Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow QUÁ TRÌNH SƯU TẦM, CÔNG BỐ TRUYỆN THƠ CÁC DÂN TỘC (GSTS Nguyễn Xuân Kính)
QUÁ TRÌNH SƯU TẦM, CÔNG BỐ TRUYỆN THƠ CÁC DÂN TỘC (GSTS Nguyễn Xuân Kính) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/02/2009

QUÁ TRÌNH SƯU TẦM, CÔNG BỐ TRUYỆN THƠ CÁC DÂN TỘC

* GS. TS Nguyễn Xuân Kính

Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam

          Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một thể loại dân gian thuộc loại hình tự sự, bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, được kể, được hát, được ngâm, đọc (kể cả trước và sau khi được ghi chép) và thường có nội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống lứa đôi. Lịch sử tuyên bố truyện thơ dân gian các dân tộc thiểu số ở Việt nam được bắt đầu vào nữa những cuối những năm 50 của thế kỷ XX. Tác phẩm nào có vinh dự được công bố đầu tiên? Đó là truyện thơ Thái Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu). Năm 1975, bản dịch truyện thơ này do Điêu Chính Ngâu thực hiện được xuất bản ở Hà Nội (1). Năm sau, cũng tác phẩm này, được Sở Văn hóa Khu tự trị Thái Mèo xuất bản, do Điêu Chính Ngâu, Hà Hem, Cầm Biêu khảo đính.

Theo lời của nhà văn Mạc Phi, bản tiếng Việt do sở văn hóa Khu tự trị Thái Mèo xuất bản dài hơn bản do nhà xuất bản Hội nhà văn công bố là 30 câu (2). Cả hai lần công bố đều là bản dịch tiếng Việt. Như thế, lần đầu tiên truyện thơ của dân tộc Thái được đến với bạn đọc cả nước. Cũng theo lời nhà văn Mạc Phi, tác phẩm này chưa hề được nói đến trên sách báo thời Pháp thuộc.

          Năm 1960, Hà Hem, Lò Văn Cậy, Mạc Phi khảo đính, biên soạn một bản Xống chụ xon xao (tiếng Thái),  gọi tắt là 1960. bản này có dung lượng dài hơn các bản tiếng Việt đã công bố năm 1975 (tại Hà Nội), 1958 (tại Tây Bắc); diễn biến của cốt truyện và của tâm trạng nhân vật có sự nhất quán rõ rệt, tất cả những chỗ lầm lẫn đều được so sánh, sửa lại. Năm 1961, Nhà xuất bản văn hóa (thuộc Viện Văn học, Hà Nội) công bố bản dịch tiếng Việt dựa trên bản tiếng Thái năm 1960. Trong bản dịch này, nhà văn Mạc Phi đã thực hiện công việc khảo dị, chú thích hết sức kĩ lưỡng và cẩn thận. Theo lời nhà văn Mạc Phi (in năm 1977), nguyên bản tiếng Thái Xống chụ xon xao được sở Văn hóa Khu tự trị Thái Mèo xuất bản năm 1962 (không in phần dịch tiếng Việt) (3)

          Năm 1962, Nhà xuất bản Văn hóa công bố tập văn học dân tộc thiểu số trong bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. Tập này do Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Mạc Phi, Hoàng Thao, Hà Văn Thư biên soạn. Tập này có mục “Truyện Thơ”, với bản dịch tiếng Việt các tác phẩm sau: Nam Kim – Thị Đan (Dân tộc Tày, do Nông Minh Châu trích dịch và chú thích), Út Lót – Vi Điêu (dân tộc Mường, do Đinh Sơn sưu tầm và trích dịch), Hùy Nga – Hai Mố (dân tộc Mường, trích dịch, tài liệu của Ty Văn hóa Hòa Bình), Xống chụ xon xao ( Tiễn dặn người yêu, dân tộc Thái, trích bản dịch của Mạc Phi đã được nhà xuất bản Văn hóa công bố năm 1961), Khun Lú – náng Ủa (Chàng Lú – nàng Ủa, dân tộc Thái, trích bản dịch của mạc Phi).

          Như thế là năm 1962, Khun Lú – náng Ủa chỉ mới được trích dịch. Theo nhà văn Mạc Phi, những bản sách cổ Khun Lú – náng Ủa là tủ sách được người Thái chép bằng bút lông, mực nho trên giấy rướng, một thứ giấy mà đồng bào gọi là “chỉa năng sa”. Đây là một thứ giấy bản làm bằng vỏ cây rướng (một loại dó) do nhân dân địa phương tự sản xuất. Cho đến năm 1964, chỉ tính riêng những bản sách quý còn trọn vẹn từ trang đầu đến trang cuối được lưu trữ tại sở Văn hóa – Thông tin Khu tự trị Tây Bắc cũng đã có tới trên hai chục bản. Tất cả các bản sách này “đều không có ghi một chỉ dẫn nào về chủ sách, người chép sách, sách sao theo bản nào, được tiến hành tại đâu, vào ngày tháng nào?” (4). Tháng 8 năm 1962, Sở Văn hóa Khu tự trị Thái - Mèo (sau đổi là sở Văn hóa – Thông tin Khu tự trị Tây Bắc) đã cho công bố văn bản Chàng Lú – nàng Ủa in máy, nguyên văn tiếng Thái, dài 1912 câu, sách dày 80 chục trang, khổ 13 x 19 cm. Đây là bản in đầu tiên của tác phẩm. Bản in này lấy một bản chép tay sưu tầm được ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La làm bản chính. Trong khi hiệu đính, những người soạn có đem so sánh, khảo dị với nhiều bản chép tay khác. “Nói chung, văn bản được xác lập một cách nghiêm túc, có công phu” (5). Năm 1964, bản dịch Chàng Lú – nàng Ủa của Mạc Phi được xuất bản tại nhà xuất bản Văn học, Hà Nội. Cũng giống như bản dịch Tiễn dặn người yêu, bản dịch này được nhà văn tiến hành khảo dị, chú thích thích kỹ lưỡng.

          Năm 1964, nhà xuất bản Văn học công bố hai tập Truyện thơ Tày – Nùng, do nhà thơ Nông Quốc Chấn giới thiệu. Trong hai tập này có bản dịch bảy truyện thơ: Nam Kim – Thị Đan (bản dịch của Nông Viết Toại, Hà Vũ Khoanh, Hoàng rạng); Lưu Đài – Hán Xuân (bản dịch của Hoàng An Định); Kim Quế (bản dịch của Hoàng Tuấn Nam); Truyện chim sáo (bản dịch của Hoàng An Định); Đính Quân (bản dịch của Nông Minh Câu); Quảng Tân – Ngọc Lương (bản dịch của Nông Minh Châu); Trần Châu (bản dịch của Hoàng Quyết) (6). Việc in ấn được thực hiện chính xác, khoa học, nhiều trường hợp khó hiểu được chú giải thỏa đáng đối với người đọc tiếng phổ thông.

          Về truyện thơ Mường, năm 1964, Nhà xuất bản Văn họ in cuốn Truyện thơ Mường với bản dịch bốn tác phẩm: Út Lót – Hồ Liêu, nàng Ngu – Hai Mối, nàng Ờm – chàng Bồng Hương, Nàng Con Côi, do Minh Hiệu và Hoàng Minh Nhân sưu tầm, dịch và giới thiệu (7). Khâu xử lí dị bản được tiến hành khoa học. Thí dụ, có nhiều bản Út Lót – Hồ Liêu, Minh Hiệu ghi được sáu bản có đủ từ đầu tới cuối cốt truyện. Nhưng mỗi bản lại có mỗi điểm khác nhau, về số lượng, có bản ngắn chỉ độ 150 câu, bản dài nhất gần 5000 câu, có đoạn ở bản này được kể tới gần một trăm câu thì ở bản khác lại chỉ tóm lại trong vài câu. Ngoài sáu bản trên, Minh Hiệu còn ghi được hàng chục đoạn lẻ tẻ, khá chi tiết, ở những người nhớ không đầy đủ. Trong khi dịch, Minh Hiệu đã so sánh, đối chiếu và chắp nối, chỉnh lí lại, để có một bản tương đối hoàn chỉnh. Sau đó, người biên soạn đem đọc cho một số nghệ nhân và cán bộ người dân tộc Mường nghe “Những người được hỏi ý kiến đều nhất trí thừa nhận bản dịch này vừa giữ được nội dung thống nhất, vừa đầy đủ các chi tiết, và trật tự sự việc xảy ra cũng hợp lí hơn. Về lời thơ được chọn lấy ở các bản khác nhau để dịch vào bản này cũng làm được tương đối thỏa đáng” (8).

          Về truyện thơ H`mông, năm 1964, truyện thơ Lù chạ ua nhăng (Tiếng hát làm dâu), do Bùi Lạc sưu tầm, Bùi Lạc và Mạc Phi dịch, chú thích, được nhà xuất bản Tây Bắc công bố. lúc này, tác phẩm được gọi là “dân ca”. Đáng chú ý, đây là một truyện thơ được công bố đồng thời cả bản dịch tiếng Việt và bản phiên âm tiếng dân tộc. Đáng quý hơn nữa, công việc này lại do một nhà xuất bản ở địa phương thực hiện.

          Năm 1967, Nhà xuất bản Văn học công bố tập Dân ca Mèo (9) do Doãn Thanh sưu tầm, biên dịch. Sách không có phần phiên âm tiếng dân tộc. Ở đây đây có truyện thơ Nàng Nhàng Dợ - chàng Chà Tăng. (10) Truyện này khá phổ biến ở vùng Sa Pa (Lào Cai).

          Như vậy, ở những năm 60 của thế kỷ XX, bên cạnh truyện thơ Thái, đã có thêm truyện thơ Tày – Nùng, truyện thơ H`mông, truyện thơ Mường được xuất bản.

          Năm 1973, Truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao, tên phiên âm viết đúng như tên ở bìa sách và trang 3 – N.X.K) do Mạc Phi dịch được Nhà xuất bản học tái bản, có sửa chữa, ở đây chỉ có bản dịch tiếng Việt.

          Cùng năm 1973, Nhà xuất bản Văn hóa công bố truyện thơ Mường Đang vần va do Đinh Văn Ân sưu tầm và dịch. Truyện này còn có một tên gọi khác là Vườn hoa núi Cối. Người Mường ở Thanh Hóa, ở Hòa Bình có lưu truyền truyện này. Bản do Đinh Văn Ân sưu tầm là một dị bản do người Mường ở bản Thải, châu Phù Yên, tỉnh Sơn La lưu truyền. Sách này không có phần phiên âm tiếng dân tộc.

          Cũng trong năm 1973, truyện thơ Thái Khăm Panh (do Bùi Văn Tiên, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân phiên âm, dịch) được Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản. Tuy đây là một quyển sách địa phương xuất bản nhưng có cả phần phiên âm tiếng Thái và bản dịch tiếng Việt. Để công bố tác phẩm này, Tiểu ban Văn nghệ dân gian của tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành việc đối chiếu các văn bản tiếng Thái với lời kể của các nghệ nhân. Sau khi bản phiên âm và bản dịch được hoàn thành, bản thảo đã được trình bày tại hai cuộc tọa đàm, được các nghệ nhân và các vị lãnh đạo người dân tộc đọc lại, góp ý rất chi tiết (11). Đây là một cách làm việc khoa học.

          Năm 1976, Tráng Đồng (tập truyện thơ dân gian dân tộc Mường) do Mai Văn Trí, Bùi Thiện sưu tầm, biên dịch, chú thích và giới thiệu, được nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội công bố. Tập sách gồm ba truyện thơ (Tráng Đồng, Cun Đủ Lang Đà, Vườn hoa núi Cối) được sưu tầm ở Hòa Bình. Đáng chú ý là, nếu những người sưu tầm, sưu tập khác cho rằng Út Lót – Hồ LiêuNàng Nga – Hai Mối là hai tác phẩm riêng rẽ thì nhóm biên dịch sách này căn cứ vào “nhiều mối liên hệ trùng lặp và bằng vào sự kể lại của một số nghệ nhân am hiểu nhiều truyện”, đã xếp chúng vào một tác phẩm và lấy tên là truyện “Cun Đủ Lang Đà” (12). Sách Tráng Đồng không có phần phiên âm tiếng Mường.

          Năm 1977, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc tái bản Xống chụ xon xao (bản dịch của Mạc Phi), Khăm Panh (bản dịch của Bùi Văn Tiên, Vương Anh Nhân).

          Năm 1979, Nhà xuất bản Văn học dân tộc ít người của bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. Ở lần xuất bản này, tập thể tác giả được ghi như sau: “Nông Quốc Chấn chủ biên, giới thiệu; Hoàng Thao, Hà Văn Thư, Mạc Phi, Trần Văn Tấn biên soạn chú giải”. Đúng như biên soạn đã viết, kể từ tháng 5 năm 1962 (khi tập văn học dân tộc thiểu số ra đời) đến khi họ chuẩn bị  bản thảo để xuất bản lần này, “đã hơn 15 năm qua. Trong thời gian ấy, việc sưu tầm và giới thiệu vốn cổ văn học dân tộc ít người càng được đẩy mạnh, tiến hành có hệ thống và khoa học hơn. Bằng chứng là sự ra mắt độc giả hàng loạt cuốn trường ca, truyện thơ, các loại dân ca, truyện cổ … của nhiều dân tộc do nhà xuất bản ở trung ương cũng như ở địa phương các tỉnh trên miền Bắc ấn hành”. Tuy rằng văn học cổ truyền của nhiều dân tộc ở miền Nam “chưa được khai thác và giới thiệu thỏa đáng” (do đất nước bị chia cất tới 30/4/1975) nhưng “chúng ta đã có nhiều cố gắng về mặt này” (13). So với tuyển tập ra đời năm 1962, tuyển tập Văn học dân tộc ít người ra mắt năm 1979 dồi dào hơn và mới hơn về tư liệu. do đó, “thực chất cơ cấu tuyển tập Văn học dân tộc ít người lần này khác cuốn thứ nhất rất  nhiều: (14) Tuyển tập lần này in thành hai quyển. Ở quyển hai có 16 truyện thơ của năm dân tộc được trích in. Đó là bốn truyện thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu (Minh Hiệu sưu tầm, dịch), Hùy Nga – Hai Mối (M.T. dịch theo bản sưu tầm của Đinh Công Niết), Nàng Ờm – chàng Bồng Hương (Hoàng Anh Nhân sưu tầm, dịch), Vần va (Đinh Ân sưu tầm, dịch); năm truyện thơ Tày Nùng: Truyện Chim sáo (Hoàng An Định sưu tầm, dịch) Nam Kim – Thị Đan (Nông Đức Toại sưu tầm dịch), Lưu Đài – Hán Xuân (Hoàng An Định sưu tầm, dịch), Quảng Tân – Ngọc Lương (Nông Minh Châu sưu tầm, dịch), Trần Châu (Hoàng Quyết sưu tầm, dịch); bốn truyện thơ thái: Tiễn dặn người yêu (Mạc Phi dịch), Chàng Lú – nàng Ủa (Mạc Phi dịch), Khăm Panh (Bùi Văn Tiên, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân sưu tầm, dịch), Tóng Đón – Ăm Ca (Lò Văn Sĩ dịch); một truyện thơ Giáy: Pi ít Trai Phù Sỹ (Thèn Sèn sưu tầm, dịch); hai truyện thơ H`mông: Nhàng Dợ và Chà Tăng (Doãn Thanh sưu tầm, dịch), Tiếng hát làm dâu (Bùi Lạc, Mạc Phi sưu tầm, dịch).

          Như thế, ở những năm 70, bên việc cạnh tái bản những tác phẩm đã in từ thập kỉ trước, cả hai dân tộc Thái, Mường đều tiếp tục công bố truyện thơ mới được Sưu tầm. cho đến những năm 70, ngoài truyện thơ của bốn dân tộc Thái, Tày, Mường, H`mông, có thêm truyện thơ của dân tộc Giáy được người đọc cả nước biết đến; tuy rằng việc giới thiệu truyện thơ của dân tộc này còn hạn chế: chỉ mới tóm tắt nội dung và trích dịch (15).

          Năm 1981, tập VI: Văn học dân tộc ít người (của bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam) được tái bản, in lại 16 bản trích dịch truyện thơ của năm dân tộc (Thái, Tày, Mường, H`mông, Giáy) mà bạn đọc đã được biết từ năm 1979.

          Năm 1983, Sở Văn hóa – Thông tin Bắc Thái xuất bản cuốn sách Tam Mậu Ngọ do Bế Sĩ Uông, Ma Trường Nguyên sưu tầm phiên âm, dịch, biên soạn và giới thiệu. Sách này công bố bản dịch một truyện thơ Nôm Tày, sưu tầm ở Bắc Cạn.

          Năm 1983, Nhà xuất bản Văn hóa công bố Truyện thơ Chàm do Tùng Lâm, Quảng Đại Cường sưu tầm, biên soạn. Sách này chỉ có biên soạn tiếng Việt, gồm bảy truyện thơ:

          1. Hòa – nô (theo nhà xuất bản Văn hóa, truyện này còn có tên là Tề - ưa – mừ - no);

          2. Y – nha Pa – tờ ra;

          3. Hai anh em;

          4. Hoàng tử um – rúp và cô gái chăn dê;

5. Công chúa A – mi – sa – ra;

6. Hoàng hậu Cư – mi – ra;

7. Aria Chăm – bni.

Trong số bảy truyện trên, các truyện 2, 4, 6, 7 có ghi tên người kể. Trong nhóm sưu tầm, biên soạn, Quảng Đại Cương người Chăm. Rất tiết đây là một tập sách kém chất lượng, thậm chí có hại (16). Sách này kém chất lượng vì Quảng Đại Cường không căn cứ vào văn bản mà chỉ dịch theo trí nhớ, vì có những chỗ dịch giả bịa ra với ngộ nhận rằng làm như vậy là “nâng cao” “cho phù hợp với nhân sinh quan thời đại”(17).

Năm 1984, bản chữ Thái La tinh Xống chụ xon xao do Mạc Phi sưu tầm và biên soạn được nhà xuất bản Văn hóa công bố. Sách này không có bản dịch tiếng Việt.

Năm 1984, Nhà xuất bản Văn hóa công bố Dân ca H`mông (viết Hmông: không có dấu phẩy ở chữ H). Sách này ghi: Doãn Thanh sưu tầm, dịch; Hoàng Thao tuyển, chỉnh lý; Chế Lan Viên giới thiệu. Sách này chỉ có bản dịch tiếng Việt. Trong phần “Tiếng hát làm dâu” có trích truyện thơ Nàng Dợ - Chà Tăng (tr.229250), trích truyện thơ A thào – Nù Câu (tr. 250268) và in đầy đủ một tác phẩm lấy tên là truyện thơ Tiếng Hát làm dâu Tây Bắc (tr. 268284). Văn bản tiếng hát làm dâu Tây Bắc (từ lời dịch đến chú thích) giống bản dịch Tiếng hát làm dâu (1964) của Bùi Lạc, Mạc Phi đến 97 – 98%.

Năm 1986, Nhà xuất bản khoa học xã hội ấn hành Tuyển tập truyện thơ Mường, hai tập, do Hoàng Anh Nhân tuyển lựa và giới thiệu. Người soạn quan niệm bản sử thi vĩ đại Đẻ đất đẻ nước” cũng là truyện thơ và dành trọn tập I cho nó” (18). Tập II dành cho bốn truyện thơ được lưu truyền ở Thanh Hóa: Út Lót – Hồ Liêu (bản dịch của Minh Hiệu), Nàng Nga – Hai Mối (Minh Hiệu sưu tầm, biên dịch, chỉnh lí) Nàng Ờmchàng Bồng Hương  (Hoàng Anh Nhân sưu tầm, biên dịch), Nàng Con Côi (Hoàng Anh Nhân sưu tầm,dịch).

Năm 1987, bản dịch truyện thơ Mường Vườn hoa núi Cối của Đinh Văn Ân được tái bản.

Như thế trong những năm 80, có thêm bản dịch của truyện thơ Chăm được công bố, nâng thành con số đã có sáu dân tộc thiểu số có truyện thơ được xuất bản. Đáng tiếc bản dịch truyện thơ Chăm không đảm bảo giá trị khoa học và tính nghiêm túc.

Năm 1991, nhà xuất bản khoa học xã hội công bố truyện thơ Ú Thêm của người Thái do Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân sưu tầm và biên dịch, Đặng Nghiêm Vạn giới thiệu. Sách này in nguyên bản chữ Thái, bản phiên âm chữ Thái và bản dịch (19).

Về truyện thơ của người Cao Lan, năm 1991, Ủy ban nhân dân huyện Đoan Hùng và sở Văn hóa – Thông tin và thể thao tỉnh Vĩnh Phú xuất bản dịch Kó Lau Slam (truyện tình thơ Cao la) do lâm Quý biên dịch.

Trong các năm 19901991, theo lời mời của nhà xuất bản khoa học xã hội GS. Đặng Nghiêm Vạn đã chủ trì một nhóm biên soạn gồm có PGS. Đặng Văn Lung, GS. Lương Ninh, các nhà nghiên cứu Lục văn Pảo, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, GS. Đặng Nghiêm Vạn và Hữu Thấu, GS. Đặng Nghiêm Vạn và PGS. Lê Trung Vũ. Đến cuối năm 1991, tuyển tập do nhóm biên soạn tiến hành đã hoàn thành. Năm 1992, bộ sách được công bố với tên gọi tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam. Tuyển tập gồm bốn quyển, chỉ có bản dịch tiếng Việt. “vì chưa có điều kiện dịch các tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ” (20). Quyển thứ hai của tuyển tập có năm truyện thơ Mường: Tráng Đồng (Sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí và Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Út Lót – Hồ Liêu (sử dụng bản dịch của Minh Hiệu đã công bố năm 1986), Vườn hoa núi Cối (sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí (21), Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Nàng Ờm – chàng Bồng Hương (sử dụng văn bản Hoàng Anh Nhân công bố năm 1986 trong Tuyển tập truyện thơ Mường), Nàng Nga – Hai Mối (sử dụng văn bản của Minh Hiệu công bố năm 1986); có ba truyện thơ Thái: Xống chụ xon xao (sử dụng bản dịch của Điêu Chính Ngâu công bố năm 1957). Chàng Lú – nàng Ủa ( sử dụng bản dịch của Mạc Phi đã in năm 1964), Ú Thêm (Tuyển tập không đề là sử dụngbản dịch nào, qua đối chiếu chúng tôi thấy đây là bản dịch đã công bố trong sách Trường ca Ú Thêm do Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố năm 1991); có các truyện thơ H`mông: Tiếng hát làm dâu (sử dụng bản dịch của Doãn Thanh đã công bố các năm 1967, 1984), Nàng Dợ - Chà Tăng (sử dụng bản trích dịch của Doãn Thanh đã công bố các năm 1967, 1984) A Thào – Nù Câu (sử dụng bản trích dịch của Doãn Thanh đã công bố năm 1984), Tiếng hát làm dâu Tây Bắc (sử dụng bản dịch của Doãn Thanh công bố năm 1984), Quyển thứ tư của truyện có ba tập thơ Tày: Đính Quân, Nam Kim – Thị Đan, Lưu Đài – Hán Xuân (sử dụng bản dịch đã tuyên bố trong truyện thơ Tày Nùng (năm 1964), riêng đối với Lưu Đài – Hán Xuân, ông Lục Văn Pảo “ đã dịch lại” những chỗ của bản dịch trước không thật dễ hiểu” (22) ); có bản truyện thơ Chăm (là bảy truyện đã được Tùng Lâm, Quảng Đại Cường công bố năm 1983).

Như vậy trên cơ sở kế thừa các thành tựu đã được công bố thành sách, trong Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam, GS. Đặng Nghiêm Vạn và các cộng sự đã giới thiệu năm truyện thơ Mường, ba truyện thơ Thái, một số truyện thơ H`mông, ba truyện thơ Tày, bảy truyện thơ Chăm. Có trường hợp các soạn giả làm công việc giám định bản dịch của người đi trước (việc như ông Lục Văn Pảo đã thực hiện đối với truyện thơ Lưu Đài – Hán Xuân). Còn ở nhiều trường hợp khác, nhóm biên soạn không giám định, không phân tích bản gốc, bản dịch, lấy nguyên si cả bảy truyện thơ Chăm kém chất lượng (đã được phân tích ở trên). Đáng tiếc hơn, đối với những chú thích đã có ở các bản dịch trước nhằm giúp bạn đọc người Kinh (Việc) và đồng bào các dân tộc khác dễ tiếp nhận hơn và hiểu đúng hơn tác phẩm thì ở tuyển tập này, những người biên soạn lại bỏ đi. Thí dụ, trước khi trình bày bản dịch Nàng Dợ - Chà Tăng, Doãn Thanh có một đoạn tiểu dẫn cho biết tác phẩm này được lưu truyền khá phổ biến ở vùng Sa Pa, tỉnh Lào Cai, do ông Thào A Lử làm ở tuyên giáo xã Lao Chải, huyện Sa Pa kể bằng tiếng H`mông. Trong lời của nhân vật Chà Tăng ở bản dịch năm 1967 của Doãn Thanh (tr. 91) có ba dòng như sau:

“Nàng ở lại nàng như cái chổi của mẹ của cha quét dọn (1)

Quét dọn trên nhà dưới bếp

Ta đi, ta đi như chim lấu dì chinh (2) ca hát chốn rừng xanh…”

Doãn Thanh đã giải thích:

(1) Ý nói lên chăm chỉ công việc nhà.

(2) Lấu dì chinh (lâur zix txinh): loài chim cu, chim mái ấp trứng, chim đực chỉ quanh quẩn ở bên, mùa rét không gáy tiếng nào.

Trong quyển thứ hai của tuyển tập (tr. 649650), các soạn giả bỏ đoạn tiểu dẫn của Doãn Thanh, không in nghiêng Lấu dì chinh và cũng bỏ hai chú thích trên.

Năm 1993, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc công bố truyện thơ Thái Hiến Hom – Cầm Đôi do Lò Văn Cậy cưu tầm, biên soạn, Đinh Văn Ân dịch. Đây là sách song ngữ (gồm chữ Thái La tinh và bản dịch tiếng Việt).

Năm 1993, Nhà Xuất bản Văn hóa dân tộc in cuốn sách Kó Lau Slam. Sách này có bản phiên âm tiếng Cao Lan và bản dịch thơ. Với nguyên tác là thơ bảy tiếng (bảy âm tiết) trường thiên (23), Lâm Quý dịch ra thơ tiếng Việt theo thể tự do.

Năm 1994, Nhà xuất Văn hóa dân tộc công bố Truyện thơ Nôm Tày, tập I do Hoàng Quyết và Triều Âm sưu tầm, dịch thuật, chú thích, giới thiệu. Tập này giới thiệu năm truyện thơ: Nhân lăng, Bioóc lả, Chiêu Đức, Lý Thế Khanh, Nho Hương. Sau lời nói đầu dài bốn trang, tập này gồm hai phần. Phần đầu là bản dịch tiếng Việt bốn tác phẩm phần sau là bản phiên âm tiếng Tày. Sách này không có nguyên bản chữ Nôm Tày. Nếu nguyên tác là thơ bảy tiếng, không gieo vần chân như thơ Đường luật, mà vị trí gieo vần giống như hai câu song thất (trong thể song thất lục bát) của người Việt thì bản dịch cũng gieo vần như vậy. (24) Trước mỗi bản dịch, Dịch giả đều có bài viết ngắn phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật và cả hạn chế của tác phẩm. Phần chú giải phong phú, với dung lượng câu chữ ở từng chú giải vừa phải giúp người đọc rộng rãi hiểu tác phẩm dễ hơn. Thí dụ, ở bản dịch truyện thơ Nhân Lăng130 chú thích. Đối với người đọc là người Việt (Kinh) hoặc là các dân tộc khác, việc chú thích, chẳng hạn, như thế này là rất cần thiết: “(1) Hoa mạ, một loài hoa rừng nở vào mùa xuân, Hương rất thơm” (tr. 93). Bản dịch truyện thơ Bióoc Lả137 chú thích. Bản dịch truyện thơ Chiêu Đức206 chú thích. Bản dịch truyện thơ Lý Thế Khanh334 chú thích. Bản dịch truyện thơ Nho Hương261 chú thích.

Năm 1994, Nhà xuất bản Văn hóa công bố truyện thơ Nam Kim – Thị Đan do Hoàng Quyết biên dịch. Với nguyên tác là “thơ bảy chữ trường thiên gieo vần lưng” (chữ dùng của Hoàng Quyết), dịch giả dịch theo thể song thất lục bát. Sau bản dịch là phần phiên âm tiếng Tày.

Năm 1995, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc công bố Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường do Bùi Thiện sưu tầm, biên soạn, dịch. Không có bản phiên âm tiếng Mường, sách này giới thiệu bản dịch 12 truyện thơ (theo quan niệm của soạn giả) dưới đây:

1. Dạ Dần trồng hoa

2. Vua Dần vái thơi

3. Đón bông cơm vía lúa

4. Sinh nứa – Cờ pèn

5. Đẻ Núi trọc

6. Chàng Khoong kheng

7. Nàng Vật Nga (tức Truyện nàng  Hằng Nga)

8. Chàng Thông Đế Thông Đền

9. Tráng Đồng

1. Chàng Chiết Chiết

11. Vườn hoa núi Cối

12. Cun Đủ lang Dà (gồm hai truyện Út Khót – Hồ Liêu) và Nàng Nga – Hai Mối).

Khác với Bùi Thiện, ở đây có tác phẩm mà chúng tôi không quan niệm là truyện thơ, thí dụ Dạ Dần trồng hoa. Cuốn sách chưa được biên soạn cẩn thận. các truyện số 3 và số 4 có tên gọi ở lời nói đầu và mục lục khác với tên gọi ở bên trong (xem các trang 47, 58). Việc viết hoa, viết thường hết sức tùy tiện, thiếu nhất quán.

Năm 1966, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc tuyên bố Hợp tuyển văn học Mường, do Hoàng Tuấn Cư, Ngô Quang Hưng, Vũ Ngọc Kỳ sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn, trong đó có trích in các bản dịch của bốn truyện thơ: Nàng Nga – Hai Mối, Út Lót – Hồ Liêu, nàng Ờm – chàng Bồng Hương, Vườn hoa núi Cối. các truyện này do Bùi Thiện, Minh Hiệu, Hoàng Anh Nhân sưu tầm và dịch.

Năm 1966, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc công bố Văn học Chăm. Tập II: Trường ca, do Inrasara biên soạn. trong truyện này có truyện thơ Um Mưrup. (Ở sách của Tùng Tâm và Quảng Đại Cường (1983) đây là truyện Hoàng tử Um – rúp và cô gái chăn dê). Đây là cuốn sách biên soạn công phu, khoa học, trình bày tư liệu theo kiểu đối sách: một trang là bản phiên âm tiếng Chăm, trang bên là bảng dịch tiếng Việt.

Năm 1966, Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành Truyện thơ và đồng dao Thái miền Tây Nghệ An do La Quán Miêu sưu tầm và dịch. Sách gồm hai phần: phần đầu là truyện thơ; phần sau là đồng dao. Trong phần truyện thơ, người soạn giới thiệu bốn tác phẩm: Trông mường, Chim phượng hoàng, Chàng Hún Lu nàng Ùa Piểm, Nàng Căm chàng Ín. Mỗi tác phẩm đều có phần phiên âm tiếng Thái và bản dịch tiếng Việt, cuối phần phiên âm tiếng Thái có ghi rõ tên, địa chỉ người cung cấp tác phẩm. Theo quan niệm của chúng tôi, hai tác phẩm đầu không phải là truyện thơ.

Tổng tập văn học Việt Nam là một bộ sách đồ sộ do GS. Đinh Gia Khánh làm chủ tịch hội đồng biên tập. Theo kế hoạch ban đầu, bộ sách gồm 36 tập. Năm 1980, Nhà xuất bản khoa học xã hội công bố tập 1 và tập 36, tức là cắm hai cái mốc đầu tiên và kết thúc của bộ sách. Rất tiếc, trong quá trình biên soạn, do tình hình tư liệu, do phương pháp điều hành, do thay đổi sự đánh giá đối với một số tác giả, trào lưu văn học (25), đến năm 1997 là lúc in xong tất cả công trình, bộ sách không chỉ không thống nhất về khổ sách giữa các tập (26) mà còn vượt quá con số 36 tập, tuy rằng một số tập đã chia thành tập A, tập B. (Thí dụ, tập 28 dành để giới thiệu phần văn xuôi lãng mạn (các sáng tác văn xuôi của Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Thạch Lam, Xuân Diệu), do GS. Hà Minh Đức làm chủ biên, công bố năm 1994, in thành hai tập 28A và 28B). Các tập 37 A, 37B, 37C do GS. Đặng Nghiêm Vạn làm chủ biên, in xong năm 1996, dành để giới thiệu văn học các dân tộc thiểu số. Tổng tập văn học Việt Nam đặt cho mình nhiệm vụ là giới thiệu một cách có hệ thống diện mạo lịch sử một nghìn năm văn học viết của Việt Nam từ thế kỉ X cho đến ngày 2 tháng 9 năm 1945 với bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bộ sách này, việc GS. Đặng Nghiêm Vạn tuyển vào cả văn họa dân gian là một việc làm chưa đúng chỗ. Trong phần văn học dân gian các dân tộc thiểu số, có những truyện thơ sau: ba truyện thơ Thái (Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú – nàng Ủa, U Thềm), ba truyện thơ Tày (Đính Quân, Nam Kim – Thị Đan, Lưu Đài – Hán Xuân), năm truyện thơ Mường (Vần va, Tráng Đồng, Út Lót – Hồ Liêu – nàng Ờm – chàng Bồng Hương, Nàng Nga – đạo Hai Mối), các truyện thơ H`mông (Tiếng hát làm dâu, trích Nàng Dợ - Chà Tăng, trích A Thào và Nù Câu), bảy truyện thơ Chăm (đưa tất cả các truyện trong sách Truyện thơ Chàm của Tùng Lâm và Quảng Đại Cường đã in năm 1983 vào đây).(27)

Trong hai năm 19971998, Hội Văn học nghệ thuật và sở Văn hóa – Thông tin thể thao tỉnh Sơn La công bố bộ sách Truyện thơ trường ca dân gian Thái gồm chữ Thái cổ (không có bản dịch tiếng Việt), trong đó tập 1 (in năm 1997) giới thiệu mười truyện thơ: Xống chụ xon xao, Khun Lú – nàng Ủa, Ý Đón Ý Đăm, Ý Nọi Náng Xưa, Náng Ý Tú, Náng Phôm Hom, Tạo láng Hôm Náng Hai, Hiếm Hom, Tóng Đón Ăm Ca, Xông Ca Xy Cáy; tập 2 (in năm 1997) giới thiệu 11 truyện thơ: Quám Khun Tính, Quám Ca Đông, Quám Kén Tẻo, Út Ỏ, Ngú Háo, U Thến, Thi Thốn, Pha Mệt, Pha Cáng, Thi Thặt, Náng Cống Cắm Đanh; tập 3 (in năm 1998) giới thiệu hai truyện thơ: Trái Cắm, Sam Lướng – Inh Lái.

Năm 1999, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc in truyện thơ Thái Ý nọi – nàng Xưa (Em bé – nàng Hổ) do Lò Ngọc Duyên sưu tầm và dịch. Sách gồm có các phần: lời giới thiệu, tóm tắt nội dung, phần tiếng Việt, phần tiếng Thái, Phần chữ Thái cổ.

Năm 1999, Nhà xuất bản Giáo dục công bố Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam do Viện Văn học chủ trì, gồm năm tập (bảy quyển). Tập V dành cho sử thi và truyện thơ, do Đặng Văn Lung và Sông Thao biên soạn và tuyển chọn. Phần truyện thơ gồm có hai truyện thơ Mường (Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – chàng Bồng Hương), hai truyện thơ Tày (Nam Kim – Thị Đan, Lưu Đài – Hán Xuân), bốn truyện thơ Thái (Chàng Lú – nàng Ủa, Tiễn dặn người yêu, Tào Hủn Lu – Náng Ông Piềm, Chim Yểng), hai truyện thơ Chăm (Hoàng hậu Cưrima, Aria Chăm Bni). Mười truyện thơ này điều không có bản phiên âm tiếng dân tộc và sử dụng các bản dịch của Minh Hiệu, Hoàng Anh Nhân, Nông Viết Toại, Hoàng An Định, Hoàng Quyết ,Mạc Phi, Điêu Chính Ngâu, … ở các sách đã xuất bản. Đáng tiếc là hai truyện thơ Chăm do sử dụng bản dịch từ Truyện thơ Chàm (1983) nên đã một lần nữa “xã hội hóa” những sai lầm của Tùng Lâm và Quảng Đại Cường (28).

Như vậy, trong những năm 90 việc tái bản truyện thơ các dân tộc thiểu số phong phú hơn về số lượng so với những năm 80. Ở thập kỉ này, có nhiều sách song ngữ được phiên bản, đặc biệt hội văn học nghệ thuật và sở Văn hóa – Thông tin – Thể thao tỉnh Sơn La đã công bố 32 truyện thơ Thái bằng chữ Thái Đen. Với soạn giả Inrasara, truyện thơ Chăm được biên dịch công phu và xuất bản dưới dạng sách song ngữ (tuy chưa có chữ Chăm, chỉ có phần phiên âm đặt  đối sánh với bản dịch tiếng Việt). Đã có thêm truyện thơ của dân tộc Cao Lan được xuất bản, nâng số lượng các dân tộc có truyện thơ được giới thiệu với người đọc cả nước lên con số bảy (Thái, Tày, Mường, H`mông, Giáy, Chăm, Cao Lan).

Năm 2000, Tổng tập Văn học Việt Nam được nhà xuất bản Khoa học Xã hội tái bản “có chỉnh lí và bổ sung”. Trong một năm, 42 tập (khổ 16 x 24cm) của cả bộ sách cùng ra mắt bạn đọc. Ở lần xuất bản này, các tập 37A, 37b, 37C trở thàh các tập 39, 40, 41. Phần truyện thơ các dân tộc thiểu số vẫn là phần đã công bố năm 1996, không có sửa chữa, bổ sung. Và như vậy, đây là lần thứ ba, bảy truyện thơ do Tùng Lâm và Quảng Đại Cường biên dịch được xuất bản. (29)

Năm 2000, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc cho ra mắt cuốn Tiễn dặn người yêu (Xống Chụ son sao, tên phiên âm ghi đúng như Nguyễn Khôi viết – N.X.K) do Nguyễn Khôi biên soạn. Sau “Lời nhà xuất bản”, sách gồm các phần sau:

+ Bản dịch Thái;

+ Bản dịch thơ, chú thích của nhà văn mạc Phi;

+ Bản phiên âm tiếng Thái;

+ Bản dịch thơ của Điêu Chính Ngâu;

+ Bản chuyển thơ Việt của Nguyễn Khôi;

+ Bài viết “Sống chụ son sao bản ca bất hủ” của Vương Trung, nhà thơ dân tộc Thái;

+ Bài “Đôi lời về sống chụ son sao” của Nguyễn Khôi.

Bản chữ Thái (tr. 874) là bản chụp chữ Viết tay của PTS. Hoàng Lương (hiện nay ông Lương là PGS. TS). Theo cụ Nguyễn Văn Hòa, đây là kết quả của việc PGS. TS Hoàng Lương dịch từ bản tiếng Việt của Nhà Văn Mạc Phi (in năm 1977). Bản phiên tiếng Thái (tr. 199279) do nhà giáo Hoàng Lương thực hiện đã dựa vào bản chữ Thái “ đã tam sao thất bản” (30). Trong một cuốn sách, việc người biên soạn đem đến cho người đọc hai bản dịch của hai dị bản với hai phong cách dịch khác nhau (một của Điêu Chính Ngâu, một của Mạc Phi) của cùng một tác phẩm là điều bổ ích và lý thú. Tiếc rằng mỗi người dịch theo một phiên bản tiếng Thái (vì tác phẩm có nhiều dị bản) mà sách này lại không có những bản phiên âm tiếng Thái (mà hai dịch giả đã căn cứ vào chúng) nên giảm giá trị khoa học.

Nguyễn Khôi không dùng từ “dịch”: mà dùng từ “chuyển thơ” để gọi việc ông chuyển Xống chụ xon xao sang thơ Việt theo thể song thất lục bát. Theo lời tác giả với khoảng 180 câu đầu vào truyện và tả cảnh thai nghén của “mẹ yêu”, ông đã “gom” lại còn 12 câu mở đầu cho bản chuyển thể của mình (tr. 412413). Như đã thấy ở trên, năm 1994, nhà giáo Hoàng Quyết đã dùng thể song thất lục bát để dịch Nam Kim – Thị Đan. Khi dịch, ông vừa cố gắng tôn trọng từng lời trong nguyên bản, vừa dịch thoát ý theo từng câu. Do vậy có  nhiều câu không hạ được vần”. (31) So sánh như vậy để thấy rằng Nguyễn Khôi đã chuyển thể, đã phóng tác, chứ không “dịch” (32) Xống chụ xon xao. Chúng tôi ghi nhận nhiệt tình và sự tự tin của soạn giả Nguyễn Khôi (xem các tr. 395396, 400, 412413), Còn việc tiếp nhận bản chuyển thể này như thế nào, hưởng ứng nó ra sao phụ thuộc vào khẩu vị của từng bạn đọc. Cuốn sách này đã bỏ một số chú thích trong bản dịch của Mạc Phi, đã có những chỉ dẫn không chính xác, không đáng tin cậy đối với bạn đọc.

Năm 2000, Hội văn học nghệ thuật tỉnh Sơn La công bố Đang vần va (tức truyện thơ Vườn hoa núi Cối) của dân tộc Mường, do Đinh Văn Ân sưu tầm, dịch, chú thích và giới thiệu. Như đã nói ở trên, trong các năm 1973, 1987 bản dịch này đã được xuất bản. Nhưng vì chưa có phần tiếng Mường nên nó chưa đáp ứng được nhu cầu của đông đảo bạn đọc, nhất là bạn đọc người Mường. Vì vậy, lần này hội văn học nghệ thuật tỉnh Sơn La đã công bố cả phần tiếng Mường và phần tiếng Việt.

Năm 2001, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành cuốn sách Truyện cổ và dân ca Thái vùng Tây Bắc Việt Nam, do Nguyễn Văn Hòa sưu tầm, biên dịch. Sách này giới thiệu cả truyện dân gian và truyện thơ Khun Lù – nàng Ủa. (33) Người soạn đã thể hiện bản dịch tiếng Việt truyện truyền miệng dưới dạng văn xuôi, truyền bản truyện thơ tiếng Thái và phần dịch ra thơ tiếng Việt theo thể lục bát. Đây là cách làm công phu, khoa học. Những công trình như thế này chỉ có thể được in trong điều kiện kinh tế đất nước không gặp khó khăn hoặc được nước ngoài tài trợ. Cuốn sách của Nguyễn Văn Hòa đã được xuất bản dưới sự tài trợ Quỹ Thụy Điển – Việt Nam phát triển văn hóa.

Năm 2002, Nhà xuất bản Đà Nẵng công bố bộ sách Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, nhóm biên soạn gồm có Lê Trung Vũ, Nguyễn Thị Huế, Đỗ Hồng Kỳ, Trần Thị An và Tăng Kim Ngân. Bộ sách gồm bốn tập (sáu quyển). Tập bốn dành cho việc giới thiệu truyện thơ. Đó là bốn truyện Thái: Tiễn dặn người yêu (sử dụng bản dịch của Mạc Phi, bản in năm 1977), Chàng Lú – nàng Ủa (sử dụng bản dịch của Mạc Phi đã công bố năm 1964), U Thềm (sử dụng bản dịch của Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân đã công bố năm 1990), Út Ỏ về Kinh (trích, sử dụng bản n trên Tạp chí Dân tộc học, số 4 năm 1978); năm truyện thơ Mường: Tráng Đồng (sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí (34) và Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Út Lót – Hồ Liêu (sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí (35), Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Nàng Ờm – chàng Bồng Hương (sử dụng bản dịch của Hoàng Anh Nhân đã công bố năm 1986), Nàng Nga – Hai Mối (sử dụng bản dịch của Minh Hiệu đã công bố năm 1986), bốn truyện thơ Tày: Nam Kim – Thị Đan (bản dịch của Nông Viết Toại, Hà Vũ Khoanh, Hoàng Rạng đã công bố năm 1964, nhóm biên soạn dùng bản in lại năm 1996 từ tổng tập văn học Việt Nam, tập 37C), Lưu Đài – Hán Xuân (sử dụng bản dịch của Lục Văn Pảo đã in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 37C), Đính Quân (bản dịch của Nông Minh Châu đã công bố năm 1964, nhóm biên soạn dùng bản in lại trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 37C), Bioóc Lả (sử dụng bản dịch của Hoàng Quyết và Triều Ân đã công bố năm 1994); các truyện thơ H`mông: A Thào – Nù Câu (trích, sử dụng bản dịch của Doãn Thanh đã công bố năm 1984), Tiếng hát làm dâu (sử dụng bản dịch của Doãn Thanh đã công bố năm 1967).

Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa có phần tiếng dân tộc, chỉ có bản dịch tiếng Việt. Trong “Lời nói đầu” in ở tất cả các quyển sách, GS. Đặng Nghiêm Vạn cũng nhận thấy việc chỉ “giới thiệu các tác phẩm đã biên dịch chữ quốc ngữ” là “điều đáng tiếc và ít nhiều cũng đáng trách” (tr. 12 ở tất cả sáu quyển). Ông đã rất đúng khi hiểu rằng muốn có những cuốn sách xuất bản bằng song ngữ “là việc không dễ dàng, vì cần có vốn đầu tư lớn, một tổ chức điều hành rất khoa học và cơ bản nhất, là có những người nhiệt tình và hiểu biết”, (tr. 12 ở tất cả sáu quyển, những chỗ in nghiêng là do N.X.K nhấn mạnh).

Ông viết tiếp: “Dân trí được nâng cao, con người sẽ được ý thức hơn về lịch sử, về vốn văn hóa của cha ông để lại. Nếu thế hệ đương đại không lưu ý bảo tồn những vốn cổ của các dân tộc, nếu không lưu ý giới thiệu những văn bản bằng tiếng mẹ đẻ, hoặc chí ít cũng lưu giữ lại ở một số cơ quan có thẩm quyền; thì sau này con cháu có quyền chất vấn chúng ta, những nhà nghiên cứu đương thời, đã để mất, để rơi vào dĩ vãng những tinh hoa văn học của tổ tiên. Thế hệ chúng ta phải chịu trách nhiệm về những mất mát này” (tr. 12 ở tất cả sáu quyển) (36).

Khác với những bộ sách khác của cùng nhóm biên soạn do GS. Đặng Nghiêm Vạn chủ trì, ở bộ tổng tập này (cụ thể là trong tập bốn), nhóm biên soạn đã không giới thiệu một truyện thơ nào của dân tộc Chăm.

Có một số tác phẩm được nhóm biên soạn xếp vào truyện thơ (Nguồn gốc người Dao, Rồng và người chia đất,…), còn chúng tôi thì không tán thành. Tập 4 có quá nhiều lỗi chính tả, lỗi in sai (37).

Ở thế kỉ trước, nước ta có những bộ sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (những năm 6070) và Tổng tập văn học Việt Nam (những năm 8090). Theo lời GS. Nguyễn Duy Quý, những bộ sách đó “một phần đã đáp ứng” được yêu cầu của công trình “có tính chất tổng hợp, giúp cho người đọc khi cần có thể tra cứu nhanh và tìm thấy những tư liệu, chi tiết cụ thể trong cái đại dương mênh mông là nền văn học Việt Nam”; chúng “đã hoàn thành được cơ bản sứ mạng lịch sử của chúng và đang mong chờ những công trình mới tiếp theo”. (38) Đó là lí do việc ra đời bộ Tinh tuyển văn học Việt Nam vào năm 2004, do nhà xuất bản khoa học xã hội công bố. Bộ sách này gồm tám tập, chia thành mười quyển. Tập 2 dành cho văn học các dân tộc thiểu số. Tập này gồm hai quyển, quyển một dành cho văn học dân gian, quyển hai giành cho văn học hiện đại. Trong quyển hai, nhóm biên soạn (gồm nhà thơ Nông Quốc Chấn và ông Nông Quốc Thắng, trưởng nam của nhà thơ) để một mục cho truyện thơ của bốn dân tộc (Chăm, Mường, Tây, thái). Đối với dân tộc Chăm, các soạn giả giới thiệu một truyện (Hoàng Tử Um Rúp và cô gái chăn dê) với văn bản đã công bố năm 1983 của Tùng Lâm và Quảng Đại Cường (39). Đối với dân tộc Mường, các soạn giả không giới thiệu trọn vẹn, mà chỉ trích hai chuyện truyện thơ: Hùy Nga – Hai Mối (bản dịch của M.T), Út Lót – Hồ Liêu (bản dịch đã được công bố năm 1985). Đối với dân tộc Tày, các soạn giả cũng không giới thiệu trọn vẹn tác phẩm, mà chỉ trích hai truyện thơ: Chim sáo (bản dịch của Hoàng An Định đã công bố năm 1964) và Nam Kim – Thị Đan (bản dịch của Nông Viết Toại đã công bố năm 1964). Đối với dân tộc Thái, các soạn giả trích giới thiệu đoạn cuối của tác phẩm Xống chụ xon xao (bản dịch của nhà văn Mạc Phi đã công bố năm 1961). Nói chung, việc tuyển chọn, biên soạn chưa bộc lộ sự dụng công của các soạn giả, bởi vì các vị vẫn tiếp tục sử dụng một văn bản kém chất lượng đối với truyện thơ Chăm, bởi vì các vị khi dùng bản dịch của Mạc Phi đã không có những giải thích cần thiết,  gây ra sự khó hiểu đối với bạn đọc. Ở bản trích dịch này, trong khảo dị có những thông tin như: “Bản B và bản C không chép hai câu này” (40) “Các bản khác chép…” (41) Người đọc không hiểu bản B và bản C là bản nào, các bản khác là những bản nào? Có tìm đọc bản dịch của Mạc Phi, người đọc mới biết được rằng, bản B là bản của do Phòng Văn nghệ thuộc sở Văn hóa Khu tự trị Thái – Mèo tổ chức sưu tầm vào năm 1958, bản C là bản do Phòng Văn nghệ nói trên tổ chức sưu tầm vào năm 1957 “các bản khác: gồm một số bản chép tay ở Tong Cọ, Tong lạnh (Thuận Châu), Chiềng Cọ (Mường la), Chiềng Mung (Mai Sơn)… sưu tầm năm 1959 – 1960” (42).

Năm 2002, Nhà xuất bản Kim Đồng công bố bản dịch Tiễn dặn người yêu  của Mạc Phi. Sách không có bài tiểu luận và không có các dị bản.

Năm 2003, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc công bố truyện thơ Thái Tình anh em (Pi noọng đôm nâu) (43) do Tô Hợp sưu tầm, biên dịch, với dạng sách song ngữ.

Năm 2003, nhà xuất bản Văn hóa công bố Chữ Nôm Tày và truyện thơ của Triều Ân. Trong sách này, tác giả giới thiệu bản dịch năm truyện thơ: Nàng Kim, Nàng Hán, Nàng Quyển, Nàng Ngọc Long, Nàng Ngọc dong. Riêng truyện Nàng Ngọc Dung có cả văn bản chữ Nôm Tày và bản phiên âm.

Năm 2004, Nhà xuất bản văn học ấn hành Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại của Triều Ân. Trong sách này, Truyện thị Đan được giới thiệu với bản chữ Nôm, bản phiên âm và bản dịch.

Năm 2004, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc công bố truyện thơ H`mông Luk tẩuv Hmôngz do Hờ A Di sưu tầm, biên dịch. Sách này có cả phần phiên âm tiếng dân tộc. Tập sách này giới thiệu 12 truyện thơ được giới thiệu ở vùng Sông Mã, tỉnh Sơn La, đó là các truyện: Cuộc đời của Chứ Dạ Lia và Dợ Pạ Mỉ (Tsưz Zax Liê thuêz Nzơưv Pax Miv gơư Luz nênhx), Chế Phệnh (Chêr Fênhx), Pạ Nhia (Pã Nhiêl), Giàng Giao Câu) Zax Zoz Câuz), Tú Tủa và Gầu Dụ (Tuz Tuôv Tiêz Muô Gâux Njuv), Gầu Li – Nụ Dia (Gâuz Hli thiêz Nax Nziêv), Tạo giống người (Tsiv nôngz nênhx), Gầu Giao Mỉ (Gâux Zoz Miv), Chàng Vàng Cha – nàng Dụa Pa (Tuz Đrâul Vax Tsaz – nzuôx Pal), Dênh Dạ Dủa và Chỉ Dênh Thại (Zênhz Zax Zuôz Tsiv Zênhz Theix), Nụ Do và Gầu Nú (Nũ Zoz thiêz gâu  Hnuz), Tộng Li (Tộngx Lik).

Năm 2005, Nhà xuất bản khoa học xã hội công bố truyện thơ Truyện nàng Nga đạo hai Mối do cao Sơn Hải biên dịch, có cả phần phiên âm tiếng Mường. Đây là một cuốn sách biên soạn công phu, nghiêm túc.

Về truyện thơ Ba Na năm 2005, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc in cuốn Joh duch Bum (Câu chuyện về nàng Bum) do Bok Angep hát kể, Nguyễn Quang Tuệ sưu tầm, Siu Pết, Nguyễn Quang Tuệ dịch nghĩa. Đây là sách song ngữ. Như vậy là cho đến năm 2005, truyện thơ của tám dân tộc đã được công bố (44).

Năm 2006, Nhà xuất bản Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh công bố Aryia Cam (Trường ca Chăm) do Inrasara biên dịch. Sách này có một số truyện thơ Chăm. Ở đây có cả chữ Chăm cổ, phần phiên âm ra tiếng Việt.

Năm 2008, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc xuất bản Duch Bum, Dăm Sơdang (truyện thơ Ba Na), do Nguyễn Quang Tuệ sưu tầm và giới thiệu. Đây là sách song ngữ.

Nhìn lại 50 năm sưu tầm và nghiên cứu, chúng ta thấy truyện thơ được công bố sớm nhất, nhiều lần nhất và có nhiều bản dịch nhất là Xống chụ xon xao của người Thái. Điều này không phải ngẫu nhiên. Về truyện thơ này, khi bàn về văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, PGS. TS. Lê Trường Phát đã viết: “Nếu cần một tác phẩm văn học cổ truyền để đặt lên đó vòng nguyệt quế vinh quang thì không tác phẩm nào sánh được với Xống chụ xon xao” (45) Truyện thơ được giới thiệu dưới dạng song ngữ đầu tiên là Lù chạ ua nhăng (Tiếng hát làm dâu) của người H`mông, do Bùi Lạc và Mạc Phi dịch, do nhà xuất bản Tây Bắc (một nhà xuất bản ở địa phương) công bố. càng ngày, chúng ta càng nhận thức được tầm quang trọng của loại sách song ngữ. Chỉ khi nào một tác phẩm truyện thơ của một dân tộc thiểu số được giới thiệu bản chữ cổ (hoặc bản phiên âm) và bản dịch tiếng Việt, với những chú thích đầy đủ, khi đó việc công bố tác phẩm mới được yêu cầu về mặt khoa học. Bên cạnh nhiều bản dịch được công bố có sự lao động công phu về khảo dị văn bản, về chú thích từ ngữ, các phong tục, (thí dụ các bản dịch do nhà văn Mạc Phi thực hiện), cũng có những bản dịch kém chất lượng do cách làm việc cẩu thả, hoặc do sự hạn chế của nhận thức. Nhiều tuyển tập, tổng tập ra đời (trên cơ sở kế thừa các thành tựu cụ thể của việc sưu tầm, biên dịch đối với từng truyện thơ) đem đến cho giới nghiên cứu những công cụ tra cứu thuận tiện và bức tranh tổng thể về truyện thơ các dân tộc thiểu số. Khi đặt các truyện thơ của nhiều dân tộc trong cùng một tập sách, người đọc dễ dàng so sánh, nhận ra cái chung và cái riêng giữa chúng. Đáng tiếc, cho đến nay chưa có một tuyển tập, tổng tập nào giới thiệu các truyện thơ dưới hình thức song ngữ. Một số người làm tuyển tập, tổn tập đã bỏ qua khâu giám định văn bản, thiếu sự lao động công phu.

Trên đây, chúng tôi đã nhìn lại quá trình sưu tầm và công bố truyện thơ các dân tộc thiểu số theo từng thập niên. Bên cạnh những tác phẩm đã được xuất bản, tại kho lưu trữ của hội văn nghệ dân gian Việt Nam, còn không ít những truyện thơ do các hội viên sưu tầm, biên dịch chưa được xuất bản, (*).           

 

Chú thích

(1) Điêu Chính Ngâu (1957), Sống chụ son sao (Tiễn dặn người yêu), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội. Ở đây chúng tôi ghi tên sách phụ đề tiếng Việt đúng như tr.3. Có nhiều cách phiên âm, theo các nhà Thái học Tòng Kim Ân và Nguyễn Văn Hòa, nên phiên âm của tác phẩm là Xống chụ xon xao.

(2) mạc Phi dịch và giới thiệu (1961), Tiễn dặn người yêu (Xống chụ son sao), Nhà xuất bản văn hóa, Hà Nội, tr.3. Ở đây chúng tôi ghi tên sách và phụ và phụ đề đúng như ở trang 3.

(3) theo nhà văn Mạc Phi, năm 1962 vẫn còn khu tự trị Thái mèo, năm 1964 Khu tự trị Tây Bắc có sở văn hóa – Thông tin, Tháng 9 năm 2008, khi đọc duyệt bài viết này, GS. TSKH. Tô Ngọc Thanh khẳng định rằng, năm 1962 không còn Khu tự trị Thái Mèo vì đã đổi thành Khu tự trị Tây bắc; ở Khu tự trị Tây Bắc, không có sở văn hóa – Thông tin (không có hai tiếng “Thông tin”). Còn theo mạng htt://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_tự _trị_Thái_Mèo, ngày 27/10/1962, Khu tự trị Thái Mèo được quốc hội đổi tên là Khu tự trị Tây Bắc.

(4) Mạc Phi dịch, khảo dị, chú thích (năm 1964), Chàng Lú – nàng Ủa (Khun Lú – náng Ủa), Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.7

(5) Mạc Phi (1964), sđd, tr. 7

(6) Ở tập II còn có Vượt biển, bản dịch của Hoàng Hạc, Chúng tôi không quan niệm tác phẩm này là truyện thơ.

(7) Trang 3 đề sách xuất bản năm 1963, ở cuối sách ghi thời gian nộp lưu chiểu là tháng 2 năm 1964.

(8) Minh Hiệu, Hoàng Anh Nhân (1964), Truyện thơ Mường, Nxb. Văn học , Hà Nội, tr. 1314.

(9) Cùng chỉ một dân tộc, có nhiều cách gọi khác nhau: mèo, H`mông, Hmông, Mông. Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên, Viện Ngôn ngữ học chủ trì. Nxb. Đà Nẵng, 2002) ghi ở “Phụ lục I: Các đân tộc ở Việt Nam”: “H`mông  (Mèo)”, nghĩa là cách gọi như trong ngoạc đơn đến nay vẫn được chấp nhận, nhưng ít được dùng.

(10) Doãn Thanh (1967), Dân ca Mèo, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 89114. Dân ca Mèo không có tiếng H`mông.

(11) Vũ Ngọc Khánh giới thiệu; Bùi Văn Tiên, Vương anh, Hoàng Anh Nhân phiên âm, dịch (1973), Truyện Khăm Panh, Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản, tr. 34.

(12) Mai Văn Trí, Bùi Thiện (1976), Tráng Đồng, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, tr. 12.

(13) “Cùng bạn đọc”, in trong: Nông Quốc Chấn chủ biên, giới thiệu (1979), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. Tập VI. Văn học dân tộc ít người (quyển một), Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.39.

(14) “Cùng bạn đọc”, sđd, tr. 39.

(15) năm 1974, trên tạp chí Dân tộc học số 2, Triệu Hữu Lý dịch từ tiếng Dao sang tiếng Việt tác phẩm Truyện Đặng Hành và Bàn Đại Hộ. Trong chuyên luận chưa xuất bản, PGS. TS. Lê Trường Phát nhận xét rằng, tác phẩm này “kể về công cuộc tìm đất, di cư và định cư của dân tộc Dao từ miền Nam Trung Quốc sang Việt Nam. Với một đề tài như vậy, Đặng Hành và Bàn Đại Hộ có dáng dấp của một tác phẩm thuộc thể loại sử thi nhiều hơn – cho dù vẫn được dịch giả gọi tên là truyện” (Lê Tường Phát (1997), Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số, công trình dự giải, lưu lại hội văn nghệ dân gian Việt nam , Hà Nội, tr. 6.

Chúng tôi chia sẻ nhận xét này. Chúng tôi cũng không quan niệm Bàn Hộ là truyện thơ. Về tác phẩm này, xin xem: Triệu Hữu Lý sưu tầm, biên soạn, chú thích (1982), Bàn Hộ (trường ca dân tộc Dao), Nxb Hà Nội.

(16) Inrasara (2008), Văn hóa – xã hội Chăm nghiên cứu và đối thoại, sđd, ở tr. 55, tác giả viết: “(…) cuốn Truyện thơ Chàm được in lại trong năm tuyển, tổng tập tầm cỡ mươi năm qua, trong khi nó đã bị đưa ra phê phán nhiều lần rằng đây không phải của Chăm đúng là Chăm. Tốn tiền của nhân dân rất vô ích (và cả có hại)”

(17) Inrasara (2008), sđd, tr. 108.

(18) Hoàng Anh Nhân tuyển lựa và giới thiệu (1986), Tuyển tập truyện thơ Mường, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tập I, tr.14.

(19) Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân (1991), Trường ca Ú Thêm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Trang 3 của sách này ghi năm xuất bản là 1990; trang cuối cùng ghi nộp lưu chiểu tháng 1 năm 1991.

 

(20) Đặng Nghiêm vạn chủ biên (1992), bài “Khải luận” trong Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam, quyển thứ nhất, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 28.

(21) Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (1992), sđd, quyển thứ hai, tr. 229 ghi “Mai Trí” là thiếu chính xác.

(22) Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (1992), sđd, quyển thứ ba, tr. 161.

(23) Đó là  nhìn chung cá biệt như ở các tr.90, 91, 92, 94, … cũng có những câu (dòng) ba tiếng.

(24) Chúng tôi xin phân tích cụ thể vần trong thơ Nôm Tày vào dịp khác.

(25) Tập 1 và tập 36 xuất bản trước Đổi mới (1986) là sáu năm. Bản đề cương tổng thể của bộ tổng tập này được soạn trước năm 1980.

(26) Tập 1 và tập 36 (in năm 1980) khổ sách 16 x 20 cm. Sau này các tập khác in theo khổ lớn hơn (16 x 24 cm), thí dụ tập 3A xuất bản năm 1991 là in theo khổ 16 x 24. Năm 1997, những người chủ trì phải in lại nội dung tập 1 và nội dung tập 36 với hình thức sách khổ 16 x 24.

(27) Đây là lần thứ hai nhóm biên soạn do GS. Đặng Nghiêm Vạn chủ biên công bố lại bản dịch bảy truyện thơ Chăm kém chất lượng của Tùng Lâm và Quảng Đại Cường. Lần thứ nhất, như đã nói trên, là năm 1992 với Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam.

(28) Trong sách Truyện thơ Chàm (1983), tên truyện là Hoàng hậu Cư – mi – ra (tr.2, 85); ở tập V của bộ Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tr. 1075, 1107 người soạn viết sai tên truyện thành Hoàng hậu Cưrima. Chúng tôi cho rằng viết sai (không phải dị bản), bởi vì ở trong tác phẩm, vẫn viết Cưmira.

(29) Trong số đó, hai văn bản Hoàng hậu Cưmira và Aria Chăm Bni được in tới lần thứ tư.

(30) Trích thư của cụ Nguyễn Văn Hòa viết ngày 7/7/2008 gửi cho chúng tôi. Vì cụ là Ủy viên ban Chủ nhiệm Chương trình Thái học, am hiểu tiếng Thái, chữ Thái và văn học Thái nên chúng tôi đã nhờ cụ đọc cuốn sách của ông Nguyễn Khôi và cho nhận xét.

(31) Hoàng Quyết sưu tầm, dịch, giới thiệu (1994), Nam Kim – Thị Đan (truyện thơ Nôm Tày), sđd, tr.9.

(32) Hiểu “dịch” theo nghĩa chính xác của từ này.

(33) Những người khác gọi Khun Lú – náng Ủa (chàng Lú – nàng Ủa).

(34) và (35) Đặng Nghiêm Vạn và các cộng sự ghi “Mai Trí” (thiếu tiếng “văn”).

(36) Theo chỗ chúng tôi được biết, GS. Đặng Nghiêm Vạn và các cộng sự khi biên soạn bộ Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam không được một cơ quan, tổ chức nào đầu tư kinh phí cho khâu chuẩn bị bản thảo. sách in xong, nhóm biên soạn được Nhà xuất bản Đà Nẵng trả nhuận bút. Đây là loại sách khó tiêu thụ đối với bạn đọc rộng rãi. Chúng tôi ghi nhận sự hào hiệp (không vì lợi nhuận vật chất) của nhà xuất bản Đà Nẵng.

(37) Sách này còn có nhiều chỗ thiếu chính xác. Thí dụ, ở các tr. 531, 554 sách Tổng tập văn học Việt Nam (do GS. Đinh Gia Khánh làm Chủ tịch Hội đồng biên tập) được gọi là tổng tập văn học Việt Nam, ở các tr.295, 358 người dịch “Mai Văn Trí” được gọi là “Mai Trí”. Tại tr. 309 trong đoạn tiểu dẫn về truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu, những người soạn viết: “Truyện chọn trong tập III Tuyển tập truyện thơ Mường (Thanh Hóa) của Minh Hiệu do nhà Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội, ấn hành 1986”. Như đã nói trên, năm 1986, Nxb. Khoa học xã hội ấn hành Tuyển tập truyện thơ Mường, hai tập, do “Hoàng Anh Nhân tuyển lựa và giới thiệu”. Bộ sách này không có tập II. Xin nói thêm, ngay cả khi GS. Đặng Nghiêm Vạn giới thiệu về những quyển sách do ông viết, ông biên soạn cũng thiếu chính xác. Tại bìa 4 của cuốn sách Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam (2003), Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, ông nhắc về một cuốn sách như sau: “Văn học các dân tộc miền núi – chủ biên 1992”. Đây chính là bộ sách gồm 4 quyển Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.

(38) Nguyễn Duy Quý (2004), “Lời giới thiệu” in ở đầu tất cả mười quyển sách, tr. 7. Ở đây người viết chưa chính xác khi cho rằng: “ Một vài công trình như Hợp tuyển thơ văn Việt Nam Tổng tập văn học Việt Nam ra mắt độc giả vào những năm 6090 của thế kỉ trước, (…)”. Thực ra, bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam gồm 6 tập, được xuất bản không chỉ vào những năm 60, thí dụ: tập 2 và tập 6 xuất bản năm 1962, tập 1 xuất bản năm 1972. còn bộ Tổng tập văn học Việt Nam không chỉ xuất bản ở những năm 90, thí dụ: tập 1 và tập 26 xuất bản năm 1980.

(39) Đã có bản dịch song ngữ truyện thơ Chăm Um Mưrup của Inrasara (1996) mà nhóm biên soạn còn dùng bản Tùng Lâm, Quảng Đại Cường biên dịch là không thỏa đáng.

(40 )Nông Quốc Chấn chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt nam, tập 2, quyển 1: Văn học các dân tộc thiểu số, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 283.

(41) Nông Quốc Chấn chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 2, quyển 1, sđd, tr. 283.

(42) Mạc Phi dịch và giới thiệu (1973), Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao), Nxb. Văn học, Hà Nội, in lần thứ hai có sửa chữa, tr. 50.

(43) pinoọng đôm nâu, nghĩa là: Tiếng hát anh em rượu đắng, anh em ngửi thối (theo Tô Hợp)

(44) Nếu kể cả Đăm Kteh Mlan của người Ê Đê thì phải chăng có chín dân tộc có truyện thơ được sưu tầm, dịch và xuất bản? Xin xem: Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch, chỉnh lý (2003), Khan Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Mlan, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Hai tập. Nhà xuất bản gọi Đăm Kteh Mlan là sử thi thì chưa ổn; còn Nguyễn Hữu Thấu gọi là “khan” như cách gọi của người bản địa.

(45) Phạm Thu Yến chủ biên, Lê Trường Phát, Nguyễn Bích Hà (2002), Giáo trình văn học dân gian, Nxb. Đại học sư phạm, Hà Nội, tr. 239.

(*) Trong quá trình viết bài này, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ của PGS. Trần Thị An, cụ Đinh Văn Ân, họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng, cử nhân Vũ Quang Dũng, cụ Nguyễn Văn Hòa, cử nhân Cao Thị Hải, PGS. Nguyễn Thị Huế, cử nhân Hà Thu Hương, cử nhân Lư Thị Thanh Lê, TS. Nguyễn Hằng Phương, ThS. Lê Hồng Sinh, TS. Trần Hữu Sơn trong việc cung cấp, thu thập tư liệu. Xin trân trọng cảm ơn./.

Cập nhật ( 23/02/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online