Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow CÁI ĐÌNH TRONG KIẾN TRÚC VIỆT NAM (TS Trần Tấn Đạt)
CÁI ĐÌNH TRONG KIẾN TRÚC VIỆT NAM (TS Trần Tấn Đạt) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/02/2009

CÁI ĐÌNH TRONG KIẾN TRÚC VIỆT NAM

* TS. Kiến trúc sư Trần Tấn Đạt

          Qua đình, ngả nón trông đình.

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

Không biết tự bao giờ cái đình cái đình xuất hiện trong nền kiến trúc Việt Nam. Càng không biết tự bao giờ cái đình đi vào kho tàng ca dao, dân ca dân tộc Việt Nam. Nhưng rõ ràng nó rất gần gũi, thân thương, gắn bó với làng quê, với đời sống người Việt. Mấy ai khi nghĩ về quê hương Việt Nam, không nhớ tới một mái đình, luỹ tre xanh, cây đa, bến nước…

Đình làng là một loại kiến trúc rất độc đáo, đặc biệt, tiêu biểu của dân tộc Việt, được ghi nhận như một điển hình, một nền tảng thẩm mỹ:

“Trúc xinh, trúc mọc đầu đình…”

Còn có các ý kiến khác nhau về công dụng và phân loại cái đình trong kiến trúc Việt Nam. Theo cố giáo sư Nguyễn Văn Huyên : “Ngày trước đình là nơi vua ngự khi đi tuần du trong nước Ở mỗi tỉnh ly có một hành cung, nơi ngự giá của vua khi tuần du qua. Các làng nằm bên đường mà xa giá của nhà vua thường đi qua cũng dựng lên những căn toà nhà có công dụng như hành cung (cái đình)”. Louis Bezacier, nhà khảo cổ học người Pháp, nguyên giám đốc trường Viễn Đông bác cổ cho rằng cách giải thích này khó đứng vững, vì không phải làng nào cũng có đình, vả lại nhiều làng ở xa con đường xa giá có thể đi qua lại cũng có đình. Hơn nữa ông cho rằng cách thức xây dựng cái đình khác nhau hẳn cấu trúc một hành cung, không thể làm nơi nghỉ ngơi như hành cung.

Thực ra đình là một loại kiến trúc đa năng, vừa có tính dân dụng, tính chất công cộng, vừa có tính tôn giáo. Đó là nơi hội họp của các kỳ hào bàn công việc làng, xã, là nơi thờ tự một hay nhiều vị thành hoàng làng, cũng là nơi dân làng tổ chức hội hè, “đình đám”. Khả năng đình là nơi nghỉ ngơi của vua khi tuần du cũng không phải không có lý. Nhưng đó chắc không phải là mục đích lớn nhất để dân làng dựng đình. Có thể nói mọi sinh hoạt của cộng đồng xã hội ở các làng quê Việt Nam đều phần lớn diễn ra nơi cái đình : cúng tế, hội hè, xét xử các vụ án…cho tới chè chén. Chỉ có các kỳ hào, các bô lão, thường là đàn ông được phép đánh chén ở bên trong ngôi đình. Có lẽ vì thế các nhà khảo cổ học người Pháp đã gọi cái đình là “nhà của những người đàn ông!”

Về nguyên tắc đình làng gồm hai ngôi nhà cùng kích thước nằm song hành. Căn nhà phía trong hình chuôi vồ (chữ T lộn ngược) với hai phần tách bạch : giữa là nơi thờ thành hoàng, hai bên là nơi hội họp, đánh chén. Ở phía trước, thẳng góc với ngôi nhà này, là hai dãy nhà ngang cách nhau bằng một khoảng sân lớn. Đây là nơi đặt bếp, mổ bò, làm cỗ. Đó là tổng mặt bằng một ngôi đình điển hình. Nhiều nơi đình chỉ gồm một nhà có mặt bằng hình chuôi vồ hay thuần tuý hình chữ nhật.

Đình thường có nhiều nét kiến trúc giống với chùa : mái ngói ta kiểu mũi hài lợp như vẩy cá, rất dày trên hệ cột, vì gỗ kiểu “sàn cột” Tường hồi xây bằng gạch, có nơi xây đá ong, ngoài trát vữa quét vôi trắng. Nền nhà lát gạch nung lớn và dày. Mặt “tường” trước và sau ngôi nhà không bao giờ xây bằng gạch, mà là các tấm ván liệt bản, ken giữa các thân cột, hoặc các trấn song hình con triện. Ở các gian giữa các tấm ván làm theo kiểu cửa lùa, khi cần có thể tháo ván ra làm ván ngồi và tăng ánh sáng, gió thiên nhiên cho đình. Lớp ngói dày, tường hồi che nắng hướng đông-tây, tán mái bao giờ cũng trùm rất rộng ngoài hiên trước và sau, cùng với cách bố trí cho đình quay mặt về hướng Nam, núp dưới những tán cây lớn đã tạo cho đình luôn có khoảng râm mát, thoáng đãng, rất dễ chịu. Để mái đình vươn được ra xa, che rợp hàng chân cột, người thợ và các kiến trúc sư vô danh đã sử dụng tài tình các console bằng gỗ lớn thuộc loại tứ thiết kiểu “thượng thu, hạ thách”nối với nhau bằng các thanh xà (nách, lòng thượng, đại, con v.v…) cùng với các kẻ, bảy, đấu (cái, con, đĩa…)tạo nên hệ kết cấu khung rất vững chãi.

Một nét độc đáo là toàn bộ các chân cột không bao giờ được chôn xuống đất mà chỉ kê lên các viên đá tản lớn, các viên đá này được soi một rãnh khá sâu quanh chân cột để chứa một chất dầu nhờn lâu khô, đắng nhằm chống mối mọt cho cột đình. Hệ thống khung cột của đình (và cả chùa) đã được các kỹ sư và kiến trúc sư Việt Nam, bằng cách sử lý cấu trúc, đã biến cách cấu trúc dàn phẳng liên kết khớp thành hệ dàn không gian với các miếng liên kết cứng rất vững chãi, rât sáng tạo. Và vì thế tất cả các chân cột mô-men uốn bi triệt tiêu, đế cột (móng) chỉ còn chịu lực nén. Đây là một giải pháp cấu trúc hợp lý phù hợp với nền đất yếu rất phổ biến ở vùng đồng bằng nước ta. Tới nay, nguồn gốc xuất xứ của cía đình chưa được xác định. Ở Trung Quốc cũng có loại kiến trúc hao hao giống đình Việt Nam được gọi là Ting. Ting có nghĩa là dừng lại, đứng lại hoặc cư ngụ, định cư yên ổn. Theo Ying Tsaofache, loại Ting đã có ở Trung Quốc từ thời nhà Hán. Còn L.Bezacier cho rằng cái đình có nguồn gốc In-donesien mà bằng chứng còn ghi trên các bức chạm ở các trống đồng.

Dù nguồn gốc chưa rõ, bằng cớ chưa đầy đủ song không ai có thể phủ nhận vẻ độc đáo, duyên dáng của cái đình Việt Nam. Hình ảnh một mái đình với các góc mái đao cong cong như cánh tay vũ nữ trong vũ điệu cổ truyền dân tộc, như cánh chim bay bổng, như cánh diều nhẹ nhàng đáp xuống đất hoà vào nền xanh của luỹ tre, ẩn dưới tán một cây đề đại thụ trong khung cảnh u tịch của làng quê mấy ai có thể quên.

Tài liệu tham khảo:

1/ L’art Vietnamien-L.Bezacier (Thư viện Khoa học Hà Nội số 17659-89472)

2/ L’art de l’annam – Gonrdon Henri (TVKH Hà Nội L.9604)

3/ Bước đầu tìm hiểu nền kiến trúc Việt Nam – Ngô Huy Quỳnh (TVKH Hà Nội V.5859)./.

Cập nhật ( 23/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online