Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 (Võ Thị Diệu Hằng)
Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 (Võ Thị Diệu Hằng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/03/2009

LỊCH SỬ NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8 THÁNG 3

* Võ Thị Diệu Hằng

Ngày Quốc tế Phụ nữ, được  Liên Hiệp Quốc chính thức hóa ngày 8 tháng 3 năm 1977. Trong một thế kỷ qua, người phụ nữ đã giành được sự bình đẳng trước pháp luật  trong  hầu hết các nước trên thế giới. Tuy thế, hiện  nay phụ nữ vẫn  còn tiếp tục tranh đấu ở nhiều nơi. Ngày Quốc tế Phụ nữ, được  Liên Hiệp Quốc chính thức hóa vào ngày 8 tháng 3 năm 1977.  Ngày này cho chúng ta nhớ lại những thành quả đó và cũng để ta suy nghĩ về hoàn cảnh của người phụ nữ  trên toàn thế giới .

1- Nguồn gốc

Ngày Phụ Nữ Quốc tế cũng như những  ngày lễ tượng trưng  khác, không  phải có một nguồn gốc hay một sự việc duy nhất, mà  là thành quả của biết bao là đấu tranh và cũng là cuộc hành trình lặng lẽ của hàng triệu phụ nữ trên thế giới.

Thời cổ Hy Lạp, Lysistrata  bắt đầu cho cuộc tranh đấu chống lại nam giới để chấm dứt chiến tranh.

Lịch sử của ngày Quốc Tế Phụ nữ bắt đầu từ năm 1857 đến 1911.

Ngày 8 tháng 3 năm 1857 các công nhân ngành dệt chống  lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại New York: 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng Ba, các nữ công  nhân Mỹ trong  hãng dệt thành lập công đoàn (syndicat) đầu tiên để được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.

tại Lawrence, Hoa kỳ. Năm mươi năm sau, ngày 8 tháng 3 năm 1908, 15.000 phụ nữ diễn hành trên các đường phố New York để đòi  được giảm giờ làm việc, lương cao hơn và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Khẩu hiệu của họ "Bread and Roses". Bánh mì tượng trưng cho bảo đảm kinh tế gia đình, Hoa hồng tượng trưng cho đời sống tốt đẹp hơn.


Sau đó, đảng Xã hội Mỹ tuyên bố ngày Quốc tế phụ nữ ngày 28 tháng 02 năm 1909


Phụ nữ cử hành lễ này vào ngày chúa nhật cuối của tháng 2 cho tới năm 1913

 

Trong buổi họp mặt Quốc tế, kỳ thứ II các Phụ nữ đảng xã hội, 8 tháng 3 năm 1910 ,100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch là Clara Zetkin, người Đức, đã đề nghị thành lập một ngày quốc tế phụ nữ để nhớ ơn những  người đàn bà đã đầu tranh trên toàn thế giới. Do đó, buổi họp đã chọn ngày 19 tháng 3 năm 1911 để làm ngày phụ nữ quốc tế.  Ngày này đã được hơn một triệu người tham gia trong các nước Áo, Ðan mạch, Ðức và Thụy sĩ.

 Không đầy một tuần sau, ngày  25 tháng 3 năm 1911, 145 nữ công nhân, phần lớn là di dân Ái nhĩ lan và Do thái  của hãng Triangle Shirtwaist Company tại  New York  đã chết trong một vụ cháy trong xưởng dệt.  Họ không có ngõ thoát ra ngoài được: cửa xưởng đã được khóa chặt  để công  nhân không được ra ngoài trước khi hết giờ làm việc (Ðiều này đã thúc đẩy việc sửa đổi luật lệ lao động).

80.000 người diễu hành trong các đường phố đễ đưa đám tang lớn của 145 nạn nhân chết cháy

 

Một năm sau, 1912, 14.000 công nhân hãng dệt đình công và la lớn "Better to starve fighting than starve working"  (Chết đói vì chiến đấu hơn chết đói vì làm việc). Nữ công nhân nghỉ việc 3 tháng.

Sự can đảm của họ đã làm James Oppenheim cảm hứng bài thơ Bred and Roses, bài này thường đi hát trong ngày Quốc tế Phụ nữ.

 

Năm 1912, nhà thơ Mỹ  James Oppenheim (1882 - 1932) viết bài thơ Bread and Roses sau lần diễu hành của 14.000  người đình công tại LawrenceMassachusetts.

 

2- Lịch sử

8 tháng 3 năm 1914

Phụ nữ Đức đòi quyền bầu cử nhưng đến ngày 12 tháng 10 năm 1918 mới được chấp thuận.

 Ngày 23 tháng 2 năm 1917 theo lịch Nga, nhằm ngày 8 tháng 3 dương lịch  các nữ công nhân Nga đã ra đường biểu tình  đình công, đòi bánh mì và đòi trả chồng con họ trờ về từ chiến trận. Cuộc đình công này đã khiến Sa hoàng Nicolas đệ nhị phải thoái vị và góp phần rất lớn vào cuộc Cách mạng tháng 10 ở Nga.

21 tháng 4 năm 1944 Quốc hội Pháp chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ Pháp.  Phụ nữ Pháp đã đi bầu hội đồng thành phố lần đầu tiên vào ngày 20 tháng Tư năm 1945. Trong lúc đó  đàn ông  Pháp đã được đi bầu từ năm 1848 tức là từ một thế kỷ trước 8 tháng 3 năm 1948, tại nước Pháp, 100.000 phụ nữ đã tổ chức một cuộc diễn hành tại Paris, từ  Place de la République đến tượng Jeanne d’Arc

Từ năm 1950 tại Việt Nam, vào ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch mỗi năm đều có tổ chức ngày lễ Hai Bà Trưng ở Sài gòn, và sau đó đã dùng ngày lễ này làm ngày Phụ nữ.  Mỗi năm đều chọn một nữ sinh trường Trưng Vương và một nữ sinh trường Gia Long đóng vai Hai Bà Trưng ngồi trên bành voi trong dịp cử hành lễ.

1971, Thụy Sĩ  chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ.

8 tháng  3 năm 1975, Liên Hiệp quốc bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ. Năm 1977, nghĩa là hai năm sau ngày Quốc tế Phụ nữ, Liên Hiệp Quốc quyết định mời các nước dành một ngày để nói lên quyền lợi của người phụ nữ và hòa bình thế giới. Từ đó Ngày 8 tháng 3 trở thành ngày lễ chung cho nhiều quốc gia.

Ngày nay, ở nước ta ngày 8 tháng 3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại chủ quyền dân tộc. Niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam, một phần cũng có cội nguồn từ truyền thống dân tộc độc đáo đó.

C- Những vị nữ nguyên thủ quốc gia

Vị nữ nguyên thủ quốc gia đầu tiên của thế giới: Suhbaataryn Yanjmaa, nước Mongolia, 1953.

 

 

 

 

 

Suhbaataryn Yanjmaa

Mongolia

Tổng thống

1953

Isabel Peron

Argentina

Tổng thống

1974-1976

Vigdís Finnbogadóttír

Iceland

Tổng thống

1980-96

Agatha Barbara

Malta

Tổng thống

1982-1987

Corazon Aquino

Philippines

Tổng thống

1986-92

Mary Robinson

Ireland

Tổng thống

1990-1997

Ertha Pascal Trouillot

Haiti

Tổng thống lâm thời

1990-1991

Sabine Bergmann-Pohl

Cộng hòa dân chủ Đức

Tổng thống

1990

Aung San Suu Kyi

Myanmar (Burma)

Thủ tướng

Đảng của bà thắng 80% trong lần tuyển cử tự do 1990 nhưng quân đội từ chối kết quả. Bà được giải Nobel Hòa bình năm 1991

Chandrika Bandaranaike Kumaratunge

Sri Lanka

Tổng thống

Thủ tướng1994, Tổng thống, 1994-

Mary McAleese

Ireland

Tổng thống

1997-

Janet Jagan

Guyana

Tổng thống

Thủ tướng, 1997, Tổng thống, 1997-1999

Rosalia Arteaga

Ecuador

Tổng thống

phó tổng thống  và tổng thống 1997-1999

Ruth Dreifuss

Thụy sĩ

Tổng thống

1999-2000

Helen Clark

New Zealand

Thủ tướng

1999-

Mireya Elisa Moscoso de Arias

Panama

Tổng thống

1999-

Vaira Vike-Freiberga

Latvia

Tổng thống

1999-

Tarja Kaarina Halonen

Finland

Tổng thống

2000-

Gloria Arroyo

Phi Luật Tân

Tổng thống

1/2001

Angela Merkel

Đức

Tổng thống

22/11/2005

Ellen Johnson Sirleaf

Liberia

Tổng thống

23/11/2005

Michelle Bachelet

Chili

Tổng thống

15/01/2006

Mary McAleese

Ireland

Tổng thống

1997-2004 tái đắc cử 1/10/2004-2011

Pratibha Patil

Ấn độ

Tổng thống

đắc cử ngày 21/07/2007

 

D- Những vị nữ được giải Nobel

 

Giải Nobel Vật lý:

1903 : Marie Curie

1963 : Maria Goeppert-Mayer

 

Giải Nobel Hóa học:

1911 : Marie Curie

1935 : Irène Joliot-Curie

1964 : Dorothy Crowfoot Hodgkin

 

Giải Nobel Y học

1947 : Gerty Theresa Cori

1977 : Rosalyn Yalow

1983 : Barbara McClintock

1986 : Rita Levi-Montalcini

1988 : Gertrude Elion

2004 : Linda B. Buck

 

Giải Nobel Văn chương

1909 : Selma Lagerlöf

1926 : Grazia Deledda

1928 : Sigrid Undset

1938 : Pearl Buck

1945 : Gabriela Mistral

1966 : Nelly Sachs

1991 : Nadine Gordimer

1993 : Toni Morrison

1996 : Wislawa Szymborska

2004 : Elfriede Jelinek

2007 : Doris Lessing

 

Giải Hòa bình

1905 : Bertha von Suttner

1931 : Jane Addams

1946 : Emily Greene Balch

1976 : Betty Williams

1976 : Mairead Corrigan

1979 : Mère Térésa

1982 : Alva Myrdal

1991 : Aung San Suu Kyi

1992 : Rigoberta Menchú

1997 : Jody Williams

2003 : Chirine Ebadi

2004 : Wangari Maathai

 

Bài hát của ngày Quốc tế Phụ nữ

  • Tiếng Anh: Bread and Roses

As we go marching marching in the beauty of the day

A million darkened kitchens, a thousand mill lots gray

Are touched with all the radiance that a sudden sun discloses

For the people hear us singing: bread & roses, bread & roses!

As we go marching, marching, we battle too for men

For they are women's children & we mother them again

(For men can ne'er be free til our slavery's at an end)

Our lives shall not be sweated from birth until life closes

Hearts starve as well as bodies, give us bread but give us roses

As we go marching, marching, unnumbered women dead

Go crying thru our singing their ancient call for bread

Small art & love & beauty their drudging spirits knew

Yes it is bread we fight for, but we fight for roses too

As we go marching, marching, we bring the greater days

The rising of the women means the rising of the race

No more the drudge & idler, ten that toil where one reposes

But a sharing of life's glories - bread & roses, bread & roses!

James Oppenheim

  • Tiếng Đức: Brot und Rosen

Wenn wir zusammen gehen, geht mit uns ein schöner Tag,

durch all die dunklen Küchen und wo grau ein Werkshof lag,

beginnt plötzlich die Sonne uns're arme Welt zu kosen,

und jeder hört uns singen: Brot und Rosen. Brot und Rosen! ...

Wenn wir zusammen gehen, kommt mit uns ein bess'rer Tag.

Die Frauen, die sich wehren, wehren aller Menschen Plag.

Zu Ende sei: daß kleine Leute schuften für die Großen.

Her mit dem ganzen Leben: Brot und Rosen! Brot und Rosen!

  • Tiếng Pháp: Du Pain et des Roses

Pendant que nous marchons par cette splendide journée

Un million de cuisines sombres et d'usines sont arrêtées

Toutes touchées par l'éblouissement d'un soleil soudain

Au son de nos voix qui scandent «Des roses et du pain!

Pendant cette marche, nous luttons aussi pour les hommes

Aussi enfants des épouses et mères que pour eux nous sommes

Nous ne travaillerons pas éternellement à la sueur de nos fronts

Le cœur a faim lui aussi : du pain, mais aussi des roses nous voulons

Cập nhật ( 05/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online