Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Người phụ nữ vĩ đại của Phật giáo (Phạm Kim Khánh)
Người phụ nữ vĩ đại của Phật giáo (Phạm Kim Khánh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/03/2009

NGƯỜI PHỤ NỮ VĨ ĐẠI : MAHA PAJAPATI GOTAMI

* Piyadassi Mahathera

* Phạm Kim Khánh dịch

Cuộc đời và tiểu sử Bà Maha Pajapati Gotami, sự xuất gia của bà và sau đó sự thành lập Giáo Hội Tỳ kheo Ni (Bhikkhuni) là một trong những mẫu chuyện sáng chói và hấp dẫn nhất trong văn học Phật Giáo. Nó biểu lộ cùng lúc trí tuệ thấy xa và lòng nhân đạo của Đức Phật Đại Từ Đại Bi. Hơn nữa nó cho thấy đến mức nào năng lực hùng mạnh của sự quyết tâm bất khuất, bất thối chuyển và lòng quả cảm của một thiếu phụ có thể gieo ảnh hưởng đến xã hội đương thời. Nó cũng cho thấy như thế nào một sự can thiệp làm trung gian để thỉnh cầu đầy lòng từ ái, có thể giúp làm mềm dịu lập trường cứng rắn nhất và dẫn đến tình trạng thân hữu và mềm dẻo hơn.

Trên hết, đây là một giai đoạn đầy hiểm hóc có những thành quả sâu xa nhất trong lịch sử giải thoát hàng phụ nữ. Hai ngàn năm trăm năm sau thời Đức Phật, cuộc vận động để giải phóng nữ giới vẫn còn được mạnh mẽ tiếp diễn khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, hơn hai mươi lăm thế kỷ về trước Đức Phật đặc ân công nhận và cho phép hàng phụ nữ được xuất gia và gia nhập vào giáo hội, mặc dù không khỏi phần nào do dự. Người trực tiếp đảm đang trách nhiệm đưa vượt qua khúc quanh lịch sử, giải phóng nữ giới, không ai khác hơn là Bà Maha Pajapati Gotami vĩ đại.

Giữa nhóm các mệnh phụ phu nhân đã có ảnh hưởng trên bước đường giải phóng nữ giới, bà trổi lên là vị nữ anh hùng nổi bật. Bà đứng hàng đầu các bà tín nữ của Phật. Đức Phật chỉ định cho bà địa vị quan trọng nhất về tuổi tác cũng như về kinh nghiệm. Nhưng nếu không có lòng dũng cảm kiên trì và bất khuất của bà trước những bất trắc chồng chất, giới Phật tử không bao giờ biết có Giáo Hội Tỳ kheo Ni.

Bà sanh trưởng tại thị trấn Devadaha của xứ Ấn Độ cổ xưa, trong gia đình Suppabuddha. Bà là em của Hoàng Hậu Maha Maya, mẹ Thái Tử Siddhattha. Tên tộc bà là Gotami. Người ta gọi bà là Maha Pajapati Gotami bởi vì các nhà tiên tri đoán rằng về sau bà sẽ trở nên vị lãnh đạo của một nhóm người rộng lớn. “Maha” có nghĩa lớn. “Pati” là người dẫn đầu và “Paja” là một nhóm đông người có tổ chức. Vua Suddhodna, trị vì dân tộc Sakyan tại Kapilavattu, cưới luôn cả hai bà, Maha Maya và em là Gotami. Theo quan niệm xã hội của người thời bấy giờ, một cuộc hôn nhân như thế ấy không có chi là lạ và vẫn thích hợp với tập tục đương thời.

Bà Gotami sanh một gái tên là Sundari Nanda và một trai tên Nanda. Về sau cả hai đều gia nhập vào Giáo Hội. Hoàng Hậu Maha Maya băng hà sau khi hạ sanh Hoàng Tử Siddhattha được bảy ngày. Trong một cử chỉ cao cả, hy sinh tình mẫu tử, bà Gotami giao con lại cho người khác nuôi dưỡng và lãnh lấy trọng trách thiêng liêng dưỡng dục và chăm sóc con của chị mình. Dưỡng nuôi và chăm sóc vị Phật tương lai, bà không những được toàn thể Phật tử trên thế gian tri ân, mà cũng đặt Thái Tử Siddhattha vào vị trí phải mang trọng ân đối với bà.

Lòng biết ơn không phải là phẩm hạnh chung của người tầm thường, nam cũng như nữ. Tuy nhiên, đó là dấu hiệu nổi bật của chư Phật. Đó là một trong những đức hạnh chánh yếu và đặc thù của chư Phật. Cũng chính lòng tri ân này, trong số những lý do khác, đã thúc giục Đức Phật cuối cùng tán thành lời thỉnh cầu khẩn thiết và bền dai của Bà Gotami và chấp nhận bà vào Giáo Hội Thánh Thiện của chư Tỳ kheo Ni.

Khi Vua Suddhodana băng hà Bà Gotami, lúc ấy đã không còn chị, không còn chồng và con (con bà đã gia nhập vào Giáo Hội Tăng Già), quyết định từ bỏ thế gian và những gì rực rỡ sáng chói của kiếp nhân sinh phàm tục và trở về nương tựa trong cuộc sống không nhà cửa. Bà xin được xuất gia, nhưng Đức Phật không chấp thuận.

Ngày kia Đức Phật đến thành Kapilavattu để giảng hòa một cuộc tranh chấp dữ dội giữa hai dân tộc, Sakyan và Koliyan, đang dành quyền xử dụng nước của dòng sông Rohini. Sau khi cuộc cãi vã cay đắng đã được dàn xếp ổn thỏa và hai bên dịu giọng, như thường lệ, Đức Thế Tôn mở lời thuyết giảng Giáo Pháp, và sau khi lắng nghe thời Pháp một số đông người trai trẻ Sakyan xin gia nhập vào Giáo Hội chư Tỳ kheo. Các bà vợ của những vị ấy, do Maha Pajapati Gotami hướng dẫn, đến xin xuất gia với Đức Bổn Sư. Các bà khẩn khoản van xin như sau: “Bạch Đức Thế Tôn, thật là một đại hạnh cho nữ giới nếu hàng phụ nữ chúng con được chấp nhận gia nhập vào Giáo Hội Tỳ kheo Ni để khép mình trong khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật mà Ngài công bố”.

Tuy nhiên, Đức Phật không sẵn sàng khích lệ thỉnh nguyện của Bà Gotami và trả lời, “Đủ rồi, này Bà Gotami, Như Lai không thể làm vừa lòng Bà và chấp nhận như vậy.” Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba Bà Gotami lập lại lời thỉnh cầu, nhưng mỗi lần đều bị từ chối. Sau đó, Đức Thế Tôn lần hồi sang thành Vesali và ngự trong một đền thờ trên đỉnh núi. Bà Gotami vẫn không nao núng, không ngã lòng vì những đợt thỉnh nguyện bất thành, mà bền gan cam chịu mọi khổ nhọc và đương đầu với nghịch cảnh, quyết định theo chân Đức Thế Tôn đến Vesali cùng với một số mệnh phụ phu nhân có niềm tin nơi bà. Nơi đây ta mục kích sự biểu dương tinh thần dũng cảm bất khuất của bà, đáng gợi lòng ngưỡng mộ và tôn kính của mọi người.

Cắt lìa những chùm tóc đẹp đẽ một thời nào, vứt bỏ những đồ trang điểm giàu sang tráng lệ, và khoác lên mình tấm y vàng thô thiển, các bà cam chịu khổ nhọc đi bộ, trải qua đoạn đường dài 150 dặm đến Vesali. Vốn chưa từng quen thuộc với những thử thách quá cam go dường thế ấy trong quá khứ, các bà chiến đấu và vất vả khổ nhọc trăm bề trên cuộc hành trình. Dài theo đường, nhiều người thấy vậy rất cảm kích, sẵn lòng hào hiệp nhường chỗ trên xe, nhưng các bà lễ độ khước từ và tiếp tục nhọc nhằn lê bước. Cảnh tượng thật não nề và rất đáng thương tâm. Cuối cùng các bà đến Vesali, suy yếu và kiệt quệ, đùng trước cổng chùa, mình mẩy lấm lem cát bụi - y phục nhăn nhó tả tơi, chân cẳng sưng vù đau nhức.

Đại đức Ananda, vị thị giả trung thành và rất tận tuỵ, người hầu cận thân tín và cần mẫn siêng năng của Đức Phật, thấy cảnh tượng khổ đau như vậy, động lòng trắc ẩn, đến gần Đức Bổn Sư và bạch như sau: “Kính bạch Đức Thế Tôn, Bà Gotami cùng với đoàn tùy tùng đang đứng phía trước điện, vẻ mặt hốc hác mệt nhọc, sức lực kiệt quệ. Các bà ấy phải đi đường xa tìm đến gặp Đức Thế Tôn để khẩn khoản thỉnh nguyện. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài từ bi cho phép nữ giới được xuất gia làm Tỳ kheo ni, trong khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật mà Đức Thế Tôn đã công bố. Đây sẽ là một đại hạnh, bạch hóa Đức Thế Tôn, nếu Ngài cho phép hàng phụ nữ được gia nhập vào Giáo Hội”.

Ba lần Đại Đức Ananda cố nài xin, nhưng Đức Phật một mực từ chối. Tuy nhiên, Đại Đức Ananda cũng không nản lòng. Khi một người thành thật và kiên trì cầu khẩn cho người khác và tập trung cố gắng nhằm làm mềm dịu một thái độ cứng rắn thì không có lý do gì để từ bỏ triển vọng. Lúc bấy giờ Đại Đức Ananda áp dụng đường lối khác, kính cẩn bạch đấng Toàn Giác như sau: “Bạch hóa Đức Thế Tôn, người phụ nữ có khả năng thành đạt những mức sống cao thượng trong đời sống tinh thần - bốn tầng thánh (1)- một khi họ từ bỏ cuộc sống tại gia, tiến đến đời sống không nhà cửa, tự khép mình vào khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật của Đức Thế Tôn?” “Có, này Ananda, họ có đủ khả năng làm được vậy” (2), Đức Phật trả lời.

Tiến được một bước vững chắc trong chiều hướng thuận lợi, được khích lệ, Đại Đức Ananda thiết tha khẩn bạch, “Bạch hóa Thế Tôn, nếu hàng phụ nữ có đủ khả năng đạt thành thánh quả, như vậy Bà Maha Pajapati Gotami mà trước kia đã nuôi Đức Thế Tôn bằng sữa của bà, đã bồng bế Ngài trong lòng sau khi hoàng hậu thăng hà và sau đó dưỡng nuôi chăm sóc Ngài cho đến lúc trưởng thành, vậy, bạch Đức Thế Tôn, hàng phụ nữ có thể được phép gia nhập vào nếp sống không nhà cửa, trong khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật mà Đức Thế Tôn đã công bố?” Đến đây Đại Đức Ananda đã chạm đến một điểm rất tế nhị. Đại Đức đã đề cập đến vấn đề biết ơn, và biết ơn là một đức tính được chư Phật hết lời tán dương và thâm sâu thấm nhuần. Trước lời khẩn cầu nồng nhiệt của Đại Đức Ananda, Đức Phật không thể làm gì hơn là thuận lòng.

Tuy nhiên, với trí tuệ nhìn xa và hiểu rộng, Đức Thế Tôn có thể thấy những hiểm họa và những khuyết điểm không thể tránh trong việc điều hành song song hai Giáo Hội Tăng Già cùng một lúc. Do đó Ngài ban hành một vài điều kiện và quy định về giới luật cho Giáo Hội chư Tỳ kheo Ni nhằm giữ gìn và bảo vệ tương lai cho cả hai Giáo Hội. Những điều kiện được ban hành là:

1. Môt vị Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ do sự thọ trì cụ túc gìới (upasamapada) phải chào hỏi một vị Tỳ kheo, đứng dậy trước mặt vị Tỳ kheo, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ kheo, mặc dầu vị này mới thọ cụ túc giới trong ngày hôm nay.

2. Một Tỳ kheo ni không thể nhập hạ (vassa) ở một nơi mà không có Tỳ kheo.

3. Vào mỗi ngày sám hối (một tháng hai lần), vị Tỳ kheo ni phải hỏi Giáo Hội chư Tỳ kheo ngày giờ nào một vị Tỳ kheo đến hành lễ phát lồ (uposatha) (3).

4. Khi mãn thời gian an cư kiết hạ mỗi vị Tỳ kheo ni phải thọ lễ tự tứ (pavarana) (4) trước cả hai Giáo Hội, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (để kiểm thảo xem trong ba điểm: thấy, nghe và hoài nghi, mình có làm điều chi lỗi lầm không).

5. Một vị Tỳ kheo ni đã phạm một trọng tội phải chịu hình phạt manatta  (5) trước cả hai Giáo Hội, Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni.

6. Một nữ giới tử (sikkhamana, trong thời gian học tập) đã có tu tập sáu giới trong thời gian hai năm, có thể thọ trì cụ túc giới với cả hai Giáo Hội, Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni.

7. Bất cứ trong trường hợp nào một vị Tỳ kheo ni không quyền khiển trách hay nặng lời một vì Tỳ kheo.

8. Kể từ hôm nay Tỳ kheo ni không được làm lễ sám hối cho Tỳ kheo, nhưng Tỳ kheo ni có thể hành lễ sám hối cho Tỳ kheo ni.

Những giới luật và điều kiện trên đây phải được tôn trọng, khâm sùng, kính cẩn tuân hành, và nghiêm túc thọ trì suốt đời, không được vi phạm dầu bất cứ trường hợp nào.

Giờ đây Đại Đức Ananda đã học nằm lòng với Đức Thế Tôn tám giới chủ yếu ấy, đến gặp Bà Maha Pajapati Gotami và trao truyền lại bà. Bà Gotami hoan hỷ lãnh giáo, chấp thuận nghiêm trì tám giới chủ yếu ấy và nguyện trọn đời không vi phạm (6). Sau đó bà Gotami xuất gia. Bà đến trước Đức Phật và đảnh lễ. Đức Bổn Sư thuyết giảng cho bà một thời Pháp và ban truyền cho bà một đề mục hành thiền. Bà Gotami, vị đệ tử có tâm đạo nhiệt thành, thực hành đúng theo lời giáo huấn, hành thiền, khai triển tuệ minh sát (vipassana) và chứng đắc Đạo Quả A La Hán cùng với bốn patisambhida (7), tri kiến phân tách. Về sau các đệ tử của bà cũng đắc Quả A La Hán khi Ngài Trưởng Lão Nandaka (8) chấm dứt một thời Pháp giảng cho các bà. Trong khi cư ngụ tại Vesali, Bà Gotami nhận biết rằng cuộc đời của bà sắp kết liễu, đến đảnh lễ từ giả Đức Phật và viên tịch - lúc ấy bà được một trăm hai mươi tuổi thọ.

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo một Giáo Hội Nữ Tu Sĩ được thành lập và nữ giới được chấp nhận vào đời sống tu viện. Cánh cửa đã rộng mở để cho hàng phụ nữ xuất gia, đặc ân cho phái nữ gia nhập vào một Giáo Hội Nữ Tu Sĩ đã được ban hành. Giáo Hội Tỳ kheo Ni sớm được thành lập, tốt đẹp và vững chắc. Nhiều bà ở lứa tuổi lớn khôn, các bà khác giữa độ thanh xuân và những bà khác nữa tuổi hạc đã cao đến mức hoàng hôn của cuộc đời, tất cả đều gia nhập vào Giáo Hội Tỳ kheo Ni. Họ đến thật đông - hạng người giàu sang sung túc và những người nghèo khổ bần cùng, người dốt nát và người có trình độ văn hóa sâu rộng, người chất phác thật thà và người nhiều học thức - họ đến từ các nẻo đường của đời sống và xin gia nhập vào Giáo Hội Thánh Thiện của chư vị Tỳ kheo Ni. Giáo Hội tồn tại trong nhiều trăm năm. Những vị Tỳ kheo ni này, sau khi đã gia nhập vào Giáo Hội và thành đạt giải thoát cuối cùng, bắt đầu thốt ra những lời tán dương và những khúc ca khải hoàn hay thánh thi, như người ta gọi, được góp nhặt trong một quyển sách có tên là Therigatha (những bài Thánh Thi của các Trưởng Lão Ni, hay Trưởng Lão Ni Kệ). Những bài thánh thi này nói lên mức độ phỉ lạc mà các bà đã kinh nghiệm trong khi xuất gia và sau đó khi thành đạt chánh quả.

Câu hỏi đôi khi được nêu lên là Đức Phật có đặt Ni Bộ dưới quyền của Tăng Bộ chăng. Câu hỏi thật sự không cần được nêu lên, bởi vì Đức Phật khai sáng hai giáo hội riêng biệt tách rời và sinh hoạt song song, và không có ý định làm cho giáo hội nào sẽ kiểm soát giáo hội nào. Giáo Hội chư Tỳ kheo có những vị tăng trưởng, hai vị đại đệ tử ấy là nhị vị Trưởng Lão A La Hán, Sariputta và Maha Moggallana. Cùng thế ấy, bên Ni Bộ cũng có hai vị Ni Trưởng, tức hai vị A La Hán Kherna và Uppalavanna. Sự kiện Đức Phật không bao giờ có ý định đặt Giáo Hội Tăng Già, tăng bộ hay ni bộ, dưới quyền kiểm soát của một người hay một nhóm người, được lời dạy của Ngàì trong kinh Đại Niết Bàn, Mahaparinibbana Sutta, cho thấy tỏ rõ. Nơi đây Ngài tuyên bố không bao giờ có ý rằng Ngài, là vị Phật, phải kiểm soát Tăng Già (Sangha). Theo Đức Phật, Tăng già không bao giờ có nghĩa là một cơ cấu được hàng ngũ hóa, được tổ chức thành đoàn, phải sùng bái và trung thành phục tùng một vị giáo chủ duy nhất. Nhưng đây phải là một tập đoàn của những người nam và những người nữ tự do, nhiệt thành dấn thân vào nhiệm vụ cao cả là thành đạt Niết Bàn, giải thoát cuối cùng cái tâm. Và những vị này có đủ tự do tư tưởng và hành động trong một cơ cấu gồm những người trang nghiêm, thấm nhuần những lý tưởng cao thượng, cố gắng bắt tay vào công trình cao cả là phá vỡ những xiềng xích của vòng luân hồi, samsara, những kiếp sống triền miên lập đi lập lại.

Câu hỏi thường được nêu lên là Đức Phật do dự, không sẵn sàng cho phép nữ giới gia nhập vào Giáo Hội, có phải vì Ngài xem nữ giới là thấp kém hơn nam giới và nghĩ rằng họ không thích hợp với một khuynh hướng cao cả như vậy không. Giải đáp cho câu hỏi là không bao giờ, không có lần nào, Đức Phật công bố rằng người nữ thua kém người nam, bất luận trên phương diện trí thức hay cương nghị hay khả năng thành đạt Niết Bàn.

Chỉ có thể giải thích sự do dự của Đức Phật trên căn bản là Ngài có thể nhận thấy rằng nếu người phụ nữ gia nhập vào đời sống tự viện thì phẩm hạnh cốt yếu của người sống độc thân, vốn dĩ rất cần thiết cho sự điều hành suôn sẻ của một tự viện, sẽ bị ảnh hưởng và tổn thương. Và cũng vì điều này mà Ngài ban hành tám gìới hay điều kiện bảo vệ. Chính tám giới này tạo điều kiện để điều hành tốt đẹp hai cơ quan trong tinh thần trang nghiêm và thích hợp với tâm tánh người nữ. Cũng chính tám giới này đã hổ trợ trạng thái điều hòa và thuận thảo và đem lại tình giao hảo thích nghi giữa Tỳ kheo và Tỳ kheo ni.

Không nên diễn dịch bất cứ như thế nào sự chấp thuận muộn màng của Đức Phật là Ngài chấp nhận tánh cách yếu đuối hay suy nhược của người phụ nữ. Theo một lối, đó là phương tiện để chỉ cho cả hai, chư Tỳ kheo và chư Tỳ kheo ni hiểu rằng sự hình thành Giáo Hội Tỳ kheo Ni từ giai đoạn sơ khởi đã mang theo với nó một vài yếu tố hiểm nguy, và nếu không có những phương sách dự phòng, trong tương lai có thể xảy ra những bất trắc khó lường.

Sự chấp thuận cuối cùng biểu lộ trí sáng suốt thâm sâu của Đức Phật và khả năng thấy xa trong tương lai hậu quả của bất cứ sinh hoạt nào. Nó cũng cho thấy sự biết ơn và lòng bi mẫn mênh mông như trời biển của Ngài bao gồm mọi tầng lớp và tất cả mọi loài chúng sanh. Nên ghi nhận rằng công trình nghiêm túc hành trì tám giới này có một vai trò rất trọng yếu và có rất nhiều ý nghĩa để gìn giữ tình trạng thanh khiết và thánh thiện của hai Giáo Hội trong một thời gian rất lâu dài. Chính tám giới trọng yếu này (được gọi trong tiếng Pali là garu-dhammas) là tảng đá vững chắc làm nền để xây dựng kiến trúc đồ sộ và công trình sinh hoạt chảy trôi suôn sẻ của hai Giáo Hội.

Cái quyền to lớn và đặc ân mà Bà Maha Pajapati Gotami đã tranh đấu và thành công, tức quyền của nữ giới được gia nhập vào Giáo Hội Thánh Thiện, quả thật là quan trọng trong lịch sử tôn giáo. Chí đến ngày nay còn nhiều hệ thống tôn giáo hưng thạnh trên thế giới vẫn chưa chịu nhượng quyền cho hàng phụ nữ thọ giới tu sĩ. Cũng có một số ít tôn giáo đã nhường cho nữ giới quyền xuất gia, bắt đầu hoài nghi rằng không biết nhân nhượng nhiều quyền như thế mình có sáng suốt không, và đặt câu hỏi có cần bước sang giai đoạn này không.

Đức Phật nổi bật là một trong số ít các vị giáo chủ của nhân loại đã nâng cao hàng phụ nữ lên một vị trí xứng đáng trong đời sống, bằng cách cho phép nữ giới gia nhập vào Giáo Hội Tỳ Kheo Ni, và như vậy, mở ra một chương sách hoàn toàn mới trong lịch sử giải phóng của người phụ nữ.

 

Trích từ quyển “Phật Giáo, Nhìn Toàn Diện” của dịch giả Phạm Kim Khánh, Sài Gòn, Việt Nam, 1996. (Nguyên tác: “The Spectrum of Buddhism” tác giả Piyadassi Mahathera).

---------------------------------------------

(1) Tầng thánh đầu tiên là nhập lưu (sotapatti, cũng gọi là tu đà huờn); tầng thánh thứ nhì là nhất lai (sakadagami, tư đà hàm); thứ ba là bất lai (anagami, a na hàm); và thứ tư, bậc thánh cuối cùng, là a la hán (arahatta), giai đoạn mà tất cả mọi thằng thúc đều bị phá tan và mọi nhiễm ô đều được bứng tận gốc rễ.

 (2) Anguttara Nikaya, Tăng Nhứt A Hàm, 4: 276; Vinaya, Tạng Luật 2: 254.

 (3) Vào ngày rằm và ngày mồng một khi chư tăng cu hội để đọc Patimokkha hay Giới Bổn.

 (4) Buổi lễ cử hành nhằm chánh thức chấm dứt mùa nhập hạ.

 (5) Một hình thức trừng phạt thuộc về giới luật.

 (6) Anguttara Nikaya, Tăng Nhứt A Hàm, 4:274 ff.

 (7) Sự hiểu biết có tánh cách phân tách về: 1. ý nghĩa (attha), ii. kinh điển (dhamma), iii. ngữ nguyên (nirulli) và iv. thông hiểu rõ ràng ba điểm trên.

 (8) Majjhirna Nikaya, Trung A Hàm, 146, bài giảng của Đại Đức Nandaka cho các bà Tỳ kheo ni.

Cập nhật ( 05/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online