Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow TIỂU THUYẾT CHỮ HÁN VIỆT NAM, NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT (Trần Nghĩa)
TIỂU THUYẾT CHỮ HÁN VIỆT NAM, NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT (Trần Nghĩa) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/02/2009

TIỂU THUYẾT CHỮ HÁN VIỆT NAM, NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT

* Trần Nghĩa

Trong Tạp chí Hán Nôm Số 3-1997, chúng tôi có đưa ra một danh mục tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam gồm 37 tác phẩm và cũng đã sơ bộ tiến hành việc phân loại chúng thành tiểu thuyết bút ký, tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết công án, tiểu thuyết diễm tình và du ký, tất cả 7 tiểu loại(1). Nay xin bàn tiếp về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam.

I. Nội dung tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam

Về mặt nội dung, những gì mà tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam đề cập tới thật đa dạng. Có thể gom lại thành 4 chủ đề lớn sau đây:

1. Những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đất nước.

Xoay quanh chủ đề này, có các cuốn tiểu thuyết lịch sử như Trùng Quang tâm sử, Việt Lam xuân thu, Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí và Hoàng Việt long hưng chí.

Trùng Quang tâm sử kể lại cuộc nổi dậy đầy khí thế của nhân dân ta do Trần Quý Khoáng lãnh đạo chống lại ách đô hộ của nhà Minh vào đầu thế kỷ 15 tại Nghệ An. Việt Lam xuân thu viết về thất bại khó tránh của cha con Hồ Quý Ly và thắng lợi đương nhiên của anh em Lê Lợi trong cuộc lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi quân ngoại xâm, giải phóng đất nước, giành lại độc lập và chủ quyền cho dân tộc. Hoan Châu ký tái hiện công cuộc Trung hưng của nhà Lê sau khi họ Mạc tiếm ngôi, cùng những đóng góp về mặt võ công của dòng họ Nguyễn Cảnh ở Hoan Châu lúc này được coi là rất xuất sắc và chỉ sau họ Trịnh. Nam triều công nghiệp diễn chí phác họa lại 133 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, kể từ lúc Nguyễn Hoàng vào trấn giữ Thuận Hóa cho đến khi Chúa Ngãi mất. Tác phẩm cũng đã dành một phân lượng không nhỏ để nói về công lao của Chúa Nguyễn trong việc tiếp tục mở mang, kiến tạo nửa phần đất nước phía Nam; đây vừa là nơi "dung thân", vừa là chỗ dựa để tranh giành quyền lực cùng Chúa Trịnh ở phía Bắc. Hoàng Lê nhất thống chí là hiện thân sức mạnh của phong trào nông dân khởi nghĩa ở nước ta trong thế kỷ 18 đã đánh bại ba tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, đặc biệt là đập tan mưu đồ tái chiếm Việt Nam của nhà Thanh, đưa giang sơn về một mối. Hoàng Việt long hưng chí là một bổ sung và tiếp nối của Hoàng Lê nhất thống chí. ở đây, những nét bút còn mờ nhạt về phía Chúa Nguyễn trong Hoàng Lê nhất thống chí đã được tô đậm hoặc vẽ lại một cách công phu, tỉ mỉ hơn. Nhất là quá trình Nguyễn ánh xóa bỏ nhà Tây Sơn, nhân những lục đục không tự dàn xếp được trong nội bộ triều đình Quang Toản. Tiểu thuyết còn bao quát cả mười mấy năm tại vị của Nguyễn ánh lúc này là Gia Long, nhằm tạo cho câu chuyện "Trung hưng" của nhà Nguyễn có một dáng vóc trọn vẹn.

Dễ dàng thấy những khúc quanh lớn trong lịch sử Việt Nam từ cuối đời Trần đến đầu đời Nguyễn đều được một số tiểu thuyết chương hồi của ta đắp đổi nhau tái hiện với nhiều tâm tư tình cảm khác nhau mà người viết đã gửi gắm vào tác phẩm.

2. Danh nhân lịch sử, văn hóa Việt Nam

Viết về chủ đề này, có các tiểu thuyết bút ký như Nam Ông mộng lục, Công dư tiệp ký, Tang thương ngẫu lục, Hàn Giang danh tướng liệt truyện, Dị nhân lược chí, Thính văn dị lục, Bà tâm huyền kính lục ...; các tiểu thuyết chí quái như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Lan Trì kiến văn lục..., và một số ít tiểu thuyết truyền kỳ như Cổ quái bốc sư truyện, Nam Thiên trân dị tập ...

Ở đây, có "quốc tộc" Hồng Bàng Thị và "quốc tổ" Lạc Long - Âu Cơ, với quá trình "khai sáng nước Hoàng Việt". Có các "thần nhân" như Đổng Thiên Vương " phá giặc Ân"; Tản Viên linh thiêng, "có khả năng diệt loài thủy tộc"; Tô Lịch, thần đất Long Đỗ "đứng đầu các địa linh"; nhưng chiếm số lượng áp đảo, vẫn là các danh nhân lịch sử, văn hóa, gồm Lý Ông Trọng, Hai Bà Trưng, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, Phạm Cự Lượng, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải, Thiền phái Trúc Lâm, Chu Văn Trinh, Lê Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, họ Vũ ở Mộ Trạch, Họ Đinh ở Hàn Giang v.v.

Viết về họ, nguyên khí của quốc gia, nhân tài của đất nước, các tác giả không gì khác hơn là nhằm khẳng định Việt Nam là một nước có văn hiến, nhân dân có truyền thống yêu nước, có tinh thần hiếu học, sống nhân nghĩa, vị tha, sẵn sàng hiến thân cho giang sơn Tổ quốc khi cần thiết. Viết về họ, cũng là cách củng cố thêm niềm tin và lòng tự hào dân tộc, nhất là khi đang đối mặt với những thách thức nghiệt ngã của cuộc đời.

Bên cạnh các danh nhân lịch sử, văn hóa xuất hiện như là những nhân vật chính diện, tiểu thuyết còn có một số "yêu tinh quỉ quái" và người xấu việc xấu, những nhân vật phản diện. Đó là "con tinh Ngư xà dài hơn năm trượng, nhiều chân như hình con rết, biến hóa trăm cách, linh dị khôn lường, khi đi làm nổi mưa, lại ăn cả thịt người nên ai cũng sợ" (Lĩnh Nam chích quái, Ngư tinh truyện). Đó là "con cáo chín đuôi sống đã hơn ngàn năm, biến hóa muôn hình vạn trạng, lúc thành người, lúc thành quỷ, đi khắp cõi nhân gian" (Id. Hồ tinh truyện). Đó là "Cây chiên đàn cao hơn nghìn nhẫn, cành lá sum suê, xòe tán rộng không biết mấy nghìn trượng (...) Cây ấy sống lâu không biết bao năm rồi, nên khô héo bèn trở thành tinh, tính dữ tợn, có thể giết người hại vật" (Id. Mộc tinh truyện). Đó là Phạm Nhan "Tiến sĩ nước Nguyên, giỏi nghề phù thủy, vào cung vua chữa bệnh, tư thông với cung nhân, sự việc bị phát giác, sắp đem ra hành hình. Bấy giờ quân Nguyên sang xâm lược nước ta, y bèn xin làm người dẫn đường, lấy công chuộc tội" (Nam Thiên trân dị tập, Phạm Nhan miếu). Đó là đứa con bất hiếu, vì con gà chọi chết mà đang tâm đem mẹ đi chôn sống" (Thính văn dị lục, Tích kê mai mẫu truyện), v.v.

Viết về số này, cũng có nghĩa là tôn vinh danh nhân lịch sử, văn hóa, biểu dương cái thiện. Cái thiện sở dĩ thành cái thiện, là vì nó luôn luôn đấu tranh với cái ác, tạo nên môi trường sống lành mạnh cho con người .

3. Các tầng lớp xã hội Việt Nam thời phong kiến.

Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam tập trung phản ánh trước hết là lớp người cầm quyền. ở đây có những vị anh hùng dân tộc có công chống xâm lăng, khôi phục và giữ vững nền độc lập chủ quyền của đất nước, mà Lê Thái Tổ và Nguyễn Quang Trung là hai vị vua tiêu biểu nhất trong thời kỳ Trung đại.

Về Lê Thái Tổ, Lời tựa truyện Việt Lam tiểu sử viết: "Mới rồi, từ hòm sách về sử của một gia đình nổi tiếng, tôi tìm được cuốn Việt Lam xuân thu. Mở ra xem, thấy tường tận bản sắc anh hùng của Lê Thái Tổ. Khi thời cơ chưa đến thì thuận theo đạo trời, an tâm với mệnh, thương kẻ sĩ, yêu dân lành, giả nhún nhường để khỏi nhận chức tước của triều Ngụy. Lúc thời cơ tới thì dùng người hiền tài, dựa vào kẻ có năng lực, điều binh khiển tướng tiêu diệt giặc Minh, khôi phục nước nhà. Trong mười năm trù hoạch kinh dinh, không một việc làm nào của ngài chứng tỏ ngài không phải là một vị quốc vương có trí, có nhân, có dũng. Nếu không phải ông vua độ lượng, có thể như thế được chăng ? Cuốn sách qua 60 hồi đã khái quát được quá trình Lê Thái Tổ giành lại đất nước. Tôi say sưa đọc đi đọc lại mấy lần, tưởng chừng như thấy hình bóng ngài hiện ra trên từng trang sách. Bất giác tôi cảm thấy phục lăn phục lóc" (Hoàng Việt xuân thu).

Về Nguyễn Quang Trung, ta hãy nghe chính vị vua này nhắc lại trước quân sĩ về truyền thống đánh giặc cứu nước của cha ông mà các thế hệ sau phải noi gương, nếu muốn làm những cháu con trung hiếu: "Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa ? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương; đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành; đời Nguyên có Trần Hưng Đạo; đời Minh có Lê Thái Tổ; các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi hại, được mất ấy, đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Đến nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước !" (Hoàng Lê nhất thống chí).

Nhưng bên cạnh Lê Lợi, Quang Trung, những vị vua anh minh, nhân, trí, dũng, vẫn có những hôn quân bạo chúa, cùng lũ đình thần trên dưới theo hùa, trước sau nối vết, như vua tôi triều đình nhà Hồ chẳng hạn: "Ông ấy thường dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân để dựng cung Kim Âu, dốc cạn của kho để mở phố Hoa Nhai, phao phí gấm là, vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình ngục có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được; kẻ dâng lời ngay thì giết, kẻ nói điều nịnh thì thưởng, lòng dân động lay, nên xảy việc quân sông Đáy; cõi bờ chếch mếch, nên ta đã mất dải đất Cổ Lâu. Vậy mà kẻ đình thần trên dưới theo hùa, trước sau nối vết" (Truyền kỳ mạn lục, Na Sơn tiều đối lục). Hay cảnh "cưỡng hôn" giữa vua Lê và chúa Trịnh mà Hoàng Lê nhất thống chí đã cực tả: "Những năm tuổi già, nhà vua bị Thánh Tổ Trịnh Sâm đè nén đủ đường, người khác hẳn phải tức giận không thể chịu nổi, nhưng nhà vua thì vẫn vui đùa như thường. Những người gần gũi nhà vua thấy vậy đều can ngăn. Nhà vua liền đáp rằng: "Các ngươi mới chỉ biết một mà chưa biết hai. Nhà vua đối với nhà chúa, hiện nay đang ở vào cái thế bị ngờ vực; nếu trẫm lấy việc mất quyền làm tức giận, thì nhà chúa ắt phải ngấm ngầm tính việc chẳng hay. Vì vậy, trẫm phải mượn hứng vui chơi như thường để tránh tai vạ đó thôi !" (Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ năm).

Tầng lớp trí thức cũng là đối tượng được nhiều cây bút tiểu thuyết đề cập tới. Khi thì trí thức được phác họa như là những nhân vật mà số phận đang mỉm cười với họ; họ dám thách thức cả với tà thần, với Diêm Vương để bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải: "Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được (...). Trong làng trước có một tòa đền vẫn linh ứng lắm. Cuối đời Hồ, quân Ngô sang cướp, vùng ấy thành chiến trường. Bộ tướng của Mộc Thạnh có viên Bá hộ họ Thôi tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu quái trong dân gian, Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa đốt đền. Mọi người đầu lắc đầu lè lưỡi, họ lo sợ thay cho Tử Văn, nhưng Tử Văn vung tay không cần gì cả". Vì vụ này, chàng bị kiện tới Diêm Vương, sau nhờ có sự chứng thực của đền Tản Viên mà Tử Văn được trắng án (Truyền kỳ mạn lục, Tản Viên từ Phán sự lục). Chuyện Nguyễn Công Hân chửi thần Tuyên Nghĩa cũng phảng phất một tinh thần như vậy (Nam Thiên trân dị tập, Trường Bộc Nguyễn Công Hân truyện).

Nhưng cũng có một số trí thức được mô tả như là những nhân vật không tương hợp với số phận và vị trí hiện hữu của họ; trong trường hợp này, họ lui về với rừng núi, ruộng đồng, sống cuộc đời ẩn dật, hoặc như người tiều phu núi Nưa (Truyền kỳ mạn lục, Na Sơn tiều đối lục), hoặc như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Nam Thiên trân dị tập , Bạch Vân Am ký), hoặc như danh y Lê Hữu Trác (Thượng Kinh ký sự).

Cuối cùng là tầng lớp phụ nữ. Nguyễn Bích Châu, một cung phi đời Trần Duệ Tông, tuy không "đổi phận làm trai được", vẫn có thể hiến cho Vương thượng bản Kê minh thập sách đầy "thông tuệ". Với tư cách "người vợ hiền", nàng khuyên "chồng" dậy sớm để lo toan việc nước việc dân: "Một là bền gốc nước, bỏ điều tàn bạo thì lòng người được yên. Hai là giữ nếp xưa, bỏ phiền nhiễu thì kỷ cương không rối. Ba là đè kẻ lộng quyền để trừ mọt nước. Bốn là thải bọn nhũng lại để bớt hại dân. Năm là mong chấn hưng Nho phong, khiến lửa đuốc sáng soi cùng nhật nguyệt. Sáu là xin cầu lời nói thẳng, khiến người trong nước được bàn bạc khắp nơi nơi. Bảy là tuyển quân nên tìm sức mạnh hơn là vóc người. Tám là kén tướng nên trọng thao lược hơn là gia thế. Chín là khí giới cần sắc bén, chứ đừng ưa chuộng hoa hòe. Mười là trận pháp, cốt tề chỉnh chứ không cần đẹp mắt" (Truyền kỳ tân phả, Hải khẩu linh từ). Còn Giáng Hương thì rất mực yêu chồng yêu con. Để được đoàn tụ với gia đình, nàng sẵn sàng từ bỏ cung tiên, trở lại cuộc đời trần thế. Sau khi mất, nàng rất linh thiêng, được nhân dân lập đền thờ ở Phố Cát (Truyền kỳ tân phả, Vân Cát thần nữ truyện).

Giỏi việc nước, đảm việc nhà vốn là truyền thống tốt đẹp lâu bền của phụ nữ Việt Nam.

4. Tình yêu đôi lứa.

Trong tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, không thiếu những mối tình, "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy". Họ lấy nhau vì bổn phận và sống với nhau theo khuôn vàng thước ngọc của lễ giáo phong kiến. Trai thì có thể "năm thê bảy thiếp", nhưng gái thì phải "chính chuyên một chồng". Riêng người phụ nữ còn bị ràng buộc bởi "tam tòng tứ đức". Gặp anh chồng tử tế, người vợ còn được bù đắp, an ủi đôi chút. Không may vớ phải kẻ nghiện ngập, cờ bạc, ăn chơi trác táng, người vợ xem như đã hết đời. Sự bất công này đã được nhiều tiểu thuyết phản ánh và lên án. Như mối tình phụ bạc giữa Trọng Quỳ và Nhị Khanh trong Khoái Châu nghĩa phụ truyện (Truyền kỳ mạn lục); mối tình lỡ làng giữa Phật Sinh và Lệ Nương trong Lệ Nương truyện (Truyền kỳ mạn lục); mối tình đầy bi kịch giữa Túy Tiêu với Nhuận Chi và quan Trụ quốc họ Thân trong Túy Tiêu truyện (Truyền kỳ mạn lục) v.v.

Nhưng đáng chú ý hơn vẫn là những cuộc tình ái "vượt rào", nam nữ thích nhau tự tìm đến nhau, không phải chờ ý kiến của mẹ cha, mai mối. Hầu như đây là mảnh đất riêng dành cho tiểu thuyết truyền kỳ, với những mối tình giữa người và yêu tinh, giữa người và ma quái, giữa người và thần nữ ... đượm vẻ hoang đường, quái đản mà ngay các cụ đồ Nho khó tính nhất thời phong kiến cũng không thể dựa vào đâu để bắt bẻ. Người lấy yêu tinh như trường hợp Hà Nhân với Liễu Như Nương và Đào Hồng Nương trong Tây viên kỳ ngộ ký (Truyền kỳ mạn lục). Người lấy ma quái như trường hợp Trình Trung Ngộ với Diệp Khanh trong Mộc miên thụ truyện (Truyền kỳ mạn lục); Lương Nhân với Ngư Nương trong Mai Châu yêu nữ truyện (Thánh Tông di thảo). Người lấy thần nữ như trường hợp anh học trò nghèo ở Thuần Khê trong Nhất thư thủ thần nữ (Thánh Tông di thảo)v.v. Mỗi mối tình như thế, sau lớp màn hư hư thực thực, vẫn lấp lánh những tình cảm chân thành, hồn nhiên, không vụ lợi, mặt đáng quý của tình yêu đôi lứa.

Nhưng bên cạnh đó, vẫn có những chuyện "làm tình" trắng trợn, trần trụi, không cần tới một chiếc lá nho che đậy nào hết. Chẳng hạn cuộc tình tay ba giữa Dương Giới với Ngô Kiều Nương và Xa Viên Nương trong Việt Nam kỳ phùng sự lục. Hay cuộc tình tay năm - điều lạ là vẫn trong ấm ngoài êm - giữa công tử Triệu Kiệu với hai chị em là tiểu thư Lan Nương, tiểu thư Huệ Nương, cùng hai cô hầu của Lan Nương và Huệ Nương là Xuân Hoa và Thu Nguyệt trong Hoa viên kỳ ngộ tập. Có thể dẫn ra đây một đoạn trong tác phẩm sau cùng để thấy được phần nào chất "Sex" thấm đượm trong một cuốn tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam cuối thế kỷ 18: " Rượu đã ngà ngà, Sinh (chỉ Triệu Kiệu - TN) ôm Lan vào lòng, sai Hoa, Nguyệt chúc rượu. Huệ thì hát mời Sinh. Hát rằng (...). Ca vừa xong thì Sinh kéo Huệ đè xuống. Huệ nói: "Trăng sáng giữa trời thế kia, sao có thể làm vậy ?" Sinh nói: " Bể biếc trời xanh cũng chiều lòng. Quảng Hàn muốn vậy mà không được, há lại ghen nhau sao ?" Rồi đẩy Huệ ngã vào trong đệm, phỉ sức mây mưa. Xong rồi, Sinh lại kéo Lan, Lan cũng không chống lại. Bắt chước theo hình dáng chim âu chim vụ, phỏng học theo tư thái uyên ương, quả là niềm cực lạc trong cõi nhân gian. Sau đó đến Xuân Hoa. Lúc Xuân Hoa giao hợp với Sinh, lòng xuân rạo rực, mặc cho Sinh muốn làm gì thì làm, không hề mảy may khó khăn. Sau đó đến Thu Nguyệt. Nguyệt không chịu. Sinh nói: "Đất đai trong thiên hạ, mười phần ta đã có được tám chín, nay chỉ còn mảnh đất nhỏ bằng viên đạn, sao dám chống lại Vương sư ?" Rồi bế Nguyệt vào trong đệm, mặc sức mây mưa. Hoa binh nguyệt trận, nhung mã tung hoành. Giao hoan xong, Sinh lại cùng hai nàng đối ẩm. Uống mãi cho đến khi trăng lặng sau núi, bất giác say mềm. Các nàng vực chàng vào ngủ" (Hoa viên kỳ ngộ tập).

Phải chăng đó là một phản ứng, thậm chí một cách trả thù đối với những khắt khe của lễ giáo phong kiến trong lĩnh vực tình yêu mà tác giả Hoa viên kỳ ngộ tập muốn giải tỏa để đi tới chỗ được tự do yêu đương, tự do ân ái, theo tiếng gọi của bản năng sinh vật tiềm ẩn trong mỗi con người !

5. Tư tưởng Nho, Phật, Lão, phong thủy, vu bốc, âm dương ngũ hành.

Đạo Nho, đạo Phật , đạo Lão, kể cả phong thủy, vu bốc và âm dương ngũ hành nữa đã bằng nhiều con đường sớm du nhập vào nước ta. Sau một quá trình đồng hóa lâu dài, chúng kết hợp với luân lý, tín ngưỡng bản địa, trở thành một bộ phận quan trọng trong truyền thống tư tưởng văn hóa Việt Nam. Đặc biệt từ Lý Trần về sau, Nho - Phật - Lão bắt đầu có khuynh hướng hỗn dung, "dĩ Nho nhập Tiên", "dĩ Nho nhập Thích", từ đạo Nho đi vào đạo Lão (Tiên), đạo Phật (Thích). Tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" - Nho, Phật, Lão cùng một nguồn - nảy nở từ đây(2). Sự đụng độ giữa chúng nếu có thì cũng chỉ là hiện tượng nhất thời (3), không dai dẳng như ở một vài nước khác trong khu vực.

Tư tưởng Nho, Phật, Lão ... và tam giáo đồng nguyên đã chi phối mạnh mẽ nền tiểu thuyết cổ nước ta, từ tiểu thuyết bút ký, tiểu thuyết lịch sử đến tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết truyền kỳ ...

Chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, nhiều tiểu thuyết nêu cao lòng trung hiếu, đạo cương thường, cùng các phẩm chất người quân tử gồm nhân, trí, dũng. Đề tựa Lĩnh Nam chích quái, Vũ Quỳnh viết: "Ôi ! việc lạ ở Lĩnh Nam nhiều lắm ! Các câu chuyện xảy ra không chờ khắc vào đá, in vào sách mà đã gắn ghi vào lòng dân, lưu truyền nơi bia miệng, từ em bé đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều ca tụng, mến mộ, hoặc lấy đó làm răn. Thế thì chúng cũng liên quan đến cương thường, mở mang phong hóa đâu phải là ít !" (Lĩnh Nam chích quái liệt truyện tự). Truyện Dưa hấu (Tây qua truyện) được viết ra, theo Vũ Quỳnh, là để phê phán thái độ "cậy vào cái của mình mà coi thường ơn chúa"; truyện Bánh chưng (Chưng bính truyện) được viết ra, là để khen lòng hiếu thảo; Truyện Ô Lôi (Hà Ô Lôi truyện) được viết ra, là nhằm "răn thói dâm bôn". Bình luận chuyện Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Nguyễn Dữ viết: "Than ôi, những chuyện huyễn hoặc Tề Hài, những lời ngụ ngôn Trang Chu, người quân tử vốn chẳng nên ham chuộng. Nhưng nếu là chuyện quan hệ đến luân thường, là lời ký ngụ ý khuyên răn thì chép ra và truyền lại, có hại gì đâu" (Truyền kỳ mạn lục, Phạm Tử Hư du Thiên Tào lục). "Nhân, trí, dũng" cũng được Lê Hoan nhấn mạnh khi giới thiệu tác phẩm Việt Lam xuân thu: "Xưa nay làm vua, nếu không phải là người có trí, có nhân, có dũng thì không thể thành vị chúa anh hùng khai sáng sự nghiệp, gây truyền thống cho đời sau" (Việt Lam tiểu sử tự). "Nhân, trí, dũng" hay "trí, nhân, dũng" từ lâu đã được đạo Nho quan niệm như là những phẩm chất cao đẹp ở người quân tử(4), giờ đây trở thành chỗ dựa để các tác giả Việt Lam xuân thu xây dựng hình tượng Lê Lợi, người anh hùng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo, một số tiểu thuyết được viết ra dường như để chứng minh cho quan niệm luân hồi, báo ứng. Trần Nhật Duật khi mới sinh, ở hai cánh tay có chữ "Chiêu Văn", là chứng tích đầu thai của Chiêu Văn Đồng Tử trên Thượng giới (Nam Ông mộng lục, Tấu chương minh nghiệm). Ngô Chí Hoà từ dòng chữ "Thử duyên kim vị liễu, Tái kết hậu sinh duyên" trên cánh tay phải của một cô gái mà nhận ra đây là người tình cũ đầu thai (Thính văn dị lục, Tiền kiếp luân hồi truyện). Lý Thần Tông, tiền thân là Từ Đạo Hạnh, hậu thân là lão già ở chợ Báo Thiên, lại hậu thân nữa là vua Thần Tông triều Lê, "một ông sư, một lão ăn mày tái sinh vào bậc đế vương, khiến người ta không thể hiểu nổi" (Tang thương ngẫu lục, Thần Tông Hoàng Đế). Và đây nữa, lời bàn của Sơn Nam Thúc về chuyện Chồng dê:"Đọc truyện Chồng dê mới biết trong khoảng trời đất, hết thảy giống bay, giống lặn, giống chạy, giống náu là vật mà không phải là vật. Những giống ấy hoặc là duyên xưa chưa hết, hoặc vì oán cũ chưa tan, có khi đội lốt để tìm nhau, có khi thoát hình biến hóa. Kìa như chim xanh sứ giả của Vương Mẫu, lợn đen hậu thân của Tần Cối, hạc Linh Uy, cá Bạch Long... Những chuyện ấy xưa nay vẫn có. Ta nên lưu tâm xét kỹ, không nên coi giống vật là vật" (Thánh Tông di thảo, Dương phu truyện). ấy là những chuyện liên quan đến thuyết luân hồi.

Còn về báo ứng, có chuyện Lê Kính nhờ làm việc thiện nên được Thiên Đình cho đỗ Tiến sĩ, "ân huệ bỏ ra không lớn mà sự báo đáp lại chóng như vậy, thật đúng như người xưa nói: chớ bảo là việc thiện nhỏ mà không làm !" (Nam Thiên trân dị tập, Lê Kính ký). Hoặc chuyện Nguyễn Mại vì giết oan người ta mà con mình phải thế mạng: "Trời ban cho hay lấy lại rất không chừng, chủ yếu là nhìn ở đức độ. Tiến sĩ Nguyễn Mại đã được Tinh tào nhắc nhở rành rành, vậy mà cuối cùng vẫn không thoát khỏi tai vạ, ý chừng coi đấy chỉ là lời hoang đường" (Nam Thiên trân dị tập, Chí Linh Nguyễn Mại truyện). Nguyễn Thị Thái lừa đứa cháu côi cút bé dại để chiếm đoạt gia tài làm của riêng mình, kết quả bị Thiên Lôi thiêu cháy cả quần áo, được ít lâu thì chết: "Ôi làm điều thiện thì trời ban cho trăm điều phúc, làm điều ác thì trời giáng trăm điều tai ương. Đạo trời lồng lộng không mảy may sai sót” (Sơn cư tạp thuật, Trừng tham), v.v.

Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lão, Trang, nhất là Đạo giáo, một số tiểu thuyết ca ngợi cuộc sống ẩn dật, lấy cái “vô dụng” làm “sở dụng”, không màng lợi danh. Tiêu biểu như các truyện Na Sơn tiều đối lục trong Truyền kỳ mạn lục; Sơn trang Ngọc nữ trong Sơn cư tạp thuật; Lãng Bạc phùng tiên trong Thánh Tông di thảo; Địa tiên trong Hát Đông thư dị, v.v.

Mang tư tưởng “tam giáo”, có Lĩnh Nam chích quái, Công dư tiệp ký, đặc biệt là Đào hoa mộng ký. Ta hãy xem mấy đoạn của Tương Giang Mai Cát Phủ bình luận về tác phẩm thứ ba này:

“Đào hoa mộng viết về mối tình trong kiếp sau của Thúy Kiều và Kim Trọng. Cái kể ra ở đây là nguyên nhân sự hội ngộ. Điều nói tới ở đây là quan hệ giữa nam và nữ. Viết về một cô đào hát yêu một chàng thư sinh, nhưng không sa vào chuyện tà dâm, không một câu chữ nào mang tính chất bỡn cợt. Không chỉ có Lan Nương. Ngay như Kiều Huệ gặp khách buôn Việt Đông, Mã Kiều về với Dư Mỗi, Quan Thư lấy Giải Sinh... cũng vậy. Hoặc là nhân quả từ kiếp trước, hoặc là tình duyên ở kiếp sau. Có người nương tựa cửa Không sau khi trải trang duyên nợ; có người lấy nhau, gia đình hoà hợp suốt đời. Đứng về toàn bộ cuốn sách mà nói, không một nhân vật nào không đứng đắn. Đứng về nhân vật trong truyện mà, nói không một hành vi nào là bất chính. Thiên hạ qua tác phẩm biết được cái đẹp của phong hóa; mọi người đọc tác phẩm hiểu được đầu mối của tính tình. Từ đấy thấy thánh triều giáo hóa thịnh hành, phong tục thuần mỹ, tuy là đào hát, vẫn giữ mình trinh chính, chưa hề một sớm một chiều lang thang nơi đê lớn hoặc bên sông, dẫu phong hóa Nhị nam cũng không thể hơn được”.

“Thuyết quả báo luân hồi nảy sinh từ họ Thích. Kinh truyện chưa thấy chép. Hệ từ trong Kinh Dịch nói: "Tinh khí thiêng liêng của âm dương bốc ra, tích tụ thành vạn vật; hồn muôn vật vật vờ, gây nên sự biến hóa". ấy là việc duỗi tự duỗi, co tự co. Trình Tử nói: "Không lý nào vật đã co mà lại còn duỗi". Vậy là không có luân hồi. Thế nhưng tra cứu trong Kinh Phật, thấy nói người ta chết, tinh thần không những không mất, mà sau đó được thụ hình, những việc làm thiện hay ác trong kiếp trước đều có báo ứng. Điều này xét về lý, có thể xảy ra. Đế Quân nói: "Ta mười đời làm sĩ phu", vậy thì người thiện có luân hồi. Tương truyền Lý Lâm Phủ 9 đời làm kiếp trâu, 13 đời làm kỹ nữ, vậy thì người ác cũng có luân hồi ! Ngọc thiềm ký kể lại sự quả báo về tình duyên của viên Thiếu bảo họ Dư, ở đây có nêu ra thuyết luân hồi, cũng nhằm làm thăng bằng khí bất bình trong trời đất. Cổ văn nói: "Không có cái gì co mà lại không duỗi" thì sự báo ứng thiện ác, luân hồi xét về tình là nên có, xét về lý là đương nhiên (...). Còn thuyết luân hồi ở Đào hoa mộng, xét về lý thì tương xác mà có nguyên nhân, xét về việc thì huyền diệu gần với sự thực, khiến người đọc có thể giải khuây, kẻ thưởng ngoạn có thể suy ngẫm, cơ báo ứng về thiện ác càng ngụ ý răn khuyên. Đối với thế đạo, tác dụng của sách thật không nhỏ".

- "Các sách bái quan dã sử thuộc loại tiểu thuyết ngôn từ buông thả, chỉ cốt mua vui, huyễn hoặc người ít hiểu biết (...). Đào hoa mộng thì không thế. Tính chất trữ tình trang nhã của nó có chỗ giống với Tư mỹ nhân của Khuất Tử, hoặc Tiêu dao du của Trang Tử (...). Nói về tài phán đoán công án , thì có thể sánh với Bao Long Đồ (...). Nói về mưu mô đánh dẹp thì có thể sánh với Tôn Vũ Tử...".

Ba đoạn trích trên đây cho thấy một thứ hỗn dung giữa Nho, Phật và Lão bàng bạc trong tiểu thuyết.

Ngoài Nho, Phật, Lão, tư tưởng phong thủy, vu bốc cũng được phản ánh trong nhiều tiểu thuyết, mà những chuyện về "để mả" trong Công dư tiệp ký và "bói toán" trong Cổ quái bốc sư truyện có thể xem là các thí dụ điển hình.

II. Nghệ thuật tiểu thuyết chữ Hán Việt nam.

Về phương diện nghệ thuật có thể chia tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam ra thành hai nhóm: nhóm lấy việc tả thực làm chính, gồm tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết bút ký; và nhóm lấy việc hư cấu làm chính, gồm tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết công án, tiểu thuyết diễm tình.

Ở nhóm thứ nhất - tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết bút ký, du ký - có các đặc điểm nghệ thuật đáng chú ý sau đây:

1. Nghệ thuật xử lý mối quan hệ giữa sử và tiểu thuyết mà thực chất là mức độ hư cấu có thể chấp nhận được trong phạm vi nhóm tiểu thuyết này. Một mặt, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết bút ký, kể cả du ký nữa đều phải lấy "sử thực" làm gốc (lam bản), nhưng không thể bê nguyên xi lịch sử, mà phải có sự cân nhắc, chọn lọc, cái gì nên để, cái gì nên bỏ, cái gì cần thêm, cái gì cần bớt, tức tiến hành gia công nghệ thuật. Mặt khác lại phải lưu tâm nhặt nhạnh, tham khảo các nguồn tư liệu phụ như dã sử, truyền thuyết dân gian... phi chính sử để bổ sung thêm, làm cho câu chuyện đậm đà hơi thở cuộc sống. Có thế, lịch sử mới biến thành tiểu thuyết, thông qua việc tưởng tượng và hư cấu. Nói khác đi, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết bút ký, cùng du ký là bản thân lịch sử được tái hiện một cách nghệ thuật.

Tất nhiên các ý tưởng trên đây không phải lúc nào cũng được hiểu và vận dụng giống nhau trong nhóm tiểu thuyết thứ nhất.

Ở Hoàng Lê nhất thống chí, tác giả đã biết kết hợp "sử" với "văn" một cách hợp lý, làm cho tác phẩm tuy thực mà hư, tuy hư mà thực, nhờ vậy đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ, có thể sánh ngang các bộ tiểu thuyết lịch sử ưu tú của các nước trong cùng khu vực.

Hoan Châu ký, Việt Lam xuân thu, Trùng Quang tâm sử tuy có dựa vào chính sử, nhưng vẫn quan tâm thích đáng đến hư cấu nghệ thuật. Riêng Việt Lam xuân thu có đôi chỗ quá đà, như kể rằng nghĩa quân Lam Sơn lúc đầu đã liên kết với giặc Minh để diệt trừ nhà Hồ, rồi sau mới quay lại đánh giặc Minh để giải phóng đất nước. Đã là viết tiểu thuyết, cố nhiên tác giả có quyền hư cấu, nhưng nhất thiết phải tôn trọng sự thật cơ bản của lịch sử. Viết trái khoáy như Việt Lam xuân thu, không thể không nói là một xuyên tạc.

Nam triều công nghiệp diễn chí và Hoàng Việt long hưng chí tuy có phần hư cấu, nhưng bút pháp về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi lối viết của nhà làm sử. Các tác giả đã tự nguyện đem tác phẩm của họ đặt vào một góc khiêm tốn trong ngăn kéo dành cho các bộ chính sử. "Tiểu thuyết" với họ, dù được mệnh danh là "chí", "chí truyện" hay gì gì chăng nữa, thì bất quá cũng là một dòng nhỏ, một nguồn bổ sung cho quốc sử. Mà đã là "quốc sử" thì phải "thực", trăm phần trăm chính xác, chứ không thể là "hư", thêu dệt, vẽ vời, dựng chuyện... Kết quả, họ đã làm nghèo đi rất nhiều tính văn học của tác phẩm.

Thượng Kinh ký sự, với tư cách một du ký, tác giả đã khéo kết hợp bút pháp tả thực với bút pháp trữ tình, làm cho tác phẩm vừa giàu tính hiện thực, vừa gây xúc động cho người đọc, nhất là trước hình tượng tác giả, một người "tuy thân mắc vào vòng danh lợi nhưng vẫn không bị lợi danh mê hoặc. Ra đi thung dung, trở về ngất ngưởng".

Còn tiểu thuyết bút ký thì phần nhiều thiên về "di văn, dật sự", thỉnh thoảng cũng có truyện hay, nhờ cấu tứ khéo, tưởng tượng dồi dào, như các truyện Trạng nguyên Lê Nại ký, Dĩnh Kế Trạng nguyên ký... trong Công dư tiệp ký; Khổng Tử - Hạng Thác vấn đáp thư... trong Dị nhân lược chí; Lê quận công biệt truyện; Tái sinh sự tích v.v.

2. Riêng với loại tiểu thuyết lịch sử, có nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật và miêu thuật các sự kiện lịch sử lớn. Trên lĩnh vực này, nhiều tác phẩm đã gặt hái được không ít thành công.

Nổi bật, có việc khắc họa hình tượng các anh hùng dân tộc như Lê Lợi (Việt Lam xuân thu), Quang Trung (Hoàng Lê nhất thống chí), Trần Quý Khoáng (Trùng Quang tâm sử)..., hình tượng các văn thần, võ tướng như Lê Thiện, Nguyễn Trãi (Việt Lam xuân thu), Nguyễn Cảnh Mô, Nguyễn Quyện (Hoan Châu ký), Nguyễn Hữu Dật, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến (Nam triều công nghiệp diễn chí), Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm (Hoàng Lê nhất thống chí), Võ Tánh, Lê Tòng Chu, Lê Văn Duyệt, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân (Hoàng Việt long hưng chí)... kể cả hình tượng các nhân vật phản diện như Hồ Quý Ly, Trương Phụ (Việt Lam xuân thu), Nguyễn Hữu Chỉnh, Tôn Sĩ Nghị (Hoàng Lê nhất thống chí) v.v.

Có thể nên một vài trường hợp làm thí dụ. Đây là vài nét bút chấm phá về Nguyễn Huệ, vị anh hùng áo vải khi đến Thăng Long lần đầu: "Lúc Bắc Bình Vương vào Kinh Đô, vua Lê trước sai các quan lần lượt tới yết kiến. Thấy thần sắc của Bắc Bình Vương rực rỡ, nghiêm nghị, ai cũng run sợ, hãi hùng" (Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 9). Và đây là những đánh giá của một cung nhân cũ triều Lê về Bắc Bình Vương mà y cảm thấy vừa khâm phục vừa lo lắng: "Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, xuất hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc, hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét. E rằng chẳng mấy lâu nữa hắn lại trở ra. Tổng đốc họ Tôn đem thứ quân nhớ nhà kia mà chống chọi thì địch sao nổi" (Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 14).

Hình tượng cô Liên trong Trùng Quang tâm sử cũng hiện lên với những nét bút sắc cạnh: "Bây giờ mới nói đến cô Liên. Liên là một cô gái trẻ tuổi, người Thăng Long, gia thế là một họ lớn đời Trần. Khi giặc lấy Đông Kinh, ông và cha cô đánh nhau với giặc mà chết, người Tì tướng của cha cô trốn chạy vào Hoan Châu, mẹ cô và cô cũng chạy trốn theo. Chẳng bao lâu, người tì tướng ấy lại cất quân đánh giặc, bị thua chết vì nước. Mẹ cô Liên cũng kế đó mà chết. Cô Liên bèn cắt tóc vào tu ở chùa Hương Tích, núi Hồng Lĩnh. Hồi bé, cô vốn chăm đọc sách, thông văn chương, hiểu kinh Phật. Nước mất nhà tan, nương náu cửa Không, nhờ khách thập phương mà sống qua ngày. Nhưng nghĩ đến cha ông chết vì nước, những lúc vắng người vẫn thường sa lệ. Nhiều khi uất ức không chịu được thì khoác áo cà sa mang kinh kệ đi khắp làng xóm phổ khuyến, mong có lúc gặp người" (Trùng Quang tâm sử, Tiết thứ 10).

Bên cạnh việc xây dựng hình tượng nhân vật, có thể kể thêm một số trận đánh cũng được nhiều tiểu thuyết lịch sử dàn dựng công phu, thành những bức tranh hoành tráng, tên bay đạn réo, khói lửa ngút trời... Như trận nghĩa quân nhà Hậu Trần đánh lấy thành Nghệ An (Trùng Quang tâm sử, Tiết thứ 21); trận vua Trần quyết chiến với quân Mộc Thạnh ở sông Sinh Quyết (Việt Lam xuân thu, Hồi thứ 24); trận Lê Thiện đánh bại Vương Thông ở Tích Giang (Việt Lam xuân thu, Hồi thứ 52); trận Lại Thế Khanh, Trịnh Mô và Phan Công Tích đánh nhau với Nguyễn Quyện ở núi Lưỡng Kiên và Ngọc Sơn thuộc địa phận Nghệ An (Hoan Châu ký, Hồi 2, Tiết thứ nhất và tiết thứ 2); trận chúa Trịnh đánh nhau với chúa Nguyễn tại lũy Trấn Ninh vào năm 1672 (Nam triều công nghiệp diễn chí); cuộc tiến công đại phá quân Thanh, giải phóng Thăng Long của Quang Trung năm 1789, trong đó có trận quyết chiến với địch ở đồn Ngọc Hồi do Quang Trung trực tiếp chỉ huy (Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ 14) v.v.

3. Cũng ở tiểu thuyết lịch sử, còn có nghệ thuật cấu trúc tác phẩm và tổ chức câu chuyện. Hầu hết các tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán đều trình bày theo kiểu chương hồi. Toàn bộ câu chuyện được tách ra làm nhiều mảng, hay đúng hơn, tác phẩm do nhiều "hồi" hoặc "tiết" có quan hệ vừa "khép" vừa "mở", vừa "gián cách" vừa "liên tục" hợp lại mà thành. Mỗi mảng như thế, ở Hoan Châu ký và Trùng Quang tâm sử được gọi là "tiết"(Hoan Châu ký có 16 tiết; Trùng Quang tâm sử có 22 tiết); ở Hoàng Lê nhất thống chí, Việt Lam xuân thu, Hoàng Việt long hưng chí được gọi là "hồi"(Hoàng Lê nhất thống chí có 17 hồi; Việt Lam xuân thu có 60 hồi; Hoàng Việt long hưng chí có 34 hồi). Riêng Nam triều công nghiệp diễn chí thoạt nhìn, tưởng như tác phẩm được viết liền một mạch từ đầu chí cuối, chỉ chia quyển, không chia "hồi" hoặc "tiết". Nhưng đọc kỹ nguyên bản ta thấy ở quyển 4 có câu: "Vị tri Tú Phượng nhập Nam triều báo tín nhược hà, thả khán hạ hồi phân giải"; cuối quyển 5 có câu: "Vị tri hư thực như hà, thả thính hạ hồi phân giải"; cuối quyển 7 có câu: "Vị tri hậu sự như hà, thả thính hạ hồi phân giải", ta có thể nghĩ mỗi "quyển" ở đây được tác giả xem như một "hồi", Nam triều công nghiệp diễn chí có cả thảy 8 quyển, cũng tức là 8 hồi.

Mỗi "hồi" hoặc "tiết" như vậy trong cùng một tác phẩm thường có độ dài xấp xỉ như nhau, kể lại một câu chuyện nhỏ tương đối hoàn chỉnh. Mở đầu mỗi "hồi" hoặc "tiết" là hai câu đối ngẫu, mỗi câu từ 7 đến 16 chữ (riêng Nam triều công nghiệp diễn chí mỗi "hồi" (quyển) được mở đầu bằng một bài từ hoặc một bài thơ thất ngôn Đường luật, trừ hồi thứ hai và hồi thứ 7; Trùng Quang tâm sử trước mỗi "tiết" là một cụm từ 4 chữ) vừa dùng để khái quát nội dung, vừa dùng để làm đầu đề cho "hồi" đó hoặc "tiết" đó, gọi là "hồi mục". Kết thúc mỗi "hồi" hoặc "tiết" lại có hai câu đối ngẫu nữa, mỗi câu 7 chữ, cùng một câu văn lề lối (sáo ngữ) kiểu: "muốn biết (...) như thế nào , xem hồi sau sẽ rõ", một là nhằm dự báo nội dung của "hồi" tiếp theo, hai là nhằm kích thích sự tò mò của người đọc (riêng Trùng Quang tâm sử, không thấy sử dụng hình thức này).

Ở một số tác phẩm, ngoài các kiểu trình bày nói trên, còn có phần mang tính chất bình luận văn học (bình điểm) như "độc pháp", "hồi bình", "giáp bình", "my phê"... "Độc pháp" thường đặt ngay ở đầu sách, tổng luận về nội dung hoặc giải thích, nhấn mạnh một số điểm cốt yếu thuộc chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Chẳng hạn đoạn văn đặt ở đầu Hồi 1 của Hoàng Lê nhất thống chí, bài Truyện tự đặt ở đầu Hồi 1 của Việt Lam xuân thu, đoạn văn đặt ở đầu Tiết 1 của Trùng Quang tâm sử đều có thể xem là "độc pháp". "Hồi bình" là những lời bình luận viết cho từng hồi một, thường đặt liền sau "hồi mục", riêng ở Hoàng Lê nhất thống chí lại đặt ở cuối Hồi 1 và đây cũng là trường hợp duy nhất ở tác phẩm này. "Giáp bình" là những lời bình luận viết xen kẽ trong từng hồi mục, từng tiết, thấy xuất hiện nhiều nhất ở Việt Lam xuân thu. "My phê" là những câu chữ bình luận viết ngay lên khoảng giấy trống đầu trang sách, thấy xuất hiện nhiều nhất ở Trùng Quang tâm sử.

Tất cả các thủ pháp vừa nêu đều nhằm mang lại cho tiểu thuyết lịch sử một khuôn mặt khác với sử, góp phần làm cho truyện từ " khế mạch, giáp cổ, đấu tranh, phục tuyến" đến khai thừa, chuyển hợp" đều trở nên "xảo diệu, tinh kỳ" (Việt Lam xuân thu, Lời tựa Việt Lam tiểu sử ).

Ở nhóm thứ hai - tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết công án, tiểu thuyết diễm tình đáng chú ý có các mặt sau đây:

1. Tác giả rất có ý thức trong việc "tác ý hiếu kỳ" để đánh vào sự tò mò của người đọc. Đây là đoạn văn bình luận về chuyện Nguyễn Thọ Xuân trong Nam Thiên trân dị tập: "Bài văn sách bỏ mất 8 mục mà vẫn đỗ đầu, ấy là điều lạ thứ nhất. Ngoài 20 tuổi mới lấy vợ và đến 90 tuổi vẫn còn sinh con, ấy là điều lạ thứ hai. Tới già mà vẫn chưa thành danh, đó là chuyện kỳ lạ về mộng. Đề chữ lên vách mà chữa được bệnh, đó là chuyện kỳ lạ về ngòi bút. Còn như bề tôi có lỗi màVương thượng giả vờ không biết, đó là chuyện kỳ lạ về sủng ngộ".

Ở truyện Trạng nguyên Giáp Hải cũng trong sách vừa dẫn, ta lại thấy cả những câu chuyện bếp núc để có một tiểu thuyết truyền kỳ: "Người đàn bà ở Công Luận không hám tích lũy tiền của, mà cam tâm sống nghèo khổ với túp quán tranh bên đường. Trời đã nhìn thấy lòng lành của bà, muốn cho nhà bà phát Trạng nguyên, Tể tướng. Nhưng không có môi giới thì không được. Bởi vậy mới dẫn tới việc một người khách phương Bắc để quên túi vàng làm nền câu chuyện. Rồi lại dẫn đến việc một người nghèo nhưng phúc đức ở Bát Tràng đến gây mầm mống, về sau sẽ có chỗ sử dụng. Đã sinh ra người không thể không có kẻ nuôi dạy. Vì thế lại dẫn tới việc một người giàu nhưng từ thiện ở Dĩnh Kế cầm thầy dạy học, giúp mài dũa thành tài. Tuy nhiên, nếu không có dấu tích làm bằng chứng thì vị quan vinh hiển kia làm sao nhìn nhận bà cụ nghèo khổ ? Cho nên khi con bà sinh ra có một nốt ruồi ở chân, để một ngày kia mẹ con còn nhận được nhau. Ông trời kể cũng dày công dàn dựng thật ! Mà lại hết sức chu đáo, chặt chẽ nữa là khác. Bày ra mấy mươi năm đào tạo công phu, ấy cũng chỉ vì đáp lại tấm lòng tốt của bà cụ ! ". "Ông trời" mà nhà bình luận nói kia có thể hiểu chính là cây bút tài hoa của người dựng truyện.

Nghệ thuật "ảo hóa". "ảo hóa"(5) nguyên là một khái niệm của nhà Phật. Cuộc đối thoại sau đây của một nhà sư và một thư sinh trong truyện Ngọc thân ảo hóa khả dĩ giúp chúng ta hiểu được phần nào nội dung từ ngữ này: " Sinh nhân đó hỏi:" Mỗ bình sinh thờ họ Khổng làm thầy, thường bỏ điều quái mà giữ lại cái thần của nó. Thượng nhân hiểu cả chín giáo, nhìn thấu cả ba đường, có thể cho nghe chuyện Mỵ Nương ảo hóa được chăng?". Nhà sư đáp: "Xét về bản chất, con người do âm dương hợp lại thành cơ thể, trời đất hợp lại thành dáng hình. Khi khí tụ lại thì động đậy mà sinh thành, khi khí tan ra thì tiêu đi mà giải thoát. Song có lúc oan khiên uất kết thì khí này bàng bạc, lẩn quất mãi không tiêu tan, sau nhiều tháng năm hóa thành yêu quái". Vậy thì "ảo" nghĩa là không có thực tính, như hoa trong gương, trăng dưới nước; và "hóa" nghĩa là biến hóa, nhờ vào sức mạnh thần thông.

Đặt vào lĩnh vực tiểu thuyết, "ảo hóa" có thể hiểu như "thần tự" hoặc "truyền thần". Câu chuyện cũng như nhân vật trong tiểu thuyết không cứ phải là người thực việc thực, thậm chí không đòi hỏi mọi chi tiết đều phải phù hợp với thực tế, nhưng lại khả dĩ gây xúc động mạnh ở người đọc, làm cho họ cảm thấy chân thật, đáng tin, từ đó hưởng thụ cái đẹp của văn học, cái đẹp tìm thấy trong ý cảnh, chứ không phải qua hình tích. Về điểm này, Tương Giang Mai Cát Phủ đã có những ý kiến rất hay khi nói tới cách đọc tiểu thuyết: "Xem tiểu thuyết, phải thực sự để tâm vào sách mới gọi là biết xem. Đại phàm các cuốn "bái quan dã sử" xưa nay phần nhiều do các bậc tài hoa sáng tác. Có kẻ nhàn rỗi không biết làm gì, bèn rong chơi nơi bút mực. Có người tài cao nhưng chẳng gặp thời , đành lưu lạc giang hồ, bất đắc dĩ phải mượn chuyện "Ô Hữu Tiên Sinh" (chuyện hư cấu) để bộc bạch sự nghiệp hoàng lương. Cũng có kẻ nói toàn chuyện hiếm thấy, cốt biểu tỏ tài năng lỗi lạc của mình. Lại có người dùng những lời lẽ mà người nghe đến phát rợn, nhằm làm vơi nỗi bất bình tức uất của bản thân.Cho nên không nhất thiết phải có một nhân vật đích thực như thế, một câu chuyện đích thực như thế. Vậy mà trang giấy cứ lâm ly, ngòi bút cứ thổn thức; con người ấy, sự việc ấy, tình cảnh cứ hệt như thật, khiến người xem xúc động, tinh thần được cổ vũ, tưởng chừng như gặp Tiêu Lang, Tống Ngọc chốn thần giao, vào quán Sở lầu Tần nơi cõi mộng. Rồi bỗng dưng mà tới, bỗng dưng mà đi. Hiện hữu ư ? Không hiện hữu ư ? Chân thật ư ? Hư cấu ư ? Mắt xem đến đâu lòng hiểu đến đấy, bất cần phải phân biệt đâu là có, đâu là không, đâu là thật, đâu là giả. Sáng tác mà được như vậy, phải nói là trong văn có tranh vẽ; người đọc mà thấy được điều đó, cũng tựa thể trong mắt có ngọc châu". (Đào hoa mộng ký, Q2, Tổng luận).

Từ đoạn văn trên có thể rút ra mấy ý chính:

- Đặc trưng mang tính thể loại của tiểu thuyết là hư cấu.

- Nhưng sự hư cấu này vẫn có khả năng đạt tới một sự thật thật hơn cả sự thật ngoài đời.

- Chính cái " thật hơn" đó, cái thật mang tính nghệ thuật qua sự trừu tượng hóa, khái quát hóa... của tiểu thuyết, đã có sức mạnh truyền cảm, chinh phục trái tim và khối óc của người đọc.

- Người biết đọc tiểu thuyết là người tìm thấy cái mà tác giả muốn trao gửi, tức là "tâm", chứ không phải là phương tiện trao gửi, tức "văn chương".

Việc "ảo hóa" trong tiểu thuyết, đặc biệt là ở tiểu thuyết truyền kỳ, chí quái... thực chất là quá trình làm cho cái thực trở nên hư và cái hư trở nên thực.

"Thực trở nên hư" như các truyện Lý Ông Trọng, Trương Hống, Trương Hát (Việt điện u linh), Họ Hồng Bàng, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không (Lĩnh Nam chích quái), Từ Thức lấy vợ tiên (Truyền kỳ mạn lục), Công chúa Liễu Hạnh (Vân Cát thần nữ cổ lục), thầy địa lý Tả Ao (Tang thương ngẫu lục), Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tế Văn hầu Nguyễn Trãi (Nam Thiên trân dị tập) v.v. Trong các truyện này, nhân vật lịch sử đã được thần kỳ hóa, huyền thoại hóa hoặc toàn bộ, hoặc một phần.

"Hư trở nên thực" như phần lớn các truyện về yêu quái (Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, Thử tinh, hồn ma, yêu quái...) và thế giới siêu nhiên (Thiên Đình, Địa Ngục, Thủy Phủ, Long Cung, Bồng Lai tiên cảnh...) trong Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Tân truyền kỳ lục, Truyền kỳ tân phả, Truyện ký trích lục, Thánh Tông di thảo, Vân nang tiểu sử, Điểu thám kỳ án, Nam Thiên trân dị tập.v.v.

3. "Thủ tượng", "đàm huyền" hay cách tạo ra hai lớp nghĩa trong mỗi một câu chuyện.

Trong nhóm tiểu thuyết thứ hai, đặc biệt là truyền kỳ, chí quái, tác giả thường tạo ra ở câu chuyện hai lớp nghĩa: một lớp nghĩa cụ thể trên bề mặt và một lớp nghĩa trừu tượng dưới đáy sâu. Nếu từ lớp nghĩa cụ thể (do tác phẩm cung cấp) đi tới lớp nghĩa trừu tượng (do độc giả khám phá) thì đó phương pháp "thủ tượng", mượn chuyện vật để nói chuyện người, mượn chuyện đời để nói chuyện đạo, "dĩ phác thích huyền", lấy cái thô mộc để giải thích lẽ huyền diệu, mang tính chất "ngụ ngôn". Nếu từ lớp nghĩa trừu tượng (do tác phẩm cung cấp) đi tới lớp nghĩa cụ thể (do độc giả phát hiện) thì đó là phương pháp "đàm huyền", dùng triết lý trừu tượng để khái quát các sự việc cụ thể.

Trường hợp "thủ tượng" như Bần gia nghĩa khuyển truyện trong Tân truyền kỳ lục ,hay Phú cái truyện trong Thánh Tông di thảo chẳng hạn.

Ở Bần gia nghĩa khuyển truyện, bên cạnh truyện con chó có nghĩa được phản ánh qua tác phẩm, ta còn thấy một thứ "ý tại ngôn ngoại" qua bản thông điệp văn chương mà tác giả muốn trao gửi đến người đọc: Thật xấu hổ biết bao nếu "người" lại không bằng "vật" ! Con chó kia còn biết sống có nghĩa với ông chủ nghèo của nó, huống chi con người mang danh là "linh hơn vạn vật", nỡ lòng nào khi đất nước yên vui thì nịnh bợ cầu cạnh, lúc xảy ra biến cố thì trở mặt đổi lời, bán nước mưu sinh !

Ở Phú cái truyện, đằng sau chuyện mụ ăn mày lắm của mà xóm giềng không ai ngờ tới... do tác phẩm kể lại, ta còn thấy ẩn dấu một nghịch lý khó bề giải tỏ: "Mụ này do nghề hành khất mà giàu, hay đã giàu mà còn đi hành khất ? Nhưng có ai đã giàu mà còn đi hành khất, hoặc cứ phải hành khất rồi mới giàu ? (...). Còn như lũ người làng đã chẳng giúp đỡ khi mụ còn sống, lại còn rủ nhau đến hôi của khi mụ chết, thật là vô sỉ trong đám vô sỉ, ăn mày trong đám ăn mày !". Từ đó có thể thấy chân lý ở đời như rốn biển mò kim, không dễ gì nắm bắt, và đấy chính là lớp nghĩa thứ hai của tác phẩm.

Thuộc trường hợp "đàm huyền", ta có thể đọc đoạn văn vấn đáp sau đây trong Đào hoa mộng ký:

"Hỏi: Trăm hoa đều có thần. Kỹ nữ dưới Cửu Tuyền nếu quả biết điều đó, thì hoa nào lại không ký thác được tinh phách, nơi nào mà không gửi gắm được u linh, lại chỉ thấy chọn ở hoa đào, lại chỉ thấy chọn ở vườn đào ?

Đáp: Hoa đào là thứ hoa mệnh bạc. Các kỹ nữ lầu xanh lúc sống thì phần nhiều mang phận đào hoa, khi chết thì phần nhiều gửi gắm hồn thiêng không mai một ở hoa đào. Đào hoa và kỹ nữ đối với nhau thật chung thủy. Thơ Đường có câu:

Tiểu đào hoa nhiễu Tiết Đào phần

ý nói hoa đào nhỏ lượn quanh ngôi mộ nàng Tiết Đào là như vậy. Lan Nương kiếp trước là Thúy Kiều, một kỹ nữ lầu xanh. Sách có câu: "Tính nết tụ tập theo chủng loại, sinh vật phân chia theo đàn bầy". Cho nên anh linh của kỹ nữ cũng nương náu ở vườn đào để gửi gắm sự giao cảm về thanh khí. Vì là thể phách của kỹ nữ lầu xanh trong kiếp trước, nên tụ tập ở vườn đào cũng là của kỹ nữ lầu xanh trong kiếp trước.

Cho dù hoa đào trong vườn này có tự nở tự tàn, cho dù Lan Nương bản thân có một đời tài sắc, thụ hưởng cuộc sống phong lưu chăng nữa, nếu không bày ra ở mộng, không thể hiện ở lời nói, thì liệu ai biết, ai tin, ai nêu cao, ai truyền tụng việc hoa thần kia chính là kỹ nữ, Lan Nương kia chính là Thúy Kiều, kể cả cái lẽ "thiện thì hưởng phúc, dâm thì mắc họa" của tạo vật và lòng kiên trinh trong trắng của Thúy Kiều ?

Chỉ nhờ thể phách của kỹ nữ trong kiếp trước tụ tập ở khu vườn cũng của kỹ nữ trong kiếp trước, lại nhiều lần hiện ra trong mộng, nhiều lần ký thác ở lời nói, mà nghiệp chướng luân hồi của hoa thần và Lan Nương, cùng cái lẽ "thiện thì hưởng phúc, dâm thì mắc họa" của tạo vật và lòng kiên trinh trong trắng của Thúy Kiều mới được sáng tỏ qua mộng mị nói năng..."

Trong đoạn trích dẫn trên, các mệnh đề "tính nết tụ tập theo chủng loại, sinh vật phân chia theo đàn bầy" (Kinh Dịch, Hệ từ: Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân); "Thanh khí" (Kinh Dịch, Càn, Văn ngôn: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu); "thiện thì hưởng phúc, dâm thì mắc họa" (Tích thiện dư khương, tích ác dư ương"... là thuộc lớp nghĩa thứ nhất, và phần còn lại trong đoạn trích như trăm hoa, kỹ nữ, Lan Nương, Thúy Kiều... là thuộc về lớp nghĩa thứ hai.

"Thủ tượng" và "đàm huyền" đều có tác dụng góp phần phát huy trí tưởng tượng của người đọc; làm cho mỹ cảm văn học không bị cắt xén, manh mún; dựa vào trực quan, trực giác, nhưng cũng có sự chế ước của lý tính ở tầng sâu...

Ngoài các đặc điểm nghệ thuật dành riêng cho từng nhóm tiểu thuyết trên đây, còn có thể nói thêm rằng ngay từ đầu, tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam đã trở thành trung tâm thu hút nhiều thể loại văn học khác.

Trước hết là các thể loại thông dụng trong xã hội như thơ (cổ thi, luật thi), từ, phú, câu đối, văn tế, minh văn, bi ký, thư độc (thư, khải, tiên, giản, trát, thiếp)... trong đó thơ chiếm số lượng nhiều nhất. Thậm chí có truyện viết ra dường như để tác giả có dịp trổ tài thơ, chẳng hạn Truyền kỳ mạn lục, Thượng Kinh ký sự, Hoa viên kỳ ngộ tập, Việt Nam kỳ phùng sự lục, Vân Cát thần nữ cổ lục v.v.

Tiếp đến là các công văn hành chính như chiếu lệnh (sách, chế, sắc, cáo, dụ, chỉ), tấu, sớ, lộ bố, hịch văn... được sử dụng nhiều nhất ở tiểu thuyết lịch sử như Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, Việt Lam xuân thu v.v.

Thứ ba là một số thể loại văn học như ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, dã sử... cũng thường thấy xuất hiện trong các tiểu thuyết bút ký hoặc tiểu thuyết chương hồi.

Thứ tư là loại văn lý luận phê bình như tổng bình, phê ngữ... cũng thất xuất hiện không ít trong các tác phẩm như Truyền kỳ mạn lục (cuối truyện), Lan Trì kiến văn lục (cuối truyện), Tân truyền kỳ lục (cuối truyện), Thánh Tông di thảo (cuối truyện), Vân nang tiểu sử (cuối truyện), Nam Thiên trân dị tập (đầu truyện), Việt Lam xuân thu (xen kẽ trong văn bản) v.v.

Cuối cùng, và đây cũng là hiện tượng khá độc đáo trong tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam: thơ Nôm lục bát và thơ Hán lục bát cũng lọt được vào trong tiểu thuyết.

Trường hợp đầu xảy ra ở Đào hoa mộng ký. Có thể dẫn ra đây một đoạn thơ lục bát bằng chữ Nôm trong tác phẩm làm thí dụ:

Hơi sương lạnh lẽo đêm xuân,

Năm canh giá lọt mấy lần chăn loan.

Thiu thiu giấc gối trong màn,

Bâng khuâng hồn bướm tầm ngàn động hoa.

Lạ lùng phong cảnh Nam Kha,

Nhác trông thấy lũ kiều nga mấy người.

(Đào hoa mộng ký, Hồi thứ 2)

Trường hợp thứ hai như ở Thánh Tông di thảo, với bài thơ lục bát bằng chữ Hán:

Tư quân như thiết như tha,

Thức hà khả khiết, ma hà khả lân.

Thiết tha tâm bội tư quân,

Như sơn dũ tuấn, như vân dũ trường.

Gia nương y ngã gia nương,

Kim khuê tâm loạn, tha hương thần trì.

Hồ nhiên sử ngã tâm bi,

Ngọa thì bất thuỵ, thực thì bất cam.

Đông tiêu hạ nhật nan kham,

Sáp thời bất kiến, thu tam tình nùng.

Biệt ly oán ngã thiên công,

Du ngư vô tín, quy hồng vô thư.

Du du cẩn nhất niên dư,

Khuê thâm dạ tĩnh, vấn cừ như ti.

Cổ lai đa vị tình si !

(Thánh Tông di thảo, Thử tinh truyện)

Việc các thể loại văn học khác gia nhập vào thể tiểu thuyết hay đúng hơn, chính tiểu thuyết đã tiểu thuyết hóa các thể loại văn học khác cho thấy sức mạnh và tiền đồ phát triển rộng lớn của bản thân tiểu thuyết, với tư cách là một thể loại văn học sinh sau đẻ muộn trong các thể loại văn học cổ Việt Nam.

 

CHÚ THÍCH

(1) Xem Trần Nghĩa: Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, danh mục và phân loại, TCHN Số 3 - 1997.

(2) Qua bài thơ Tán Giác Hải Thiền sư, Thông Huyền Đạo nhân của Lý Nhân Tông sau đây ta có thể thấy cả Phật lẫn Lão đều được triều đình hồi bấy giờ xem trọng: "Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo hựu huyền, Thần thông kiêm biến hóa, nhất Phật nhất thần tiên = Giác Hải lòng như biển, Thông Huyền đạo lại huyền, Thần thông và biến hóa, Một Phật một thần tiên".

(3) Chẳng hạn nhà Nho Trương Hán Siêu trong bài Dục Thúy Sơn Linh Tế tháp ký và bài Khai Nghiêm tự bi ký từng chửi đạo Phật rất khoẻ. ấy thế mà khi về già, lại bẽn lẽn bước vào cửa Phật, hẳn không phải để trốn đời, mà có lẽ vì đến bấy giờ, vị quan Thái phó đã hồi hưu này mới cảm thấy đạo Thích có khả năng thỏa mãn được trí tuệ nhiều hơn là đạo Khổng.

(4) Luận ngữ, Tử hãn: "Trí giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ = Người có trí không bị mê hoặc, người có nhân không phải lo lắng, người dũng cảm không sợ hãi". Luận ngữ, Hiến vấn: "Quân tử đạo giả tam (...): nhân giả bất ưu, trí giả bất hoặc, dũng giả bất cụ = Đạo quân tử có ba (...): có lòng nhân thì không lo lắng, có tài trí thì không bị mê hoặc, có lòng dũng cảm thì không sợ hãi".

(5) Còn đọc là "huyễn hóa".

Cập nhật ( 23/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online