Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Trưng Nữ Vương (Phương Thảo)
Trưng Nữ Vương (Phương Thảo) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/03/2009

TRƯNG NỮ VƯƠNG - ÁNH SAO BĂNG HUY HOÀNG SỬ VIỆT

* Phương Thảo

Trong lịch sử Việt Nam và lịch sử các dân tộc trên thế giới, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một sự kiện thật kỳ lạ và chỉ xảy ra có một lần: khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc do những người phụ nữ lãnh đạo. Ngay thế kỷ đầu Công nguyên (39-40) dân tộc ta trong đó nòng cốt là nữ giới đã theo lời kêu gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị nổi lên khởi nghĩa thành công, quét sạch ngoại xâm ra khỏi bờ cõi. Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có bốn câu: Bà Trưng quê ở Châu Phong / Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên / chị em nặng một lời nguyền / Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân…

Sách: “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có những vần thơ vịnh Hai Bà Trưng:

Giúp dân dẹp loạn trả thù mình

Chị rủ cùng em kết nghĩa binh

Tô Định bay hồn vang một trận

Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành

Mới dày bảo vị gia ơn trọng

Đã đội hoa quan xuống phúc lành

Còn nước, còn non, còn miếu mạo

Nữ trung đệ nhất đấng tài danh…

Vua Tự Đức cũng đã viết về hai vị anh thư: “Hai Bà Trưng là khách quần thoa, thế mà lòng hăng việc nghĩa, cón làm rung động được triều đình nhà Hán! Dẫu thế lực yếu, thời vận ngửa nghiêng, cũng đủ dấy dức lòng người, rỡ ràng sử sách…”.

Sử gia Lê Văn Hưu từng khâm phục: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay.Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng!”.

Điểm vô cùng đặc sắc trong khởi nghĩa Mê Linh là việc Hai Bà Trưng quy tụ được sự tham gia của phái yếu: từ những đội quân nữ hàn vạn người, đến những vị tướng tài ba thống lĩnh quân đội mà danh tiếng cón mãi đến tận sau này.

Hầu như tất cả các trung tâm khởi nghĩa đều nằm dưới sự chỉ huy của các nữ lưu. Thánh Thiên ở Yên Dũng (Bắc Giang Lê Chân ở An Biên (Hải Phòng); Bát Nàn ở Duyên Hà (Thái Bình); Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Vũ Bản (Hà Nam) nàng Nội Ở Bạch Hạc (Vĩnh Phú), Lê Thị Hoa tận Cửu Chân (Thanh Hóa), Hồ Đề ở Lão Mai (Thái Nguyên), Xuân Nương ở Tam Nông, Phật Nguyệt ở Thanh Ba (Phú Thọ), Nàng Quỳnh - Nàng Quế Châu ở Thanh Đại Man (Tuyên Quang), Đàm Ngọc Nga ở Thanh Sơn, Thiều Hoa ở Tam Thanh, Quách A ở Bạch Hạc (Phú Thọ), Vĩnh Hoa ở Tiên Nha, Lê Ngọc Trinh Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), Lê Thị Lan ở Đường Lâm (Sơn Tây), Phương Dung ở Lang Tài (Bắc Ninh), Trần Nang ở Thượng Hồng (Hải Dương)…

Với Tài năng, uy tính, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tụ hợp được gần 40 vị nữ tướng và trên 20 vị nam tướng dưới ngọn cờ khởi nghĩa Mê Linh.

Hai Bà Trưng là con gái của một lạc tướng huyện Mê Linh, một trong 12 huyện củ quận Giao Chỉ, vốn dòng dõi vua Hùng. Mẹ Hai Bà là Man Thiện Trần Thị Đoan. Chồng bà Man Thiện Mất sớm, bà ở vậy trồng dâu nuôi tằm, chăm lo nuôi dạy hai con gái và cho học võ nghệ.

Dưới thời Đông Hán, chính sách đô hộ và Hán hóa được thực thi cực kỳ quyế liệt, tàn khốc đã gây phẫn uất lớn, kích thích lòng yêu nước và ý chí cứu nước bảo vệ giống nòi của người Việt. Bà Man Thiện hết lòng khuyến khích con gái nuôi chí cứu nước, tiếp nối nghiệp Hùng từ khi còn thơ ấu.

Năm 19 tuổi, Trưng Trắc về làm vợ Thi Sách, một lạc tướng huyện Chu Diên, Thi Sách và Trưng Trắc đã bí mật hình thành một tổ chức có tên núi Tản – Sông Cái để tập hợp nghĩa sĩ bốn phương. Nhưng chẳng bao lâu, tổ chức bí mật núi Tản Sông Cái bị bại lộ, ông Thi Sách bị Tô Định bắt giết.

Hai bà cố nén đau thương, nắm lấy cơ hội phát động ngay cuộc khởi nghĩa và lập Đàn Thề tại vùng Sông Hát (Hát Môn, Phúc Thọ, Sơn Tây) chiêu tập binh sĩ, truyền hịch cứu nước và cử người đi khắp nơi để tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ cứu nước thống nhất.

Mùa xuân năm 40, thời cơ đã đến. Trưng Trắc phát lệnh khởi nghĩa:

“Một, xin rửa sạch quốc thù

Hai, xin dựng lại nghiệp xưa họ hùng

Ba, kẻo oan ức lòng chồng

Bốn, xin vẻn vẹn sở công lênh này”,

Sử Đông Hán chép về cuộc khởi nghĩa Lê Minh như sau: “Tất cả những người Man, người Lý (chỉ chung các thành phần dân tộc Việt Nam thời cổ) ở 4 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh- Nghệ- Tĩnh), Nhật Nam (Quảng Bình- Quảng Nam), hợp phố (Quảng Đông) đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng”… Quan lại Đông Hán ở Giao Chỉ hoảng sợ, bỏ hết của cải, giấy tờ, ấn tín, chạy tháo thân về nước”.

Còn “Đại Nam quốc sử diễn ca” ghi lại khí thế của một trong những đội nghĩa binh Hai Bà Trưng:

“Ngàn tây nổi án phong trần

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên”.

Chỉ trong một thời gian ngắn, 65 thành trì đã lần lượt về tay nghĩa quân và thành Luy Lâu, sào huyệt cuối cùng của thái thú Tô Định cũng bị đạp bằng. Tô Định phải bỏ giáp, cắt râu,cắt tóc và quẳng cả ấn tín tím đường lẩn trốn về nước…

Cuộc khởi nghĩa thắng lợi, sau hơn 200 năm An Dương Vương để mất nước Âu Lạc, những người phụ nữ Việt Nam đã giành lại được non sông gấm vóc.Trưng Trắc lên ngôi vua ở tuổi 26, gọi tên nước là Hùng Lạc, lấy hiệu là Trưng Nữ Vương, đặt kinh đô ở đất Mê Linh. Các quận Nam Hải (đảo Hải Nam ngày nay), Nhật Nam (Trung bộ ngày nay), Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay) cũng nổi lên theo về với Hai Bà Trưng.

Năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ sai Phục Ba tướng quân Mã Viện, một danh tướng khét tiếng của nhà Đông Hán, đem hơn 20 vạn quân sang tái chiếm Giao Chỉ. Các trận chiến ác liệt đã diển ra ở Lãng Bạc, Đông Triều, Yên Phong, Hà Bắc… Dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng, hàng vạn người Việt đã chiến đấu anh dũng và ngã xuống trong các trận chiến đấu ác liệt để bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng. Sau một thời gian dài cầm cự, thế tàn lực kiệt, Trưng Nữ Vương lui quân về đến Hát Giang và bị vây hãm tại đây. Không chịu đầu hàng giặc, hai nữ kiệt gieo mình xuống sông Hát tự vận. Các nữ tướng theo bà bấy lâu đều tự vẫn theo. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm Qúy Mão (năm 43). Năm ấy, Trưng Trắc mới 29 tuổi.

Sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đất nước lại rơi vào thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ hai kéo dài đến 5 thế kỷ (43-544).

Ngày nay, ngoài quê hương Mê Linh, tại phường Đồng Nhân, Hà Nội có ngôi đền cất từ năm Nhâm Tuất (1142) thờ Hai Bà Trưng rất lớn. Tại Hát Môn có miếu Hát thờ Hai Bà Trưng. Rất nhiều nơi trong nước cũng lập đền thờ Hai Bà, ghi tạc danh tiếng hai đệ nhất nữ kiệt nước Việt Nam ta. Sự tích lũy của 40 nữ tướng anh hùng của Hai Bà cũng được nhân dân ta tạc trên bia đá, ghi vào phần phả để đời đời truyền tụng.

Dân gian nói rằng đền thờ Hai Bà rất linh thiêng. Đời vua Anh Tông nhà Lý, gặp năm đại hạn, nhà vua sai Uy Tĩnh thiền sư đến đền thờ Hai Bà để cầu mưa. Cầu đảo xong, trời mưa tầm tã, vua thấy linh ứng bèn cho ra lệnh cho xây lại đền thờ Hai Bà Trưng thêm nguy nga và phong tặng là Trinh Linh Nhị Phu Nhân. Đến đời nhà Trần lại gia phong là Uy liệt Chế Thắng Thuần Trinh Bảo Thượng Lưỡng Phu Nhân.

Để tỏ lòng tôn kính, nhân dân ta hằng năm vẫn tổ chức kỷ niệm Hai Bà Trưng vào ngày mùng 6 tháng 2 Âm lịch. Lễ hội được tổ chức rất lớn trong ba ngày đêm từ đền Hai Bà ở Đồng Nhân ra đến hai bên bờ sông Hồng.

Dù triều đại Hai Bà Trưng chỉ tồn tại được 3 năm ngắn ngủi nhưng đấy là ba năm bừng sáng chói lọi của ý chí độc lập tự chủ không gì ngăn cản nổi của dân tộc cùng tài năng và chí khí lẫm liệt của phụ nữ Việt Nam, mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc trong suốt 800 năm Bắc thuộc lần thứ hai. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã đi qua bầu trời lịch sử Việt Nam như một ánh sao băng huy hoàng.

Cập nhật ( 05/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online