Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow BÁNH CHƯNG, BÁNH TÉT, BÁNH DÀY… XÔI VÀ CỐM (Huỳnh Ngọc Trảng)
BÁNH CHƯNG, BÁNH TÉT, BÁNH DÀY… XÔI VÀ CỐM (Huỳnh Ngọc Trảng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
02/02/2009

BÁNH CHƯNG, BÁNH TÉT, BÁNH DÀY… XÔI VÀ CỐM

* Huỳnh Ngọc Trảng

Sự tích suy nguyên về bánh chưng và bánh dày mà ngày nay chúng ta đều biết và xác tín là do Tiết Liêu/ Lang Liêu – một trong các người con của vua Hùng – làm ra là câu chuyện được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái, biên soạn hồi thế kỷ XV. Truyện kể rằng: Sau khi vua Hùng Vương phá được giặc Ân, nhân quốc gia vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi vị quan lang và công tử lại mà phán rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”.

Thế là các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp trên cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duy có vị công tử thứ 18 là Tiết Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, mắc bệnh mà chết, tả hữu ít người giúp đỡ, khó xoay xở, nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Các vật trên trời đất và mọi của quí của người không gì bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh và ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình đất và trời rồi dùng lá  bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”. Tiết Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói rằng: “Thần nhân giúp ta vậy!”.

Nói rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh, lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo cho sạch, lấy lá xanh bọc chung quanh làm hình vuông, cho trân cam mỹ vị vào bên trong để tượng trưng cho việc đại địa chứa chất vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh chưng. Lại lấy gạo nếp nấu chín, giã cho nát, nặn thành hình tròn, tượng trưng cho trời gọi là bánh dày.

Đến kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật dâng tiến. Xem qua khắp lượt, thấy không thiếu thức gì. Duy có Tiết Liêu chỉ tiến dâng bánh chưng và bánh dày. Vua kinh ngạc mà hỏi, Tiết Liêu đem giấc mộng thuật lại. Vua đem nếm, thấy ngon miệng không chán, hơn hẳn các thức của các con khác, tấm tắc khen hồi lâu rồi cho Tiết Liêu được nhất.Đến ngày Tết, vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước. (1)

Nói chung, câu chuyện này có một số chi tiết cần phải xem xét lại, bởi dù gì đi nữa thì là sản phẩm của các nhà Nho sống trong bối cảnh lịch sử – văn hóa thế kỷ XV.

1. Trước hết là khái niệm “Trời tròn đất vuông” vốn có nguồn gốc Trung Quốc (2). Từ thế kỷ thứ X, đất Đô hộ An Nam dần dần thoát li khỏi uy quyền phương Bắc và đến triều Lý (1009-1225), nước Đại Việt mới thực sự là một quốc gia độc lập. Rõ ràng là Phật giáo được coi là quốc giáo: tăng lữ tham gia vào hàng ngũ quan lại và các ông vua Lý, Trần đã tự mình đứng ra làm tổ các tông phái/ thiền phái: Lý Thánh Tông mở phái Thảo Đường, Trần Thái Tông mở phái Yên Tử, Lý Cao Tông tự xưng là Phật, Trần Thái Tông được tôn là Điều Ngự Giác Hoàng. Tuy vậy, một mặt, Phật giáo không cung cấp cho họ một lý thuyết quản lý nhà nước; và mặt khác, quá khứ tiếp nhận văn hoá phương Bắc khiến cho nhà nước Đại Việt độc lập vẫn tổ chức theo quan niệm vương quyền Nho giáo. Nội hàm của khái niệm Thiên Vương/ Phật-Vua (deva – rajah) tuy vậy vẫn còn thừa nhận là Thiên Tử. Ông vua Con Trời, như vậy, vẫn phải lưu tâm đến việc tế cáo Cha Trời/ Mẹ Đất cũng như phong thần các xứ (Thiên Tử phong bách thần) để tỏ rõ uy quyền với các thần linh trong nước. Đàn Xã Tắc lập năm 1048 và đàn Viên Khâu (Gò đất hình tròn; theo nguyên tắc đàn xây ở phía nam kinh thành để tế trời – gọi là đàn Nam Giao) và đàn vu phía nam kinh thành được nhắc tới vào các năm 1137, 1138 (3). Nói chung, việc tế Trời – Đất đến thời Lê mới thực sự hoàn bị theo qui phạm nghi lễ Nho gia, song khởi đi thế kỷ XI, việc dựng đàn tròn – đàn vuông để tế Cha Trời – Mẹ Đất đã cho thấy khái niệm “trời tròn – đất vuông” đã tồn tại trong nếp nghĩ ở nước ta, đặc biệt là các Nho sĩ. Chính vì thế, các tác giả Lĩnh Nam chích quái khi ghi lại sự tích bánh chưng bành dày đã gán cho hình tướng hai loại bánh này ý nghĩa biểu trưng cho trời đất.

2. Ở đây, rõ ràng là các tác giả Lĩnh Nam chích quái cũng khuôn công năng của loại bánh biểu trưng của trời đất này vào việc cúng tổ tiên để tôn vinh chuẩn mực hiếu đạo – một giá trị luân lý cốt lõi của Nho giáo, khi đặt vào miệng vua Hùng rằng các thứ dâng lên là “để tiến cúng tiên vương cho ta tròn đạo hiếu” và cuối truyện xác định: “Đến ngày Tết vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước…”  Tục cúng bánh chưng, bánh dày vào ngày Tết, từ câu truyện này, về sau được xác tín là tập tục ra đời từ thời Hùng Vương. Cái thực tại văn hóa này, coi ra tuồng như không hẳn là thực tại lịch sử, khi truy cứu từ các nguồn dữ liệu dân tộc học về vật phẩm cúng tế vào dịp Tết – một lễ nghi nông nghiệp gắn với chu kỳ mùa vụ trồng trọt lúa/ nếp.

Tết, xét từ nguyên uỷ là lễ thức/ lễ hội được tiến hành sau mùa gặt hàng năm hay bắt đầu mùa gieo cấy. Thời điểm này tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu thuỷ văn và tập quán canh tác của mỗi tộc người. Tết như vậy có chức năng kép: tạ ơn thần linh và tổ tiên về kết quả vụ mùa đã qua và cầu mong kết quả cho vụ mùa năm tới. Nói chung, các cư dân nông nghiệp luôn tiến hành một loạt nghi lễ theo các tiến trình phát triển của cây lúa. Với những lễ vật tương ứng.

-         Lúa vừa chín tới: lễ cúng/ ăn cốm.

-         Lúa chín gặt: lễ cúng Cơm mới.

-         Gặt xong đưa vào kho: lễ Mừng lúa mới với lễ vật là các thứ chế biến từ gạo tẻ/nếp: cơm,xôi, bánh…

Cốm là lễ vật phổ biến trong lễ cúng mừng lúa lúc đã cứng hạt. Cốm là sản phẩm chế biến bằng cách rang lúa/ nếp, giã cho dẹp lại và sàng sảy để bỏ trấu đi. Dữ liệu của nhà dân tộc học Từ Chi viết về loại cơm chul (cơm chùn), lễ vật trong dịp Ăn cơm mới củ người Mường, tuồng như đã hé mở cho chúng ta biết về nguyên uỷ của cốm: Lúa gặt ướt sũng, không có thời gian để phơi khô mới chuẩn bị làm lễ vật vì phải dâng lễ ngay để mọi người bắt tay vào gặt. Chỉ còn một cách là đem “rang” (có hạt bung ra) rồi giã nhẹ để tách vỏ. Gạo đó chế thành cơm chul (4). Lúa/ nếp rang nở bung ra mà người miền Bắc gọi là bỏng thì ở Trung bộ: (kể cả Nam bộ) gọi là nổ. Bánh nổ là lễ vật truyền thống vào dịp Tết ở Trung bộ và Nổ là lễ vật bắt buộc trong nhiều đám cúng việc lề ở Nam bộ. Phải chăng đó là di duệ của cốm và xa xưa hơn là cơm chul.

Cơm là lễ vật bó buộc trong lễ Cúng cơm mới của nhiều tộc người và cũng là lễ vật của nhiều lễ cúng khác. Tuy nhiên, vì sự quá bình thường của cơm nên cơm không được thế nhân coi là lễ vật thực sự như xôi. Rõ ràng trong nếp nghĩ phổ biến của nhiều tộc người, xôi là lễ vật bởi nó phải có trong các cuộc lễ mà hiếm hoi trong bữa ăn thường ngày. Gạo nếp quí hiếm hơn gạo tẻ là lí do khác. Nói chung, gạo là thức ăn chính của con người nên nó nên nó có ý nghĩa tượng trưng và thuộc về nghi lễ. Lúa gạo luôn được coi là có nguồn gốc thiêng liêng, là hạt ngọc trời; nó biểu trưng cho sự sung túc, sự sinh sản dồi dào, nhờ trời mới có và sự thanh khiết nguyên sơ. Nếp có hương thơm, hiếm hơn gạo tẻ nên được chọn làm lễ vật dâng cúng. Người Thái đồ/ nấu xôi có nhuộm màu: xôi đỏ tượng trưng cho Mặt Trời, xôi vàng tượng trưng cho Mặt Trăng (Tết Cầu mùa: Xíp Xì) (5) Người Nùng làm xôi bảy màu để “tượng trưng cho chặng đường lịch sử bảy tháng đầy ý nghĩa trong một năm đất trời xoay chuyển nhưng gắn liền với lịch sử dân tộc” (mỗi màu tượng trưng một tháng, từ tháng giêng đến tháng bảy) (6). Cơm cúng đơm vào chén/ bát, thậm chí còn nèn – gọi “chén cơm in”. Còn xôi đơm ra đĩa hay mâm, phổ biến từ “mâm xôi” luôn gợi cho ta hình ảnh của một sự vun cao lên tròn trịa và sung mãn, biểu thị cho sự phồn thực.

Từ xôi đến bánh dày chỉ là một bước ngắn: lấy xôi/ cơm nếp giã nát ra và vun lên thành mâm bánh dày. Loại bánh làm bằng gạo/ nếp như vậy vẫn là lễ vật “thanh khiết nguyên sơ” như cơm/ xôi. Người Chăm, lễ vật trong lễ Tết Rija Nưga có xôi, bỏng/ nổ và bánh đúc; người Dao trong Tết nhảy có lễ vật không thể thiếu là bánh bằng bột gạo nắn tròn treo tòng teng trên những cây mía đặt ở gian giữa bàn thờ Bàn Vương (8). Đó là hai ví dụ về hai loại bánh “tròn đầy”, thuộc thứ lễ vật được chế biến bằng bột gạo có phần công kỳ hơn bánh dày. Bánh dày không là đặc sản của người Việt. Nó là thứ lễ vật bó buộc, đã thành tục lệ, trong lễ Tết người Hmông là một ví dụ: “Bánh dày là hương vị không thể thiếu, một biểu tượng trên bàn thờ tổ tiên trong ngày Tết của người Hmông” (9).

Ở người Hmông Hang Kia, Pà Cò cũng có truyền thuyết suy nguyên về bánh dày của dân tộc mình. Nội dung truyền thuyết hoàn toàn khác với sự tích bánh chưng bánh dày của người Việt mà chủ ý là nói về nguồn gốc lúa nếp: Ông Tổ người Hmông lấy được từ xứ sở của người tí hon dưới lòng đất và hàng năm, người Hmông làm bánh dày để tưởng nhớ tổ tiên và tạ ơn con chim đại bàng đã cứu ông Tổ mình ngày xưa.(10) Một tập tục liên quan đến loại bánh dày này là trong mấy ngày đầu năm phải ăn bánh dày trắng, tuyệt đối không được nướng bánh dày. Nếu nướng, người Hmông cho rằng năm đó nương rẫy sẽ bị hạn hán. (11) Điều này cho chúng ta thấy: bánh dày theo người Hmông là biểu thị nương rẫy, là dất, nói rộng ra là “không gian sinh tồn” .

          3. Nói chung, như những dữ liệu dân tộc học dẫn ra trên đây, bánh dày là một lễ vật được hình thành trong một quá trình nhất định, khuôn theo một tâm thức thuần khiết từ quan niệm thiêng về gạo (tẻ và nếp) của cộng đồng các cư dân trồng/ tỉa lúa. Nó vừa là nhân vừa là quả của nền văn hóa lúa; ở đó, nó là biểu tượng của tín lý phồn thực hơn là tín lý tư biện về vũ trụ. Điều này cũng có phần tương tự đối với cái bánh chưng.

Xét về chất lượng/ nội dung thì bánh chưng và bánh tét là một, chúng khác nhau là ở hình tướng: một vuông và một là hình ống/ dài.

Rảo qua các dữ liệu dân tộc học, chúng ta thấy bánh chưng có ở người Việt miền Bắc, người Mường (gọi là pênh pang), người Thái (gọi là kháu tốm kích), người Tày, người Khmú (gần như bánh chưng tròn của người Tày)…

Báng tét có ở người Việt miền Trung, miền Nam, người Thái (cũng có bánh tét gọi là kháu tốm boóng cựa), người Hrê (gọi là bánh mau nhich), người Kadong, người Xinh mun… (12)

Nói chung, bánh chưng và bánh tét cùng tồn tại trong đại gia đình các dân tộc ở nước ta, thậm chí ngay trong từng tộc người (Thái, Việt…). Vấn đề đặt ra là tại sao cùng là một thứ bánh mà gói theo hai kiểu (thậm chí là ba kiểu – nếu kể thêm bánh ú, gói theo kiểu bánh ít “nóc chùa” – biểu thị cho phù đồ/ stupa của nhà Phật, có phần tương tự như  oản) để làm gì và kiểu nào ra đời trước?

Loại hình vuông/ bánh chưng là để tượng trưng cho trời – như Lĩnh Nam chích quái đã nói. Loại hình ống trước hết chúng ta thấy có cơm lam. Việc nấu cơm bằng cách vo gạo đổ vào ống tre tươi, nhét nút lại và đem đốt. Đến khi chín thì chẻ ống tre ra: có một đòn cơm để ăn. Đây là cách nấu cơm được coi là cổ xưa nhất – khi con người chưa làm ra nồi, niêu, bình, hũ gì cả. Hẳn cơm lam là mô hình tiền thân của bánh tét, bởi không có khả năng chứng minh là cơm lam không được dùng làm lễ vật dâng cúng vào thời kỳ chưa có nồi niêu để nấu cơm. Cứ theo logic này, bánh tét là một bước tiến hoá từ cơm lam: nó được gói bằng lá (lá dong hay lá chuối) thành một đòn bánh ống dài, nếp nhuốm màu lục từ lá gói (hay gạo nếp được nhuộm màu lấy từ cốt lá dứa, lá bồ ngót…) và ở giữa có nhân như bánh chưng. Ở đây có mấy điều cần lưu ý về ý nghĩa biểu tượng của bánh tét:

Một là, việc gói bánh là bó lại, tức đưa cái đa thể về nhất thể, tích hợp nhiều yếu tố thành một tổng thể có ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh nảy sinh từ sự kết hợp/ thống nhất: tiềm ẩn năng lực nở tung ra vô vàn mầm sống;

Hai là, màu lục là màu của thế giới cỏ cây tự khẳng định lại mình, là màu của sự ấm áp, của biểu hiện sự hồi sinh, mùa xuân đang về;

Ba là, hình ống/ tròn dài của bánh tét tự nó là biểu tượng của dương vật, bản nguyên chủ động biểu thị cho sức mạnh sinh sản (13). Trong thời gian điền dã ở vùng Khmer Nam Bộ, tôi được một vi à-cha (thầy lễ) nói nhỏ vào tai rằng bánh tét là “cái đó của Preah Ầy-Xô” (Preah Ầy-xô là thần Siva). Trong “ngôn ngữ giang hồ”, chúng ta cũng thường được nghe đám đàn ông kháo nhau về một người nào đó là “Bánh tét không có nhưn”, để chỉ các bậc mày râu nam tử thuộc loại “cường quốc không có vũ khí hạt nhân”! Đằng sau lớp nghĩa minh dụ thông tục là lớp nghĩa xác định: bánh tét là sinh thực khí nam.

Nói tắt lại, bánh tét là một lễ vật được tạo tác từ tín lý phồn thực của cư dân nông nghiệp, cụ thể là cư dân cấy/ tỉa lúa/ nếp. Một cách hiển nhiên tín lý phồn thực có tuổi đời cổ xưa hơn quan niệm tư biện về “trời tròn đất vuông” của sự tích bánh dày và bánh chưng. Nói cách khác bánh tét là thứ lễ vật ra đời khá sớm, chí ít là trước khi khái niệm “trời tròn đất vuông” của phương Bắc được các Nho sĩ  xứ ta cài đặt vào bộ nhớ của họ để “sưu tầm và biên soạn” các truyền thuyết dân gian theo một lập trình tư tưởng… mới. Điều luôn cần lưu ý là văn hoá/ sản phẩm văn hoá thường không thoát ly khỏi tư tưởng về văn hoá của thời đại mà chúng được sản sinh. Do vậy, tục dùng bánh chưng bánh dày làm lễ vật cúng tổ tiên hẳn chưa chắc là ra đời từ thời vua Hùng: chúng có thể ra đời muộn hơn (hoặc có thể sớm hơn không chừng)

 

Chú thích

(1) Vũ Quỳnh – Kiều Phú: Lĩnh nam chích quái. Đinh Gia Khánh chủ biên/ Nguyễn Ngọc San biên khảo-giới thiệu, In lần thứ hai. Nxb. Văn Học, H., 1990,tr 56-58.

(2) Việc này được nói trong nhiều sách vở. Ở đây, xin xem:

- Thời cổ Trung Quốc có những lý luận chủ yếu nào về vũ trụ / Trong sách Lịch sử văn hóa Trung Quốc. (Nxb Cổ tịch Thượng Hải). Bản dịch của Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi. Nxb Văn Hoá – Thông Tin, H; 1999, tập II, tr 110-114

- Tiêu Mạc: Kiến trúc Trung Quốc (Tủ sách Văn hoá – nghệ thuật Trung Quốc) /Bản dịch của Mai Chi, Nxb Thế giới, H, 2002.

(3) Lý Tế Xuyên : Việt điện u linh, / Bản dịch của Trịnh Đình Rư, Nxb Văn học, H, 1972, tr 47 (Truyện Thiên tổ địa chủ xã tắc đế quân), tr 81-82 (truyện Ứng thiên hoá dục nguyên trung hậu thổ điạ kỳ nguyên quân)

(4) Trần Từ: Người Mường ở Hoà Bình. Hội KHLS xb, H, 1996, tr 193; 341. (Phụ chú P1)

(5) Vũ Thị Hoa: Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 1997,tr 88-89

(6) Trần Hữu Sơn (chủ biên): Lễ hội cổ truyền Lào Cai. Nxb Văn hoá dân tộc, H; 1999. tr 84-85.

(7) Ngô Văn Doanh: Tết năm mới cổ truyền của người Chăm (lễ hội Rija Nưgar)/ trong Tết năm mới ở Việt Nam. Nxb Văn hoá – thông tin, H; 1999, tr 141

(8) Nguyễn Hữu Thức: Xuân Tết với ngưới Dao Đeo Tiền (Hòa Bình)/ trong Tết năm mới ở Việt Nam, sđd, tr 151.

(9) (10) Nguyễn Hữu Thức: Tết cổ truyền của người Hmông tỉnh Hoà Bình. sđd, tr 171-172.

(11) Nguyễn Hữu Thức, bài đã dẫn, tr 184.

(12) Chúng tôi dựa vào và đối chiếu từ các dữ liệu của một số sách, bài báo đã công bố. Ở vấn đề này, xem Vũ Thị Hoa, sđd, phần người Thái (tr 75-76) và phần phụ lục (tr 171-275)

(13)Xem J. Chevalier và A. Gheerbrant: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Nxb Đà Nẵng, 1997, tr 92, 265, 534-538, 778-779.

Cập nhật ( 02/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online