Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Về nơi an nghĩ của ba nữ sĩ (Vũ Văn Luân)
Về nơi an nghĩ của ba nữ sĩ (Vũ Văn Luân) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/03/2009

VỀ NƠI AN NGHĨ CỦA BA NỮ SĨ: ĐOÀN THỊ ĐIỂM, HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ BÀ HUYỆN THANH QUAN

*  Vũ Văn Luân

          Được biết nơi an nghĩ cuối cùng của ba nữ sĩ là quanh Hồ Tây, tôi tìm về Phú Xá xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là cụm 4 phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội) thăm mộ của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Mộ bà, nay nằm ngay trên ngã tư khu tập thể 5 tầng của xí nghiệp bao bì Hà Nội (xưa là nghĩa địa thôn Phú Xá hay còn gọi là Kẻ Xù, xã Phú Thượng). Mộ đã được Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm và Ủy ban nhân dân xã Phú Thượng cho xây cất thành lăng. Di tích khiêm tốn nằm sát mép đường ngã tư bên phải kề với khu nhà tầng cách đê sông Hồng khoảng 100m và cách Hồ Tây qua đường Lạc Long Quân một quãng đồng khoảng 700 – 800m theo đường chim bay.

Đến đây ngắm nhìn cảnh nhớ lại cảnh xưa, một bên là bãi dâu sông Hồng xanh ngút ngát, một bên là đồng lúa, nơi đặt mộ bà. Chắc con đê và bãi dâu xanh xưa nay là bãi mía, đồng hoa, nơi bà đã tiễn đưa người chồng mới cưới chưa đầy một tháng lên đường đi sứ ba năm, rồi đợi chờ, nhớ mong ngày về sum họp, ít nhiều cũng là những dấu ấn sau này đã làm trĩu nặng ngòi bút của bà khi dịch thuật miêu tả cảnh người chinh phụ tuyển biệt chồng ra quan ải dằng dặc một nỗi buồn:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

          Sau 3 năm trở về vợ chồng sum họp. Chẳng bao lâu ông Kiều lại được vua cử đi coi trấn Nghệ An, bà theo chồng rồi mất ở đó. Ông nguyễn Kiều đã đưa phần mộ của bà về quê mình để bà yên nghỉ giữa lòng đất quê hương của ông. Nhiều người cho rằng  thời gian ông Kiều đi xứ ba năm chính là thời gian bà dịch khúc ngâm của Đặng Trần Côn.

          Đặt mình vào hoàn cảnh của người chinh phụ khi dịch tác phẩm một phần là để bà giải tỏa nỗi buồn và cũng một phần để nói lên khát vọng hạnh phúc cá nhân và qua đó tố cáo những cuộc chiến tranh phong kiến đã làm tan nát hạnh phúc của biết bao gia đình, đẩy con trẻ vào cảnh mồ côi, những người vợ trẻ vào vòng gá bụa và những mẹ già vào cảnh mòn mỏi trông con.

          Trở về với Phú Thượng thăm mộ bà, thắp nén tâm hương, một lần nữa khẳng định tác phẩm dịch và tài năng sáng tạo trong thơ văn của bà.

          Sau ngày sinh của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm 70 năm thì Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ nôm cũng cất tiếng khóc chào đời. Bà sinh năm 1772 và mất năm 1822, thọ 50 tuổi. Tuy bà là con gái của cụ Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An và mẹ là người Hải Dương nhưng từ nhỏ đã sống ở phường Khán Xuân với cha. Có một thời gian sống thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư Hà Nội). Cuối đời, sau hai lần tình duyên trắc trở, bà bỏ nhà đi ngao du sơn thủy khắp đó đây, rồi lại trở về vườn Khán Xuân dựng một ngôi nhà nhỏ trông ra Hồ Tây, lấy đó làm nơi ngâm thơ, vịnh nguyệt gọi là cổ Nguyệt Đường. Tương truyền bà đã mất ở đây và phần mộ bà được đặt ở một nghĩa địa ven Hồ Tây. Nghĩa địa ấy nằm ở khu vực nào? Thời gian đã xa hơn hai trăm năm và những người tri âm tri kỷ đã tuyển bà về nơi an nghỉ cuối cùng thì nay cũng đã trở thành người thiên cổ từ lâu, vài bốn đời con cháu hậu duệ của họ dù có được nghe truyền khẩu thì cũng là chuyện hư hư thực thực…sử sách không thấy ghi chép. Năm1842, Tùng Thiện Vương nhân hộ giá vua anh là vua Thiệu Trị ra Bắc tiếp sứ thần nhà Thanh có ghé lại văn cảnh Hồ tây, khi sai người xuống hồ hái sen cúng Phật cúng Thánh trong các di tích, đã chạnh nhớ Xuân Hương mà làm một bài thơ lấy đề là “Long Biên chúc di từ” như sau:

          Đây hồ rực rỡ hoa sen

Sai người xuống hái để lên cúng đàn

          Chớ trèo lên mộ Xuân Hương

          Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng

          Sen tàn, phấn rữa, mồ hoang

          Xuân Hương đã khuất bên đàng cỏ xanh

          U buồn, say tít làm thinh

          Gió xuân mấy độ, tuổi mình không hay.

          Chỉ là một lời nhắc nhủ đủ biết tấm lòng của Tùng Thiện Vương, sự cảm thông và sự đánh giá cao của tác giả về giá trị thơ nôm của bà đối với cuộc đời. Thơ bà là một tiếng thơ ở đời, là phí khách của bà, của một ngời phụ nữ khát khao cuộc sống làm người và tình yêu, đã ngang nhiên phá bỏ những ràng buộc khắc nghiệt của chế độ phong kiến, đòi quyền sống tự do bình đẳng cho giới mình.

          Về ngôi mộ của bà theo lời truyền khẩu của những người làm nghề sông nước Hồ Tây kể lại thì phường Nghi Tàm xưa có nghĩa địa Đồng Táo, là một nghĩa địa lớn trong vùng, bà con phường Khán Xuân thường sang chôn cất, đặt mộ qua ba làng Trúc Lâm ,Trúc Yên và Trúc Quang đắp hồi đầu thế kỷ XVII để ngăn nước hồ đánh cá, nay là đường Thanh Niên. Có nhiều khả năng là mộ bà được đặt ở đây vì hai lẽ:

- Nghĩa địa Đồng Táo nằm ở phía trước chùa Kim Liên, cách chùa một đoạn không xa, gần đây còn ngổn ngang mồ mả bên các nhà cao tầng.

          - Con đập ngăn hồ nay là đường Thanh Niên, vào thời điểm bà mất (1822) đã trở thành một con đường mòn lớn nối phường Khán Xuân với Yên Hoa và Nghi Tàm tiện đường đi lại.

          Nói vậy cũng chỉ là những lời viển vông vì thực tế di tích nghĩa địa Đồng Táo có còn hiện hữa nữa đâu. Một phần đã bị sóng gió Hồ Tây hủy hoại nay chìm sâu dưới mặt nước chọc nữa con sào không tới, một phần nữa là nhà cửa đô thị hóa đã xóa mọi dấu tích của một nghĩa địa.

          Còn ngôi mộ của bà Huyện Thanh Quan thì thật là trớ triêu. Chính làng Nghi Tàm là quê hương chôn nhau cắt rốn của bà và cũng là nơi yên nghĩ cuối cùng mà mộ phần của bà nay không còn nữa.

          Chồng của bà là ông Lưu Văn Ôn người làng Nguyệt Áng, Thanh Trì, Hà Nội. Có thời kỳ ông làm quan tri huyện Thanh Quan, Thái Bình nên người ta gọi tên bà là bà Huyện Thanh Quan. Thực ra họ tên bà là Ngô Thị Hinh, người làng Nghi Tàm, quận Tây Hồ, Hà Nội. Bà sinh năm 1805 và mất năm 1848. Sinh thời, bà nổi tiếng hay chữ, kiến thức rộng nên thời kỳ theo chồng vào làm vệc ở Huế, bà đã được vua Minh Mệnh sung vào chức Cung trung giáo tập để dạy công chúa và các cung nhân. Thời gian đó bà đã được chứng kiến những cảnh vàng son lộng lẫy của vua chúa và cả mặt trái trong bộ máy triều đình. Do vậy năm 1847, sau khi chồng chết, bà đã từ bỏ chốn vàng son đem bốn con nhỏ về quê cha ở đất Nghi Tàm vui cùng dân làng làm nghề trồng cây, trồng hoa giữa cảnh Hồ Tây mênh mang sóng nước mà ấm áp tình người.

          Được biết năm 1848 bà mất. Mộ bà được đặt sát mặt Hồ Tây nhưng sau này sóng gió Hồ Tây làm sạt lỡ không còn tăm tích. Bà con dâng làng còn cho biết một điều đâu xót nữa là đến cả ngôi nhà, mảnh vườn xưa của bà con cháu cũng không còn giữ được ngoài hồn thơ của bà đã được ghi tạc trong ký ức dân gian. Với bà chẳng có đền đài, lăng mộ, nhưng hồn thơ của bà đã tạc vào sóng nước, mây trời, cỏ cây Hồ Tây nay vẫn “trơ gan cùng tế nguyệt” và những giai thoại còn được nhân gian lưu truyền kể lại mãi mãi về tình yêu của bà đối với làng xóm và cảnh vật thiên nhiên Hồ Tây.

Cập nhật ( 05/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online