi làm bánh của các bà các cô; tết Trung Thu ở miền Bắc còn có những buổi hát trống quân, đôi bên nam nữ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai, hoặc dây thép căng trên một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng "thình thùng thình" làm nhịp cho câu hát. Những câu hát vận, hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc đối đáp nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc, nhưng rất vui.

Người Việt ăn tết Trung Thu phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện kể rằng đầu thế kỷ thứ tám, vào một đêm rằm tháng tám âm lịch, vua Đường Minh Hoàng dạo chơi vườn Ngự Uyển. Đêm Trung Thu, trăng tròn và rất trong sáng. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn, còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ này có phép màu, đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, vua Đường thưởng thức cảnh tiên và du dương trong âm thanh huyền diệu. Các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y màu sắc rực rỡ, múa hát quanh ông. Trời gần sáng, đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn luyến tiếc cảnh tiên. Về tới hoàng cung, vua còn vương vấn nên đặt ra khúc Nghê Thường Vũ Y. Cứ đến đêm rằm tháng tám, vua Đường Minh Hoàng lại cùng với Dương Quý Phi uống rượu dưới trăng, ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Và ngài ra lệnh cho dân chúng tổ chức rước đèn, mừng đêm rằm này hằng năm.

Tết Trung Thu thoạt đầu là lễ hội của người lớn để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, ăn bánh, và uống trà ngắm trăng rằm vào giữa tiết thu. Dần dần, tết Trung Thu trở thành tết của trẻ em tuy nhiên, người lớn cũng dự phần trong đó. “Thằng Cuội” là bài hát không thể thiếu trong mỗi dịp Trung Thu. Nhân vật này của huyền thoại Việt Nam, các em đã nghe qua các bài hát, câu vè, qua ca dao, sách vở. Thy Nga xin trích bài sau đây của Nguyễn Dư viết về chuyện “Thằng Cuội”, các em nghe nhé. Chú Cuội bị gọi là thằng, có lẽ vì Cuội hay lừa dối, chuyện gì cũng dối quanh dối quẩn. Chuyện cổ tích kể rằng một hôm vào rừng đốn củi, gặp ổ hổ con, Cuội lấy rìu đập chúng. Chợt có tiếng hổ mẹ rống ở đằng xa, Cuội sợ quá leo tót lên cây, nấp. Hổ mẹ lồng lộn quanh đám hổ con, rồi ra bờ suối, đến cạnh một cái cây nhỏ, nhai lá rồi về rịt cho hổ con. Chỉ lát sau, hổ con tỉnh lại, mẹ con hổ bỏ đi chỗ khác. Cuội thấy thế, ra đào cây con mang về trồng trong vườn. Từ khi có thuốc cải tử hoàn sinh, Cuội thay đổi tính tình, ra tay cứu người. Cuội rất quý cây thuốc, ngày nào cũng dặn vợ phải chăm sóc, và không được tiểu vào gốc cây. Nghe căn dặn nhiều lần, vợ Cuội phát cáu, đồng thời tò mò, thử làm vậy, xem chuyện gì xảy ra. Cô ta tiểu vào gốc cây thì cây bỗng rung động, tróc gốc bay lên trời. Vừa lúc Cuội từ rừng về, bám rễ cây níu lại, nhưng cây cứ bay lên, kéo Cuội tới tận mặt trăng. Từ đó đến giờ, Cuội vẫn còn ngồi bên gốc cây trên cung trăng. Có người lại ghen khi thấy Cuội được sống gần người đẹp Hằng Nga, như Tản Đà trong bài thơ "Muốn làm thằng Cuội":

Đêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi

Cung quế đã ai ngồi đó chửa

Cành đa, xin chị nhắc lên chơi

Có bầu có bạn, can chi tủi

Cùng gió cùng mây, thế mới vui

Rồi cứ mỗi năm, rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm ấy sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.

Mỗi năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán, trên bàn thờ mọi gia đình người Việt đều bày mâm ngũ quả. Với màu sắc rực rỡ, hình dáng độc đáo cùng những ý nghĩa sâu xa, mâm ngũ quả làm cho ngày Tết sinh động hơn, thiêng liêng hơn... Theo quan niệm của người phương Đông xưa, thế giới được tạo nên từ 5 bản nguyên - gọi là "ngũ hành": kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa (lửa), thổ (đất). Tư tưởng cùng hình ảnh "ngũ hành" xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của các dân tộc phương Đông với rất nhiều biểu hiện - một trong số đó là tục lệ thờ mâm ngũ quả ngày Tết của người Việt Nam.

Mâm ngũ quả truyền thống của người Việt thường chỉ gồm 5 loại quả, được xếp kiểu hình tháp lên đĩa to hoặc mâm, đặt trên bàn thờ. Ngày nay, cuộc sống hiện đại cùng sự giao lưu phong tục làm cho mâm ngũ quả ít nhiều biến đổi: số quả có thể nhiều hơn 5, cách xếp tự do hơn, trang trí hoa lá, cắm nến để tạo ánh sáng, kết những dây đèn điện tử nhiều màu xung quanh...Tất cả các loại quả trong dịp Tết đều có thể đem bày: chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quýt, dừa, na, trứng gà, hồng xiêm, táo v.v...Mỗi loại quả mang một ý nghĩa riêng: nải chuối, phật thủ như bàn tay che chở; bưởi, dưa hấu căng tròn, mát lành hứa hẹn năm mới đầy ngọt ngào, may mắn; hồng, quýt rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt...

Mâm ngũ quả ở miền Bắc nhìn chung nhỏ hơn mâm ngũ quả ở miền Nam và không thể thiếu 3 loại quả: chuối, bưởi, quýt (hoặc cam). Mâm ngũ quả miền Nam thì khó có thể thiếu cặp dưa hấu và 4 loại quả: mãng cầu (na), dừa, đu đủ, xoài, bởi vì cầu - dừa - đủ - xoài theo tiếng người miền Nam có nghĩa là "cầu vừa đủ xài" - mong ước phổ biến nhất của họ trong năm mới! Một số nhà lại bày thêm trên mâm ngũ quả bình thường một chùm sung và quả đu đủ với ngụ ý cầu mong cuộc sống gia đình sẽ luôn "đầy đủ, sung túc".

Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hòa với màu xanh mát của dưa hấu, đỏ rực của hồng, nâu mịn của hồng xiêm, vàng tươi của bưởi, cam, dứa...Nó thể hiện sinh động ý nghĩa triết học - tín ngưỡng - thẩm mỹ ngày Tết cùng những ước vọng lạc quan mà mỗi gia đình mang theo khi bước vào năm mới.

Dân tộc ta có nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ lễ tiết. Có Tiết Thương Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu... Ngày tết nêu ở đây tức là nói tắt Lễ tiết Nguyên Đán (ngày đầu năm). Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như: khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ đến già ai ai cũng biết, không nhắc thì thanh thiếu niên cũng mua cho được cành hoa, bánh pháo, nghèo cũng có chiếc bánh chưng, chai rượu. Vì vậy, chúng tôi xin miễn liệt kê dài dòng, chỉ trao đổi một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.

Tống cựu nghênh tân: cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, đình chùa, đường sá phong quang, tắm giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.

Nhiều gia đình nhắc nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không quấy khóc, không nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy, không vứt rác viết vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở dầu lạ dầu quen.

Đối với bà con xóm giềng dù trong năm cũ có điều gì không hay không phải, điều nặng tiếng nhẹ hay xích mích gì đều xúy xóa hết. Dầu có thực lòng hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít phút trước, nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta chúc nhau những điều tốt lành.

Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi: Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khỏe tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ. Lộc tự nhiên đến, đi hái lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa, ở chốn tôn nghiêm mang về nhà), tự mình xông nhà hoặc dặn trước người "nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Bạn nào vinh dự được người khác mời đến xông thì nên chú ý, chớ có sai hẹn sẽ xúi quẩy cả năm đối với gia đình người ta và cả đối với bạn. Ở thành thị thời trước, sáng mồng một, có một số người nghèo gánh một gánh nước đến các gia đình giầu có lân cận và chúc họ "lộc phước dồi dào". Những người này được thưởng tiền rất hậu. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng phải dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay đổ tại mình "nặng vía". Chính vì vậy, đáng lẽ sáng mồng một đông vui lại hóa ít khách, trừ những nhà đã tự xông nhà, vì tục xông nhà chỉ tính người đầu tiên đến nhà, từ người thứ hai trở đi không tính.

Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết: Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khỏe là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên húy gia tiên, tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi và quan hệ thân thuộc. Chúc Tết những người trong năm cũ gặp rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "của đi thay người", "tai qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Kể cả đối với người phạm tội vẫn với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.

Quanh năm làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu, chẳng tốn kém là bao. Hiềm một nỗi, nhiều người còn quá câu nệ, công thức ruờm rà, không chủ động được kế hoạch. Nhiều vùng nông thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó để chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị giông cả năm.

Quà Tết, lễ Tết: Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Loại trừ động cơ hối lộ quan trên để cầu danh cầu lợi thì việc biếu quà Tết, tổ ân nghĩa tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết đó không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Dân tộc ta tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "lời chào cao hơn mâm cỗ".

Lễ mừng thọ: Ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thập tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.

Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ẩn, học trò sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, Thương "tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "khai nghề", "làm lấy ngày". Nếu như mùng một là ngày tốt thì chiều mùng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mùng một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.

Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hóa vàng.

Tóm lại, ngày Tết là ngày tiêu biểu cho truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Giá như phát huy thuần phong mỹ tục đó, từ gia đình ra xã hội, ai ai cũng đối xử với nhau trên thuận dưới hòa, kính già yêu trẻ... thì đất nước quê hương sẽ tươi đẹp, giàu mạnh.

Cập nhật ( 02/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online