Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Quê hương Bà Chúa Liễu (Thuận Thiên)
Quê hương Bà Chúa Liễu (Thuận Thiên) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/03/2009

QUÊ HƯƠNG BÀ CHÚA LIỄU

* Thuận Thiên

Là một trong bốn vị “Tứ Bất Tử” của truyền thuyết Việt Nam (Sơn Tinh, Chữ Đồng Tử, Thánh Giống, Bà Chúa Liễu), vị bất tử thứ tư kể trên đã trở thành tổ của một “đạo thờ mẫu” được coi là một thứ tín ngưỡng manh tính nhân gian và tính việt thuần túy nhất, so với các tôn giáo có nguồn gố “ngoại nhập” (Phật, Lão Thiên Chúa…). “Mẫu” có một quê hương, có một ngày giỗ, có cả lăng mộ hẳn hoi.

Thánh tám giỗ Cha, tháng ba giỗ mẹ. Ngày 8 tháng 3 âm lịch hằng năm là ngày giỗ Mẹ (Mẫu) Liễu Hạnh, ngày lễ chính của Hội Phủ Giày, một lễ hội đông vui bậc nhất nước ta trước cách mạng tháng 8, mở đầu từ ra Tết kéo dài đến hết tháng 3, người ta nói cái tên “Phủ Giày” bắt nguồn từ sự tích Chúa Liễu sau khi được giáng trần lần thứ hai đã đặt tượng nhà vua đương thời (triều Lê) một đôi giày khi vua ghé thăm quê hương trần thế của bà.

Quê ấy là thôn Thiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản (nay thuộc tỉnh Nam Hà). Các truyền thuyết được ghi lại trong “Vân các thần nữ truyện” (Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm) “Liễu Hạnh công chúa diễn âm” (của Nguyễn Công Trứ?), “Vân Cát thần nữ cổ lục diễn âm” (khuyết danh), “Nữ thần Liễu Hạnh” (Ts. Nguyễn Văn Huyên viết bằng tiếng Pháp, in năm 1944) nói về hành trạng của chúa, có thể tóm tắt thành cuâ truyện khá ly kỳ sau:

Ở thôn Thiên Hương có gia đình Lê Thái Công phúc đức, khoảng năm Thiên Hựu (Lê Anh Tông – 1557) bà vợ Lê Công có thai đã quá ký sinh mà thai không chịu xuất. Đúng đêm trung thu, Công được một đạo nhân làm phép đưa hồn lên thượng giới. Công được chứng kiến ngày hội Thiên đình, trong hội có cô tiên nữ là Đệ nhị tiên chủ Quỳnh Nương lỡ tay đánh rơi chén ngọc, bị Ngọc Hoàng giáng chỉ đày xuống hạ giới. Công sực tỉnh vừa lức bà vợ hạ sinh một cô con gái, hương lạ thơm nức cả nhà. Công đặt tên con là Giáng Tiên.

Thôn bên Vân Cát có gia đình họ Trần. Lê Công cho Giáng Tiên nhận Trần Công làm nghĩa phụ. Cách tường nhà Trần Công có một nhà quan, tuổi đã muộn mà chưa có con. Một hôm gặp một bé trai dưới cây bích đào, đem vế nuôi, đặt tên là Đào Lang. Đôi trẻ hợp duyên tài sắc kết thành vợ chồng, sinh hạ một trai gái.

Năm 21 tuổi Giáng Tiên không bệnh mà mất. Sau khi về trời, Quỳnh Nương chủa dứt duyên trần nên ngày đêm buồn bã. Thượng đế thông cảm, lại cho xuống dương gian với sắc phong “Liễu Hạnh công chúa”. Chúa Liễu về trần nhưng không sống với gia đình cũ, mà chu du thiên hạ, tìm nơi danh lam thắng cảnh nghỉ chân. Ở Lạng Sơn, chúa gặp Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), hai bên đối đáp, chúa bèn hiện thành cây đứng giữa đường, trên thân cây có 4 chữ “Mão Mẫu công chúa”. Quan trạng thông minh giảng ngay: Mão + Mẫu + Mộc nghĩa là Liễu Hạnh. Sau đó, chúa còn tái ngộ Trạng Bùng trong cuộc họa thơ kỳ phú ở Tây Hồ.

Trong lần giáng trần lần thứ hai này, chúa Liễu tìm được hậu thân của người chồng cũ ở làng Sóc (Nghệ An), hai bên lại gá nghĩa; sinh được một trai chúa lại về trời.

Sau đó 5 năm, chúa lại xin xuống trần lần thứ ba. Thượng đế cho hai tiên nữ Quế Nương và Thị Nương đi theo. Lần này chúa giáng ở Phố Cát, Sòng Sơn (Thanh Hóa). Chúa thường hiển linh, ai cầu gia ân sẽ đặng, ai chọc ghẹo thì trừng phạt. Triều đình ngỡ là yêu quái, đưa quân cùng thuật sĩ tới đánh, cuộc chiến kéo dài kịch liệt. Triều đình sợ hãi, sắc phong làm “Mã Hoàng công chúa”, “Chế Thắng Hòa diệu Đại vương”. Đến đời       Nguyễn lại gia phong “Mẫu nghi thiên hạ”. (Bản Nguyễn Văn Huyên thì kể: triều đình vời được thiên binh tướng đánh bại chúa Liễu, sau đó chúa được Phật Thích Ca giải cứu, độ về cõi Phật. Vì vậy ngày nay ở nhiều chùa chiền có bàn thờ chúa Liễu).

“Đạo Mẫu” phát triển ở nước ta có ba thời kỳ đặc biệt:

Thời kỳ trình thành (TK 16,17) được đánh dấu bằng việc lập Phủ Giày ở quê Mẫu, Đền sòng nơi Mẫu hiển linh, với sự sắc phong của nhà nước phong kiến. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hiện tượng này biểu lộ sự giác ngộ tinh thần của lớp nho sĩ lúc bấy giờ, họ khao khác xây dựng một kiểu tôn giáo có sắc thái riêng của Việt Nam. Song đáng tiếc là họ không đủ sức để dựng hẳn một triết thuyết, một thần thuyết, một hệ thống thấn linh, quy chế hành lễ và tổ chức tín đồ chặt chẽ để “đạo Mẫu” có thể vượt lên sự thờ cúng tạp thần tự phát của dân gian để trở thành một tôn giáo đúng nghĩa.

Đến đầu thế kỷ XX, có hiện tượng rầm rộ thờ cúng Mẫu khắp Trung, Nam, Bắc (trước và sau cuộc khai thác Đông Dương lần thứ nhất). Các điện thờ mọc khắp nơi. Người ta nô nức kéo nhau đi hội Phủ Giày, đền Sòng (cùng lúc với các hội Đền Kiếp Bạc, Chùa Hương, Điện Hòn Chén, núi Bà Đen…). Hiện tượng này là biểu thị của một tâm thức “về nguồn”, một tỉnh thức của tinh thần dân tộc của người Việt mất nước vào tay thực dân Pháp (xem “Tam tòa thánh mẫu”, Đặng Văn Lung, Nxb Văn hóa dân tộc, 1991).

Thậm chí, ở Bắc Bộ, nhiều “thiện đàn” được lập ra, bên trong chuyên thờ cúng Mẫu, có việc vận động ái quốc (theo Gs. Vũ Ngọc Khánh trong “ Vân Cát thần nữ”, Nxb Văn hóa dân tộc, 1990, có khả năng đây là hình thức khéo léo của các nhà chí sĩ vận động Duy Tân). Người ta chứng kiến những cuộc “giáng bút” của Mẫu thành những bài thơ kêu gọi phục quốc. Thí dụ một bài “giảng bút” ở Nghi Xuân (Hà Tĩnh) có đoạn như sau:

“…Bệnh hèn tìm thuốc chữa

Bày mãi lại thêm ngây

Còn tỉnh hồn sao được?

Gương chị Triệu sau xưa

Biển trung trinh lừng lẫy

Người dạy có thầy bày

Bảo làm sao dậy được?

Chuyện Bà Trưng thuở trước

Hỏi em đã hay chưa

Tiếng anh hùng lừng lẫy!...”

Thời kỳ thứ ba của “Đạo Mẫu” có lẽ đã bắt đầu mấy năm lại đây. Cúng với sự phục hồi các đình chùa miếu mạo, các lễ hội dân gian, ta thấy sinh hoạt “hấu bóng” (lên đồng)- nghi thức hành lễ chủ yếu của “Đạo Mẫu”- trở nên sôi động, hấp dẫn, không những tại các điện, đền thờ Mẫu, mà còn trở thành một tiết mục độc đáo trong hoạt động nghệ thuật sân khấu.

Sau khi có một “festival hầu bóng” của các ông bà đồng thứ thiệt được tổ chức tại Đền Hàng Quạt (Há Nội) năm 1992, được quay vidéo (băng vidéo ấy đã được xếp hạng quý hiếm trong sự săn lùng của Việt Kiều), ta chừng kiến “ba giá chầu văn luôn có mặt trong những cuộc đua tài của các nghệ sĩ chèo, và làm nên sự nghiệp của một Vân Quyền ở Hà Nội, TP.HCM, Paris, London…

Tại Phủ Giày, như ông thủ nhang phủ Tiên Hương Trần Viết Đức cho biết mấy năm nay “tuy chưa được mở hội nhưng đã mở phủ”, con nhang đệ tử cùng khách thập phương, hành hương hay du lịch… kéo về từ mùng 8 tết đến hết tháng 3 âm lịch, lên đến vài chục ngàn. (Trong một vài ngày tháng 3 năm trước, có mặt ở Phủ Giày, chúng tôi đếm được khoảng 700 xe máy, hằng trăm chuyến xe khách đến phủ). Một dãy phố đã mọc lên trên con đường lớn trước cửa Phủ, hàng cơm, quán trọ san sát.

Cụm di tích Phủ Giày đã được xếp hạng di tích văn hóa- lịch sử, gồm hàng chục công trình. Đáng kể nhất là Phủ chính (Phủ Tiên Hương) và lăng chúa.

Phủ chính, kiến trúc tương đối quy mô, quay mặt về hướng Nam với ý nghĩa “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ”- thánh nhân ngồi quay hướng Nam mà nghe thiên hạ tâu bày (theo “Di tích văn hóa lịch sử Phủ Giày”- Tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật 1992). Từ ngoài vào trong, lần lượt bày ra giếng tròn (tụ thủy, tích đức cho thế đất), sân rộng nối với hệ thống nghi môn trụ, 3 tòa nhà ngang (Phương Du, nhà bia và trống, nhà bia và chiêng), tiếp đến hồ bán nguyệt lớn có lan can, bình phong, 2 cầu đá, rồi điện thờ chính 3 lớp. Hậu cung thờ 3 tượng Mẫu: tượng giữa Mẫu mặc cà sa Phật, hai tượng bên là Mẫu trong kiếp tiên và Mẫu trong kiếp tục (vì thế mà gọi là “Tam tòa thánh Mẫu”, đây cũng là biểu hiện lý thú của tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” (Nho-Phật-Lão) trong đời sống tín ngưỡng Việt Nam).

Trong sân sau của Phủ chính, có một cây chuối kỳ lạ luôn luôn trổ buồn hằng trăm nảy, được coi như một nhiệm Mầu của chúa.

Lăng chúa là một kiến trúc độc đáo. Trung điểm là một ngôi mộ xây trên cao, từ mộ ra tới ngoài phải ra 5 lớp tường vây và hai bên cửa đều đặt trụ vuông, đỉnh trụ có hình búp sen, khiến cho tòa lăng có 60 búp lô nhô như một cụm sen đá.

Đến Phủ Giày, khách tha hồ mà xem “lên đồng”, từ sáng tới khuya tiếng đàn sáo, giọng hát văn ngọt liệm vang ra từ Phủ Chính và Phủ công đồng, có lúc 7,8 đám diễn ra cùng lúc. Người ngồi đông phần lớn là các bà các chị nông dân, tiểu thương ở các huyện, tỉnh gần xa, một số bà buôn lớn ở biên giới, Hà Nội, Hải Phòng, cũng có một số ông bà đống chuyên nghiệp.

Ông thủ nhang giải thích tôi mới biết rằng: rất ích khi người ta dám hầu bóng Mẫu. “Mẫu chỉ giáng những lúc có đại sự quốc gia hoặc trong lễ rước mỗi năm một lần”. Thông thường người ta hầu bóng các vị trong “Tứ phủ công đồng” tức là hội đồng các thần thuộc bốn phủ: Thiên – Địa – Nhạc – Thoải (thủy). Có thể kể: năm quan lớn (thanh tra, giám sát, bơ phủ - coi về thủy quân, tiết chế- coi lục quân, tuần, điều thất – có chức năng chánh văn phòng, đây là các quan trên thiên đình); 4 ông hoàng (ông hoàng bơ, ông hoàng mười… đều là các bậc ái quốc hy sinh vì nước mà hiển linh); 4 chúa bà thượng ngàn, 4 cô, 4 cậu v.v. (nữ nghệ sĩ Vân Quyền đã chọn ba “giá” hầu bóng về diễn xuất để nhập vai: cô đôi thượng ngàn, cô bơ thủy phủ, cậu bơ, cung hiến khán giả những màn kịch múa hái hoa bắt bướm, chèo đò, uống rược, múa gươm cưỡi ngựa… vô cùng hấp dẫn).

Ở chỗ này, ta thấy “Đạo Mẫu” qua thời gian đã có sự pha trộn phức tạp, biến thành một thứ đạo gọi tên là “Đạo tứ phủ.

Ý nghĩa của nghi thức lên đồng (hầu bóng) được người ta giải thích như sau: người ngồi (đồng) tỏ lòng yêu kính vị thần nào đó, thần nhận lời sẽ nhập vào người đó, tất nhiên người đó sẽ được ân phước của thần. Các “con nhang đệ tử” ngồi đồng tức là hàng lễ với một tâm linh thăng hoa cao độ. Dĩ nhiên, sẽ không thiếu những tay “chuyên nghiệp” lợi dụng “miệng trần bóng thánh” để ăn nói quàng xiên bịp bợm những người cả tin.

Dưới con mắt của người tìm hiểu văn hóa dân tộc, sinh hoạt hầu bóng, gạt bỏ phần tín ngưỡng, là một hình thức diễn xướng độc đáo Việt Nam phối hợp kịch-múa-ca-nhạc với những đường nét và tiết tấu vẫn còn làm say đắm các khán giả hôm nay. Nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung coi toàn bộ Hội Phủ Giày trước 1945 “là cuộc đại diễn xướng một bản sử thi hoành tráng ca ngợi một anh hùng văn hóa dân tộc có tên là: Lê Thị Liễu Hạnh”.

Các cụ cao niên ở xã Kim Thái say xưa kể cho chúng tôi về hội Phủ Giày một thuở. Ngoài sinh hoạt tính ngưỡng tập trung vào lễ rước Mẫu và hầu bóng, có trò kéo chữ độc đáo. Trò này có hàng nghìn người tham gia. Mỗi người vào kéo chữ, gọi là phu cờ, mặc ào vàng, quần trắng, tay cầm gậy cờ quấn giấy xanh đỏ. Mờ sáng họ tập trung ở bãi rộng trước đền, chia thành bốn điểm rồi múa lượn, kéo nhau vào sân trước bái đường. Cả nghìn người chuyển động theo hướng dẫn, sắp thành chữ để làm lễ. Thông thường họ sắp thành bốn chữ Hán “Mẫu nghi thiên hạ” hay “Thiên hạ thái bình”. Trò này là sáng kiến của bà Phùng Ngọc Đài, một ca nhi tài sắc ở Vụ bản, nhằm tri ân Mẫu sau khi bà được tuyển vào cung chúa Trịnh Tráng, trở thành một vương phi. Cũng liên quan đến việc cúng lễ là cuộc thi mâm nứa. Đây là loại mâm dâng lễ có lẽ riêng có ở Hội Phủ Giày, dùng nứa trẻ rất mỏng, mâm lớn có thể cuộn lại rất gọn để mang đi, lúc bày lễ mới thả ra thành mâm.

Cũng như các lễ hội tôn giáo khác, Hội Phủ Giày trở thành một hội văn hóa lớn, với nhiều cuộc vui, trò vui. Độc đáo nhất ở đây là Hội xẩm. Các cụ nói có năm hàng trăm gánh xẩm khắp nơi kéo về thi tài, hội xẩm đã in dấu vào ca dao, dân ca địa phương:

Đầu làng Phủ Giày có cây chuối

Cuối làng Phủ Giày có cây đa

Bao nhiêu con gái đi xem xẩm mà không biết ca

Thà rằng cởi yếm vật vú vất vào gốc đa mà về.

Hội Phủ Giày còn gắn liền với một kiểu hội chợ thương mại dân gian. Nơi đây trong 3 tháng người ta đem sản phẩm đến bán, giường chõng Vũ Hào, cây cảnh Nam Ninh, chiếu cói Kim Sơn Phát Diệm, đồ đồng từ Thanh Hóa, đồ sắt Vân Chàng, tơ lụa Hà Đông, mây tre Vĩnh Hào… Nhiều chợ trong vùng mở phiên lớn trong dịp này:

Mồng một chơi cửa chơi nhà

Mồng hai chơi điếm mồng ba chơi đình

Mồng bốn chơi chợ Qủa Linh

Mồng năm chợ Trình mồng sáu non Côi (núi đôi)

Cách ngày mồng bảy mà thôi

Bước sang mồng tám đi chợ chơi Viềng

Chợ Viềng năm có một phiên

Làm cho trai gái tốn tiền trầu cau.

(Được biết, hiện giờ chỉ còn chợ Viềng mồng 8 tết trùng với ngày mở cửa Phủ là vẫn còn hội. Các cụ bảo đêm mồng 7, xe Honda từ các nơi, tận Thanh Hóa đổ ra, ánh đèn nối nhau sáng rực vài cây số đến chân núi Côi).

Câu truyện đầy luyến tiếc của các cụ khiến chúng tôi mơ ước một ngày không xa, ngành văn hóa phối hợp với địa phương Vụ Bản, Nam Hà, sẽ tổ chức một hội Phủ Giày mới, hạn chế những yếu tố mê tín, khôi phục những sinh hoạt văn hóa độc đáo dân tộc, chẳng hạn một “festival hát múa chầu văn”, “festical xẩm”...

Cập nhật ( 05/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online