Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Tuệ Tĩnh Đường arrow Nỗi niềm ngọc quế Trà My (Huỳnh Văn Mỹ)
Nỗi niềm ngọc quế Trà My (Huỳnh Văn Mỹ) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/03/2009

NỖI NIỀM NGỌC QUẾ TRÀ MY

* Huỳnh Văn Mỹ

Trập trùng trong hệ Trường Sơn, sùng sững với Ngok Linh, Ngok La Dang, thẳm sâu với sông Tranh, sông Trường, đất rừng Trà My chính là vương quốc của cây quế Việt Nam. Nổi tiếng khắp thế giới với tên gọi “Trà My cao sơn ngọc quế”, nhưng cuộc sống của những người trồng quế từ bao đời nay vẫn hết sức khó khăn.

Lần giở biên niên

Khó ngờ là thị trấn Trà My – cái phố chợ có tên khá đẹp nhưng nằm giữa những vách núi cao ngất, từ xa xưa đã có người Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Thật ra, điều này chỉ khó hiểu với những ai ko biết rằng Trà My là “đất quế” của Amarâvati xưa và của Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay.

Nhiều cổ thư A Rập còn ghi lại, từ các thế kỉ trước Công nguyên . các thương thuyền Ai Cập. Ba Tư đã đến tận vùng kinh đô Chămpa để mua quế. Chắc chắn là sau khi hình thành phố cản Hội An, những thương gia Hoa kiều đã tìm đến Trà My để kinh doanh nguồn thổ sản quý giá này. Bia mộ của một người Hoa còn lại ở chợ Trà My cho thấy họ đã đến đấy chí ích là 200 năm trước. Cho đến khi thực dân Pháp đồn trấn tại thị trấn Trà My, đã có khoảng 50 hộ Hoa kiều sinh sống tại dây chủ yếu với việc kinh doanh, khai thác quế. Có thể hình dung cái thủ phủ quế Trà My ngày ấy phồn thịnh ra sau khi biết rằng người Hoa đã xây dựng ở đây 3 ngôi chùa lớn cho hai bang phái Quảng Đông, Phúc Kiến của mình. Riêng chùa Quảng Đông, để tạo tính cách độc đáo cho kiến trúc, họ đã chuyển sang từ Hong Kong những chiếc tránh, xuyên bằng đá thay vì dùng những loại gỗ quý có đầy nơi rừng Trà My…Không chỉ Hoa kiều, những người Việt có máu kinh doanh, thích phiêu lưu trên những nẻo đường rừng cũng đã ở đất Trà My. Có thể nói, Trà Mỳ sớm trở thành đất chợ giữa rừng sớm hơn bất kỳ một nơi khu khuất, hiểm trở nào khác ở Quảng Nam – Đà Nẳng là chính nhờ cây quế vàng ngọc của mình.

Những Hoa kiều, những thương lái người Việt già nua còn sống ở thị trấn Trà My đã vẽ lại bức tranh mùa quế ngày xưa khá sinh động, hấp dẫn. Khoảng đầu tháng 2 âm lịch, những người Kor, Ca-dong, Mơ-nông, Xơ-đăng- nhữn cư dân của đất rừng Trà My – sau khi thử lột và thấy cây quế bắt đầu tróc vỏ đã thông báo cho mọi người biết. Thông tin về mùa quế tiên đó nhanh chóng lan xuống chợ Trà My – nơi có bản doanh quyết định sự khởi động mùa vụ. Nhưng không chỉ với một mùa tiên, thương những người trồng quế lưng trần khố rách quanh năm nơi rừng thẳm, thiên nhiên đã ân hậu thêm cho họ một mùa quế đậu kéo dài từ khoảng cuối tháng tám đến hết tháng chín âm lịch. Mỗi thương lái cầm đầu một đội quân phu, kẻ dắt trâu, người gánh gong, mang xách những thanh la, chiêng cồng, nồi đồng, rựa rìu, vải vóc, rượu thịt – những vật phẩm người vùng cao quý chuộng – để đổi quế. Mỗi thương lái một phường bọn, một con đường và một vùng quế quen thuộc. Cả Trà My trùng trùng non xanh núi thẳm đã được những lái quế thời đó biện biệt thành hai đường chính. Đường nước ấy là những vùng chạy dọc theo sông Tranh với những địa danh quế có tiếng: Xâng Xung, Phục Lục, Nước Ca, Xường Rỉa, Giác Gioan, Tung Bôn, Nước Íp, Bàn Ron, Triêng, Man Xiêm, Long Yâng, Giác Trang… nay là các xã Trà Dơn, Trà Len, Trà Tập, Trà Pui…Đường bộ ấy là những vùng đối mặt với đường nước, xa cách sông Tranh, bao gồm những vùng giàu quế: Gò Oi, Tăk Chanh, Mang Tra, Tu Du, Tu Chân, Giác Tố, Bàn Chăn, Tănk Dơn, Loon Lái, Năng, Xà Dệt, Riềng, Gò Xen, Trà Văn…nay thuộc các xã Trà Don, Trà Mai, Trà Vân, Trà Giác, Trà Giáp…Những lái quế đến. Những nóc làng khó nghèo, hiu hắt bổng rộn lên. Những cây quế lớn ngã xuống. Những gùi quế đầy lên. Người vùng cao cùng với phu Kinh oằn vai gùi quế về chợ Trà My. Những vựa quế của các hàng hiệu Phước Ký, Lữ Lạc, Thái Phước Hưng, Tạ Cẩm Kỳ, Lữ Tích Ân, Lữ Hồng Ân, Phước Hưng…đầy lên từng ngày. Cơm canh, rượu thịt của các hàng hiệu tuôn ra để làm đẹp lòng những người bán quế chốn rừng sâu. Có lẽ, với người vùng cao thời đó, vui nhất với họ là năm hai lần được gùi quế xuống chợ Trà My, ăn uống no say và được gùi về làng gùi muối…

Quế về ! Những phường thợ kẹp quế, những người làm thuê từ Tam Kỳ, Tiên Phước dồn lên Trà My làm công cho các hàng hiệu. Từ miếng quế tươi nơi thăm thẳm ngàn xanh cho đến thanh quế kẹp có hình dáng số 3, gộp dồn thành hàng trăm tấn để các hàng hiệu đưa thẳng sang Hong Kong càn6 đến không ít công sức chế biến của con người. Mỗi khi đến mùa thuế, người từ các vùng lân cận chỉ còn biết tuôn đến Trà My để làm lụng kiếm tiền. Chính xác các dịch vụ  phong phú của quế đã giúp những kẻ cùng khốn này có được 2 đồng rưỡi quý hóa mang về nộp thuế - một khoảng tiền không dễ gì kiếm được ở 9âu thời đó. Mùa quế! Ấy là sự khẩn trương, sôi động, là nỗi trông chờ của miền ngược, vùng xuôi. Khắp Trà My, từ chợ trấn cho đến những nóc làng sâu khuất giữa đại ngàn, đâu cũng mùi quế, mùi rượu, mùi tiền, đâu cũng tiếng nói cười, tiếng bước chân dồn dập, tát cả đều cho cuộc mưu sinh, cho những tính toan dựa vào đất quế và cây quế…

Và những điều xưng tụng

Với người vùng cao Trà My, cây quế là tài sản. Nó nói lên sự giàu nghèo của một gia đình, một làng nóc hay cả một vùng. Đó cũng là loại cây sự nghiệp của người dân sống nơi đất rừng sâu khuất. Mỗi người chết đi, của cải để lại cho con cháu chính là cây quế. Bởi thế, mỗi năm một ít, mỗi người, mỗi nhà đều có trồng thêm quế. Nhờ sự khai tác chừng mực, điều độ, ngày trước mỗi nhà luôn có những vườn quế nối nhau chờ bán. Hơn cả thế, họ cũng luôn có những cây quế lớn cho sản phẩm thượng hạn,  nhất là vùng uqế đường nước với câu ca lưu truyền “dầu Nước Ca, da Phục Lục”. Chính vùng đường nước đã cho các thương lái và các hàng hiệu trúng to khi gặp được những thanh “bạch chỉ phân du” – những thanh quế có đường chỉ phân đôi vùng dầu nổi lên ở đầu thanh quế. Cũng là nổi vui mừng của các lái quế khi họ mua được những ây quế to, dù mỗi cây như thế họ phải đổi cho chủ quế một con trâu lớn, và những đồ đạt kèm theo. Những cây quế này được gọi là quế cây. Với chúng, khi khai thác mỗi cây được biện xếp thành một lô riêng biệt để khi về kho vựa, các hàng hiệu sẽ đặt cho mỗi cây một tên riêng bằng cách dùng mộc đóng chữ vào thanh quế tươi. Với những thanh quế “có tên tuổi” này, các hàng hiệu không khi nào xuất bán hết cùng một lúc nhằm tăng giá trị cho sản phẩm của mình. Họ biết chắc, đơn đặt hàng sắp tới người mua sẽ yêu cầu họ bán cho những thanh quế có chữ nào còn lại, chẳng hạn họ sẽ  đòi mua chho kỳ hết những thanh quế có chữ Xuân. Đương nhiên, lúc bấy giờ các chủ quế (hàng hiệu) sẽ nâng giá thích đáng cho sản phẩm quý hóa còn lại cuả mình. Quả là nghệ thuật buôn bán khôn ngoan của các Hoa Kiều. Sang Hong Kong, những thanh quế quý lại được các chủ buôn (chăm sóc” thêm một lần nữa để tăng thêm giá trị món hàng. Họ làm hộp bằng giấy gương, đặt thanh quế tam sơn - ở Hong Kong quế kẹp hình số 3 được quen gọi là quế tam sơn bởi hình dạng số 3 giống như là ba quả núi – vào hộp, trên một mảnh lụa hay nhung với hàng chữ định danh “Trà My cao sơn ngọc quế” và dĩ nhiên họ cũng không quên vài dòng định lượng và định giá cho thanh quế quý. Ở Hong Kong, có được một thanh quế như thế để bày biện tong nhà là niềm tự hào của chủ nhân với khách khứa, bạn bè. Và thật quý khi nó được dùng làm quà biếu tặng…

Những quý và thiết dụng nhất với con người là quế rừng của Trà My. Quế rừng mọc ở nơi rừng sâu núi vắng. Lá quế rừng nhỏ hơn là quế thường và vỏ thì khác hẳn, tuyền một màu xanh lục và mịn láng. Bấm móng tay vào vỏ, lập tức sẽ nhận ra vết bấm màu đỏ trên vỏ quế. Vì sự quý hiếm của quế rừng, người ta đã thuê dệt khá nhiều huyền thoại về nó.

Quế rừng quý nhưng để có một miếng quế thượng đẳng đòi hỏi một quy trình thử nghiệm công phu bởi những lái quế ngày trước. Người ta họt bỏ cho kỳ hết lớp vỏ bên ngoài của miếng quế rừng, sau đó chưng cách thủy. Sau chừng 30 phút, người ta dùng miếng giấy quyến để thử màu. Nếu nước quế trong chung có màu như màu nước đậu xanh hay đục như sữa thì đó là loại quế rừng thượng tặng. Nếu là màu phấm hoang hay màu nước chè là là loại thứ cấp. Nhưng sắc màu còn phải ứng với hương vị, người mua loại dược liệu quý giá này còn phải nếm múi nước quế. Đã có màu nước vừa ý lại được vị quế ngọt, thơm và cay rất nhẹ nơi đầu lưỡi, thì không còn gì bằng./.

Cập nhật ( 05/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online