Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Xuất xứ vài câu ca dao ở Tiền Giang (TS Nguyễn Phúc Nghiệp)
Xuất xứ vài câu ca dao ở Tiền Giang (TS Nguyễn Phúc Nghiệp) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/03/2009

XUẤT XỨ VÀI CÂU CA DAO Ở TIỀN GIANG

* TS Nguyễn Phúc Nghiệp

Tiềng Giang nay, Mỹ Tho-Gò Công cũ là vùng đất mới được khai phá khoảng vài trăm năm trở lại đây. Thế nhưng, cũng giống như nhiều địa phương khác của cả nước, Tiềng Giang có một kho tàng ca dao hết sức phong phú và đa dạng, mang tính đặc thù rất rõ nét…

Ai về Giồng Dứa qua truông

Gió lay bông sậy, để buồn cho em.

Vào thế kỷ XVIII, con đường thiên lý, đoạn chạy ngang qua Giồng Dứa (huyện Châu Thành, từ Trung Lương đến cầu Long Định trên quốc lộ I hiện nay) còn rất hoang hiếm, đầy thú dữ; nên khách bộ hành khi đi ngang Giồng Dứa rất lo sợ. Vì thế, mới có câu ca dao trên.

Cảm thương ông Lữ dãi dầu

Cái ve, cái bát, cái bầu sau lưng

Vào thế kỷ XVIII, viên cai đội Nguyễn Văn Lữ đã chiêu mộ dân chúng, gian khổ khẩn hoang lập ấp ở vùng Thuộc Nhiêu (huyện Châu Thành). Do công lao đó, nhân dân đã tôn ông làm bậc tiền hiền, thờ ở đình làng; và lấy tên ông đặt cho một giồng cát ở đây; giồng Cai Lữ. Giồng này nối liền với Giồng Dứa, chạy từ cầu Long Định đến thị trấn Cai Lậy trên quốc lộ I.

Cây da Bình Trung

Cây me Dương Phước.

Cây nào có trước,

Cây nào có sau.

Tổ tiên ta, ai chống giặc Tàu

Còn ai khai khẩn gian lao miền này?

Ở làng Bình Trung (nay thuộc huyện Gò Công Tây), có một cây da cổ thụ, gồm thân và rễ, to đến ba bốn gian nhà. Cây da này bị lính Pháp hai lần đốn phá: lần thứ nhất vào năm 1947, củi chở đến mười xe bò; lần thứ hai vào năm 1950. Sau hai lần bị đốn phá, cây da vẫn tiếp tục  nảy nhánh, ra rễ, càng xanh tốt hơn. Ở làng Dương Phước (nay thuộc huyện Gò Công Đông), có cây me thâm căn lão cối với hai tàn cây to lớn cao vút lên trời xanh. Cây me này vẫn còn ra hoa; nhưng kết trái rất ít; vỏ cây sần sùi, bạc phếch rêu phong. Các vị cao niên bô lão nở hai làng Bình Trung và Dương Phước cho rằng, cây da và cây me đại thụ có tuổi khoảng hai; ba trăm năm nay; bởi vì từ nhỏ, các cụ đã trông thấy nó đứng sừng sững giữa trời rồi. Hai cây da Bình Trung và cây me Dương Phước gắn liền với công việc khẩn hoang vùng Gò Công của lưu dân người Việt hồi thế kỷ XVIII. Câu ca dao ra đời trong bối cảnh đó.

Đầu rồng, đuôi phượng le the,

Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con.

Từ trước đến nay, người ta đều nghĩ câu trên là câu thai đố và vật xuất là buồng cau, cây cau. Nhưng, ở Gò Công, có một số vị bô lão cho rằng, câu ca dao trên xuất phát từ địa thế của vùng Gò Công. Đó là thế “Long đầu phượng vĩ” (đầu rồng, đuôi phượng). Bởi vì, Gò Công, về phía nam, giáp với sông Tiền có ba địa danh có liên quan đến rồng, như rạch Long Uông ở làng Tăng Hòa, rạch Vàm Rồng ở làng Vĩnh Hựu, cầu Long Tượng trên con rạch chảy từ sông Tiền vào làng Thạnh Nhựt. Do giáp với sông Cái, nên phần phía nam Gò Công được người ta xem như đầu rồng, còn về phía bắc Gò Công, có địa danh Vườn Phựơng. Vườn này do một điền chủ, tục gọi là ông Thôn Cựu, lập ra sau khi làng Gia Thuận được khai khẩn hồi giữa thế kỷ XIX. Đuôi phượng đầu rồng chính là từ đó. Khoảng cách giữa phía nam và phía bắc Gò Công là các gò nỗng, trong đó, hai gò lớn hơn hết là Gò Lân ở làng Tân Niên Đông, và Gò Rùa ở làng Sơn Quy. Tất cả những địa danh đó hợp lại thành một bộ “tứ linh”. Và có lẽ vì thế, mà các cụ cho rằng, Gò Công là vùng “địa linh nhân kiệt”; và đó chính là xuất xứ của câu ca dao trên; đồng thời cũng là xuất xứ của câu ca dao dưới đây:

Bóng Lân đã hiện Gò Đông,

Rùa về quy tụ bên sông Tây đài.

Phượng trương cánh Bắc lố mày,

Rồng thiên uốn khúc Nam nhai ẩn mình.

Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng,

Giặc đến nhà chẳng vụn huơ đao.

Đầu năm 1785, quân Xiêm với 2 vạn quân và 300 chiến thuyền tràn sang xâm lược nước ta. Nghĩa quân Tây Sơn, do Nguyễn Huệ chỉ huy, đã tiêu diệt bọn giặc Xiêm trên sông Tiền đoạn từ Rạch Gầm đến Xoài Mút. Nhân dân Mỹ Tho, trong đó có phụ nữ, đã góp phần to lớn vào chiến thắng đó. Phụ nữ Mỹ Tho rất đẹp “mày tằm mắt phượng”; nhưng cũng rất anh dũng, yêu nước “giặc đến nhà chẳng vụng huơ đao”; xứng đáng là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu nối tiếp truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

Bần gie đóm đậu sáng ngời,

Rạch Gầm, Xoài Mút muôn đời oai linh. Do Nguyễn Ánh cầu viện, vua Xiêm xâm lược nước ta. Đầu năm 1785, thủy quân Tây Sơn, do Nguyễn Huệ chỉ huy, từ Quy Nhơn kéo vào đóng ở Mỹ Tho. Với sự tham gia và hướng đạo của nhân dân Mỹ Tho, Nguyễn Huệ đã cho thuyền chiến mai phục ở Rạch Gầm và rạch Xoài Mút. Đây là hai chi lưu trên sông Tiền, khoảng cách giữa hai con rạch là 7km; và Rạch Gầm cách Mỹ Tho khoảng 14km; rạch Xoài Mút cách Mỹ Tho khoảng 7km. Ngày 19-1-1785, mắc mưu của Nguyễn Huệ, toàn bộ hạm thuyền Xiêm gồm 300 chiếc lọt vào trận địa mai phục; và bị nghĩa quân tiêu diệt gần hết. Kể từ đó, “quân Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”. Chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút thật oanh liệt. Từ trong khí thế hòa hùng đó, nhân dân Mỹ Tho có câu ca dao trên để nhắc nhở và tự hào về chiến công hiển hách đó.

Về địa danh Rạch Gầm có nhiều cách giải thích khác nhau. Nhưng, phổ biến nhất, là ý kiến cho rằng, nơi đây, khi lưu dân người Việt đến khai hoang, thì có rất nhiều cọp sinh sống; và chúng rầm rống vang dội cả một vùng; nên bà con đặt tên là Rạch Cọp Gầm. Về sau, người ta gọi tắt là Rạch Gầm. Địa danh Xoài Mút là do nơi đây có loại xoài hột to, cơm ít; muốn ăn thì phải đưa vào miệng mút. Cây xoài mút vẫn còn ở vườn cụ Trác Quan Đồ (84 tuổi), ngụ ở xã Bình Đức (ven rạch Xoài Mút). Ở đây, ngoài địa danh Xoài Mút còn có địa danh Xoài Hột cũng bao hàm luôn nghĩa ấy.

Chẻ tre bện sáo cho dày,

Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau.

Tháng 4-1861, thực dân Pháp tiến đánh Mỹ Tho bằng đường bộ và đường thủy. Để ngăn bước tiến của địch, về mặt đường bộ, nhân dân đã phá cầu, đường và lập các ổ đề kháng; về mặt đường thủy, nhân dân đã làm các sọt, giỏ bằng tre, bên trong chứa đất đá, và cho xuống sông, tạo thành các, “cản” hàn sông, nhằm ngăn tàu chiến dịch. “Chẻ tre bện sáo cho dày. Ngăn ngang sông Mỹ…” chính là vì thế. Và tuy phải tiến hành một cuộc chiến đấu không cân sức với quân Pháp; nhưng nhân dân Mỹ Tho vẫn lạc quan, vẫn hy vọng “có ngày gặp nhau” trong chiến thắng.

Đén Sài Gòn, ngọn xanh, ngọn đỏ,

Đèn Mỹ Tho, ngọn tỏ, ngọn lu.

Anh về học lấy chữ nhu,

Chín trăng em (cũng) đợi, mười thu em (cũng) chờ.

Vào đầu thế kỷ XX, Sài Gòn đã đèn điện “ngọn xanh, ngọn đỏ:’ Mỹ Tho còn đốt đèn dầu mù u ngoài đường “ngọn tỏ, ngọn lu”. Chữ “nhu” do chữ nho nói trại mà ra/ “Học chữ nho” được xem như là biểu tượng của lòng yêu nước, đối ngược lại với bọn tay sai giặc Pháp theo “văn minh Phú Lang Sa”. Câu ca dao nhằm động viên tinh thần chống thực dân Pháp cho nhân dân ta.

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,

Gió nào độc bằng gió Gò Công.

Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng,

Đêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.

Ở Châu Đốc, vào mùa khô, thủy triều xuống rất thấp, nên người thương hồ ngồi dưới ghe nhìn lên bờ, cảm thấy cột đèn ở đây cao hơn các nơi khác.

Trận bão ngày 16-3 năm Giáp Thìn, tức ngày 1-5-1904, đổ bộ vào Gò Công, gây nên cảnh lụt lội, màn trời chiếu đất cho nhân dân ở đây, khiến vợ chồng, con cái phải ly tán, đau khổ. Theo lời kể của các vị cao niên, năm này. Gò Công bị “sóng thần”; các làng ven biển bị tàn phá nặng nề; nước biển tràn sâu vào đất liền, kết hợp với mưa lớn; khiến đồng ruộng, nhà cửa đều bị chìm trong biển nước mênh mông. Thiên tai đã như vậy, cùng với chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp, khiến đời của sống nhân dân ở vùng bị bão lụt vô cùng cơ cực./.

Cập nhật ( 06/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online