Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow XUỒNG BA LÁ Ở CÀ MAU (Nguyễn Thi)
XUỒNG BA LÁ Ở CÀ MAU (Nguyễn Thi) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/02/2009

XUỒNG BA LÁ  Ở CÀ MAU

* Nguyễn Thi

Có thể nói, hàng trăm năm qua, từ ngày cha ông đi mở đất cho đến nay, chiếc xuồng luôn giữ một vị trí quan trọng đặc biệt trong đời sống của cư dân vùng cuối trời tổ quốc này. Thế nhưng, trong sự phát triển vũ bão của khoa học - kỹ thuật và sự tàn phá rừng đầu nguồn của con người, xuồng gỗ dần được thay thế bằng xuồng vật liệu tổng hợp (composite). Chiếc xuồng ba lá, năm lá và những trại xuồng dần vắng bóng và tương lai không xa, nó sẽ trở thành huyền thoại. Chiếc xuồng có mặt ở khắp đồng bằng sông Cửu Long, nơi nổi tiếng có nhiều sông rạch chằng chịt. Như ở xứ sở U Minh Hạ này, chiếc xuồng là phương tiện giao thông đường thủy với nhiều ưu thế.

Người dân địa phương dựa vào đây để khai thác vận chuyển, đi lại thông suốt, từ đó các trại ghe xuồng nơi đây mọc lên ở nhiều bến sông, từ thị thành đến các ngã ba sông thị trấn. Xuồng rất đa dạng và phong phú với nhiều kiểu loại, tên gọi khác nhau, người thợ căn cứ vào đặc điểm chức năng và phương thức hoạt động mà sản xuất, rồi từ đó nó được phân chia thành những tên gọi khác nhau.

1. Các loại xuồng tiêu biểu ở Cà Mau

Theo Huỳnh Tịnh Của, xuồng có loại phổ biến như: xuồng ba lá, xuồng năm lá, xuồng tam bản, xuồng vỏ gòn, xuồng độc mộc, xuồng chèo, xuồng máy

Xuồng ba lá là tên gọi dựa trên cấu tạo của loại xuồng được ghép bởi ba tấm ván. Gồm có hai tắm ván be và một tấm ván đáy, để thân xuồng được cứng chắc, người ta dùng những chiếc cong (gọi là công xuồng), chia khoảng cách cho phù hợp để tạo thành bộ khung mô phỏng bộ xương sườn của cá. Bộ cong này góp phần cứng chắc cho thân xuồng, chống đỡ sức ép của nước từ bên ngoài vào, đồng thời giữ chặt thân xuồng, giúp xuồng không bị biến dạng.

Dưới các thanh cong, người thợ sáng tạo ra cách khoét lõm hình bán nguyệt, mà người ta còn gọi là “lổ lù” hay “lổ công xuồng”, để thông nước giữa các khoang xuồng với nhau đồng thời giúp cho việc tát nước được dễ dàng, không mất công tát theo từng khoang. Mũi và lái xuồng ba lá có hình dạng không khác gì nhau, khác chăng chỉ là ở kích cỡ bộ ván sạp mà thôi.

Ngoài những chi tiết trên, xuồng còn có dầm (cây dầm), bổ chèo, cột chèo, dây chèocặp chèo. Xuồng ba lá có chiều dài trung bình 4m, rộng 1m, cao khoảng 25cm, sức chở từ 34 người, dùng dầm hoặc chèo để đi lại trên sông rạch.

Các tay thợ xem chiếc xuồng ba lá là một mẫu chuẩn, từ đó phát triển thành các loại xuồng với kích cỡ khác nhau: xuồng be bảy, be tám, be chín, be mười, be mười thước, be mười kèm (còn gọi be mười chụp vó).

Xuồng be mười thướcxuồng be mười kèm có khác nhau đôi chút. Xuồng be mười thước có chiều dài từ 7m trở lên, rộng 1,2m, có cả bổ chèo trước và sau, đặc biệt loại xuồng này đi lại bằng máy ít khi dùng chèo. Còn với xuồng be mười kèm, người thợ chỉ thêm vào thanh gỗ và tấm ván tăng chiều cao, nhằm tăng trọng tải. Cả hai loại xuồng này có cùng trọng tải từ 1-2 tấn, giúp cho việc vận chuyển, đi lại trên sông nước an toàn hơn.

Xuồng năm lá dài 5-6m, rộng từ 1,2m trở lên, dáng thon thả. Xuồng có hai loại mũi: mũi “nhọn” giống như xuồng ba lá và mũi “vỏ” hai bên có hai mắt ghe, giữa có nút hình chuồn (bài Tây) hay mỏ neo, sức chở từ 1-2 tấn .  

Xuồng tam bản mũi và lái hơi bầu, có loại 2 bổ chèo và có loại 4 bổ chèo, số lượng tấm ván be  không chỉ có 3 mà có thể là 5,7 hoặc 9 tấm, có gắn bổ máy, kích cở có nhiều loại. Loại xuồng này thường xuất hiện ở các bến chợ, ngã ba sông, đặc biệt khu vực chợ Nổi (theo hướng đông đi về huyện Năm Căn, Đầm Dơi thuộc địa phận khóm 8 - phường 7 – TP.Cà Mau)

Theo bài khảo cứu “Ghe xuồng ở Nam Bộ” của tác giả Nguyễn Thanh Lợi, còn có thêm xuồng vỏ gòn (giống vỏ trái gòn) kích thước nhỏ, kết cấu đơn giản (giàn đà, cong và ván be), kiểu dáng gọn nhẹ, chủ yếu để đi lại, chuyên chở, trao đổi buôn bán.

Xuồng độc mộc (ghe lườn) do người Khmer làm bằng cách chẻ dọc thân cây thốt nốt, khoét rỗng ruột hoặc mua xuồng độc mộc thân gỗ sao, sến ở Campuchia và Lào.

Xuồng câu tôm giống kiểu xuồng độc mộc của người Khmer, dùng giăng câu thả lưới ở ven sông cạn rạch nhỏ.

Xuồng bơi (hai máy chèo) lớn hơn xuồng tam bản.

Xuồng máy gắn máy nổ và chân vịt như xuồng máy đuôi tôm là loại phương tiện rất cơ động, phổ biến ở vùng sông nước này, nhất là trong giới thương hồ.

2. Làng nghề đóng xuồng Cà Mau

   

Ở Cà Mau, nghề đóng xuồng ba lá là một trong những nghề xuất hiện sớm và không ngừng phát triển để tạo nên những sản phẩm phẩm phục vụ cho nhu cầu đi lại của cư dân vùng sông nước này.

Theo tác giả Huỳnh Minh, thì “từ cuối thế kỷ 18, ở Đồng Nai đã có nghề đóng và sửa chữa tàu thuyền. Do thuyền của người Trung Hoa đến buôn bán ngày càng nhiều, thuyền bị hư, bị rò rỉ phải sửa chữa, cộng với nhu cầu vận chuyển đường thuỷ ngày càng lớn trên vùng đất này mà nghề đóng xuồng ra đời. dần dần các tay thợ đóng thuyền có tay nghề cao, đã xuất hiện và phát triển lan rộng ra khắp miền lục tỉnh”.

Tài liệu sưu khảo của Huỳnh Minh cho biết, khoảng năm 1968 ở Cà Mau đã có trên 30 trại đóng xuồng ba lá. Sách Minh Hải địa chí (1985) của Trần Thanh Phương mô tả: “ đi trên sông rạch ở Minh Hải (nay là Cà Mau), nhất là những vàm  sông lớn, ngã ba sông hoặc những thị trấn ven sông, người ta dễ dàng nhận ra những “trại xuồng”. Ở đó có nhiều người thợ lành nghề đóng xuồng ghe. Đây cũng là một nghề “cha truyền con nối”. Nhiều người thợ 7080 tuổi vẫn còn cầm cưa, cầm đục hướng dẫn cho con cháu…”

Dọc theo bờ sông Gành Hào, thuộc địa bàn phường 8 (TP. Cà Mau), từ ngã ba Chùa Bà chảy dài cho đến ngang bến tàu A là nơi tập trung rất nhiều trại xuồng, hình thành cả một làng nghề đóng xuồng.

Theo bác Chín Hải (Võ Thanh Hải) cư ngụ khóm 3-phường 8-Trương Phùng Xuân TP Cà Mau cho biết: ông là người tỉnh ngoài vào Cà Mau mưu sinh lập nghiệp. Vốn có tay nghề khá, ông tìm được nơi đất lành chim đậu, đó là nơi ngã ba sông này, thuận tiện cho việc buôn bán ghe xuồng. Làng nghề đóng xuồng nơi đây có từ năm (1955), số lượng ban đầu chỉ có 5-6 trại xuồng (Đặng Phát Lợi – Tính Thành – Tân Phát Lợi – Nghĩa Hoà – Vĩnh Thuận…), đa số các tay thợ từ Đồng Nai hay Ngã Bảy (Phụng Hiệp, Hậu Giang). Lúc đó nghề này làm ăn ra tiền, kẻ bán người mua tấp nập, cho nên các trại xuồng mọc ra ngày càng nhiều. Các trại liền vách với nhau, đi từ đầu làng đến cuối làng đâu đâu cũng nghe tiếng của máy cưa, tiếng đóng đinh của búa.

Theo anh Quốc Việt, con chủ trại xuồng Tư Dân, trước nơi đây có khoảng 30-40 trại xuồng nhưng ai nấy vẫn đều khắm khá. Còn bây giờ chỉ còn 4-5 trại mà việc buôn bán rất ế ẩm, có khi cả tuần mới bán được một chiếc. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do cây gỗ ngày càng hiếm, giá cả lại cao, đôi khi phải mua ván từ Campuchia, Lào mang về. Hiện nay, một số công ty trong nước và ngoài nước đã cho ra đời loại xuồng composite, một loại nhựa hoá học có sức chịu đựng bền bỉ, dáng xuồng gọn nhẹ, màu sắc bắt mắt, có sức cuốn hút người mua, giá thành chỉ hơn xuồng gỗ vài trăm nghìn, sử dụng ngay mà không cần phải trét chai hay lấp vò (lấp vò là dùng một loại keo nhựa lấp đều cả hai mặt xuồng, để chống thấm nước, mối mọt, kéo dài tuổi thọ lâu thêm).

 3. Vai trò của chiếc xuồng ba lá trong đời sống cư dân

Xuồng ba lá là người bạn đồng hành, cũng có thể nói là người bạn đời thuỷ chung, son sắt, gắn bó với con người trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của vùng sông nước này.

Xưa kia, nơi đây kênh rạch chằng chịt, rừng rú um tùm, địa hình bị chia cắt, giao thông đường bộ kém phát triển thì chiếc xuồng là loại phương tiện đắc dụng và phù hợp nhất. Hay nói chính xác hơn là một loại công cụ thích hợp trong cả sinh hoạt và sản xuất.

Xuồng ba lá là sự lựa chọn tuyệt vời để khắc phục hoàn cảnh, đối phó với môi trường tự nhiên. Sự gắn kết của nó đối với con người nơi đây được ví như một bộ phận không thể tách rời của cơ thể. Không có xuồng người dân nơi đây ví như bị “cụt chân”. Có thể nói, chiếc xuồng đã gắn bó với cư dân nơi đây từ thuở thiếu thời cho đến lúc già.

Chiếc xuồng có mặt từ nơi thị tứ đô hội cho đến chốn kinh cùng, từ đầu nguồn đến cuối bãi, nơi giáp nước, ngã ba sông, dọc ven biển…Người dân nơi đây dùng xuồng đi mua bán, thu hoạch nông sản, đánh bắt tôm cá trên sông cho đến đi thăm người quen. Xuồng đã gắn bó với dòng sông bến nước, mái che (còn gọi rạp xuồng) nắng mưa nơi đây như gắn bó với cuộc đời họ từ lúc sinh ra, lớn lên, đi lại, học hành, se duyên thành vợ thành chồng. Ở vùng quê U Minh Hạ, Thới Bình nhiều cụ già cho biết từ lúc sinh ra họ đã nằm trong xuồng, rồi sau này đi học, đi chơi, đi chữa bệnh, đi đám cưới, đám hỏi và cả đi thăm người yêu. Như trong câu hát:

                 Chiếc xuồng nhỏ đưa em về xóm nhỏ

                 Nghe rì rầm tiếng sóng vỗ gần xa…

Trong hai cuộc kháng chiến, công lao của chiếc xuồng ba lá thật khó mà kể hết. Xuồng chở quân lương, vũ khí. Xuồng đưa bộ đội, du kích qua sông. Xuồng nhẹ nhàng khoả sóng trong đêm, đưa đặc công, trinh sát tiếp cận đánh đồn địch. Xuồng ba lá giấu lực lượng, giấu cán bộ trong rừng đước, rùng tràm, tránh được tai mắt của địch từ tàu tuần tra, từ những chiếc phi cơ. Đi biểu tình, chiến đấu cũng đều bằng xuồng ba lá. Chiếc xuồng ba lá đó ngày nào đã đi vào lời ca tiếng hát, giọng hò của người dân Nam Bộ.

                       Xuồng em chở chú dân quân

                     Chở cô cán bộ chở anh hậu cần…

Hình ảnh thiếu nữ mặc áo bà ba, đội nón lá, quàng khăn rằn chèo xuồng là vẻ đẹp khó quên với ai từng đến vùng đất này.

             Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm

        Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ tới mong manh…

Trong diễn xướng dân gian Nam Bộ, hò sông nước chiếm một vị trí quan trọng. Liên quan đến việc đi lại trên sông nước có thể kể ra những điệu hò như: hò chèo ghe, hò mái trường, hò khoan, hò Đồng Tháp, hò Sông Hậu…

Nước Tân Ba chảy qua

Thấy em chèo cặp vú muốn hôn 

           Ngày nay, người ta còn làm ra xuồng bằng các loại vật liệu hợp kim và vật liệu hợp chất phi kim loại. Tuy làm bằng nhiều cách thức khác nhau, tác dụng của chiếc xuồng ba lá đối với người dân vùng sông nước Nam Bộ vẫn giữ nguyên giá trị của nó, nghề truyền thống vẫn được kế thừa. Một phương thức sinh hoạt kinh tế mang đậm dấu ấn của văn minh sông nước. Hữu dụng và đậm sắc miền quê là chiếc xuồng ba lá - một nét quê ai cũng lắng đọng nhớ thương. Chiếc xuồng đã đi vào nghệ thuật qua văn, thơ, nhạc, hoạ…Cùng với mái đình, cây đa, bến nước, chiếc xuồng là biểu tượng gợi nhớ quê hương cho những người con xa xứ.

                                                         

Tài liệu tham khảo:

1. Nghê Văn Lương, Cà Mau xưa và An Xuyên nay, Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1972.

2. Trần Thanh Phương, Minh Hải địa chí, Nxb      ,

3. Nguyễn Thanh Lợi, Ghe xuồng ở Nam Bộ, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, 2005.

Cập nhật ( 23/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online