Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Người canh tân nghệ thuật
Người canh tân nghệ thuật PDF In E-mail
Người viết: Administrator   
04/06/2008

Người canh tân nghệ thuật bằng tinh thần nhập cuộc

Không phải ngẫu nhiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam lại xuất hiện khá sớm hình ảnh nhà sư với tinh thần nhập cuộc “Nhất chi mai” và cũng vì thế, trong bức tranh thiền học Việt Nam đã in đậm dấu ấn về những thiền sư cũng đồng thời là những thi sĩ. Nói một cách khác thì, có phải hình non thế núi, một bên là cái chông chênh, oai vĩ của vạn lý Trường Sơn một bên là độ gập ghềnh uyển chuyển của bờ biển Thái Bình Dương mà đã mang lại cho cả dân tộc này một cảm thức vốn đã trở thành biểu tượng: đó là Hồn thơ và Ý kiếm. Vừa can trường, quyết liệt vừa bao dung, bay bổng.

          Điểm một nét son nói trên để khi tìm hiểu lịch sử Nhạc lễ cổ truyền Nam Bộ, chúng ta sẽ không quá bỡ ngỡ, ngạc nhiên khi hình ảnh của nhà sư Nguyệt Chieu lại song hành cùng hình ảnh một Nghệ nhân văn hóa đích thực, nói như nhà khảo cứu Trần Phước Thuận thì đó là “ Một gương mặt – hai cuộc đời”.

          Thật ra, nếu tìm hiểu ngọn nguồn của lịch sử âm nhạc thế giới nói chung, từ thuở sơ khai, âm nhạc luôn gắn liền với những tập tục thờ cúng, nói chung là Tín ngưỡng dân gian. Từng bước tách dần tín ngưỡng, âm nhạc đi vào đời sống sinh hoạt của mọi người dân lao động – không loại trừ một góc âm nhạc Cung đình đã dần dần phá bỏ những rào cản cung cấm để hòa nhập vào đời sống hằng thường; hoặc sức lan tỏa âm nhạc đã vượt cái hàng rào nghiêm ngặt kia để du nhập vào đời sống khuôn vàng thước ngọc. Vì thế, trên hành trình khai phá âm nhạc cổ truyền, cụ thể là Nhạc lễ Cổ truyền, những bậc tiền bối đã không bị sức ngăn cản nào, nếu có thì mọi lực cản đều bất lực trước tình yêu nghệ thuật và cảm thức nhập cuộc - sáng tao – vốn là bản chất của dân tộc như trên đã trình bày.

          Cuộc đời của sư Nguyệt Chiếu – dù tôi chỉ mới tiếp cận trên những bản khảo cứu còn tồn đọng nhiều nghi án nhưng cũng dễ dàng nhận ra: ông sinh ra giữa thời tao loạn – mảnh đất phì nhiêu để dưỡng nuôi lòng yêu nước, thương người. Và cũng chính trong thời loạn ấy, khát vọng và ước mơ bao giờ cũng ít nhiều nghịch lý với thực tế hiện diện, và điều đó càng tạo điều kiện để tư chất sáng tạo – sáng tạo như một động thái phản kháng thời cuộc trỗi dậy trong ông và bao nhiêu bậc nghệ nhân – nghệ sĩ khác.

          Có thể xem cuộc “ thoát ly” sau cuộc chống Pháp bất thành của sư Nguyệt Chiếu vào tận vùng Sài Gòn – Gia Định là bước chuyển quan trọng trong đời ông để phần nào cảm nhận, việc “ thoát tục” của ông cũng đã được biểu hiện trên tinh thần Tự giác chứ không tự phát. Thoát tục nhưng đúng trên tinh thần Thiền tông Việt Nam, ông chọn thái độ Nhập cuộc. Công trình canh tân và hiệu đính bảy bản Bắc Lớn là sự biểu hiện đó.

          Thử nhìn sang lĩnh vực văn học đầu thế kỷ XX, chúng ta sẽ nhận thấy: Cũng vào thời điểm đầu thế kỷ XX, có một thế hệ nhà thơ, trong đó phải kể từ người khởi xướng cho một dòng thơ chuyển bút lông sang bút sắt Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và những người tiên phong của Phong trào thơ Mới. Thơ của họ ngoài ca ngợi cái Đẹp của tình yêu nam nữ, tình yêu quê hương… Không ít người đã có lúc cực đoan phủ nhận, cho rằng các thi sĩ thơ Mới đã không hòa nhập vào cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc. Xin thưa, với kẻ sĩ, vào thời loạn, khi họ không trực tiếp cầm súng bảo vệ quê hương thì những vần thơ ca ngợi tình yêu, tình quê, tình người có khi còn sắc bén hơn cả giáo mác, có ý nghĩa công phá vào thành lũy ý thức hệ người dân, khích lệ thái độ sống làm sao để bảo vệ tình yêu, tình quê, tình người ấy.

          Trong quá trình canh tân, hiệu đính, sáng tác của mình, sư Nguyệt Chiếu nói riêng, các bậc nghệ sĩ tiền bối của Nhạc lễ cổ truyền Nam Bộ nói chung đã không làm kẻ lạc loài. Họ dùng âm nhạc như một phương tiện để “tải đạo”, đạo không chỉ của riêng ai mà Đạo của cả dân tộc đang đi tìm sự khai phá sự tự do, độc lập. Bởi nếu tìm lại một loạt bài ca mới ở thời kỳ này sẽ thấy toát lên tinh thần mà tôi vừa nêu: Thỉ tổ Hồng Bàng (Lưu thủy trường), An Dương Vương (Phú lục), Hai Bà Trưng (Xuân tình), Đinh Tiên Hoàng (Xàng xê)… Âm nhạc là phương tiện để chuyển tải những trang lịch sử quật khởi chống ngoại xâm; nếu không vì mục đích khơi gợi lòng yêu nước thì không lẽ nào họ lại hướng và tập trung về chủ đề hào hùng, tráng ca ấy.

          Vì thế, nếu xét về mặt thi pháp học, những công trình canh tân, hiệu đính của sư Nguyệt Chiếu, Hậu tổ Nhạc Khị… không chỉ mang rõ quan niệm nghệ thuật là Chân thật, Mới mẻ, Trữ tình…- Vị Nghệ thuật mà còn xác lập một thái độ sống, chính xác hơn là một Nhân sinh quan – thế giới quan Vị Nhân sinh. Điều đó đã cho thấy, nghệ thuật ca – kịch Cải lương, từ điểm khởi nguồn đã xác lập rõ vị trí, thế đứng của mình, ấy là hòa vào mạch ngầm văn hóa của dân tộc. Men theo dòng mạch ấy, sức sống của âm nhạc Cải lương đã vận hành theo quy luật Mở (Open), với những nhát cắt nghệ thuật mà bao giờ cũng tuân thủ một nguyên lý sáng tạo duy nhất: cái Mới.

          Cũng thông qua những cuộc đời và trước tác các bậc tiền bối của Nhạc lễ cổ truyền, có một điểm khiến chúng ta không khỏi suy ngẫm. Trước hết, sinh thời, hầu hết họ đều có nghịch cảnh. Nghịch cảnh bản thân, hơn thế còn là nghịch cảnh của đất nước. Chính sự mâu thuẫn giữa nghịch cảnh với giấc mơ sáng tạo đã vô hình tạo nên những nghệ sĩ bậc thầy của nền nghệ thuật cải lương ở bước đầu sơ khai như thế. Hơn nữa, những sáng tác có tính canh tân của họ, vốn xuất phát từ dòng âm nhạc cung đình nhưng qua tâm hồn, cuộc sống của những con người một nắng hai sương đã nảy sinh những thang âm điệu thức mới. Trên cơ sở vẫn tuân thủ tính chất “ Lòng bản”, họ đã mang vào trong những sáng tác của mình hơi thở của cuộc sống trên đồng ruộng, dưới sông ngòi, trong suốt hành trình đi mở cõi. Chính điều này đã tạo nên một nét văn hóa – đúng hơn là bản chất văn hóa của phương Nam – đó là Văn hóa Mở với hai nguyên lý Động và Tĩnh được kết hợp hài hòa trong nhau rất biện chứng.

( Có thể minh họa bằng một đoạn trong bài Đảo Ngũ Cung – trong vở Hoàng hậu của hai vua (biến thể từ Nam Đảo của ca Huế) và bước chuyển Ai cuối cùng). Những biến đổi âm vực, âm thanh đều phục vụ cho tâm lý và tâm trạng nhân vật. Vấn đề là ở Cải lương, những xử lý mang tính khoan nhặt, linh động và có hiệu ứng cao. Cao trào là khi luận về thời thế đảo điên nhưng để chiêm nghiệm thế thái, lại dùng một nốt để trở Ai – Động và Tĩnh được kết hợp nhuần nhuyễn trong một cấu trúc Âm nhạc Mở.

          Nghệ sĩ hậu sinh như chúng tôi đã thụ hưởng cả một kho tàng âm nhạc mà công lao của người tiên phong, hẳn nhiên không thể không kể đến là Hậu tổ Nhạc Khị, sư Nguyệt Chiếu, Nhạc sĩ Ba Chột, Soạn giả Trịnh Thiên Tư… Thời gian qua, trong niềm vui đạo vị của một nghệ sĩ, một Phật tử, tôi cũng đã có bắt tay chuyển thể sang Cải lương một số Đại tạng kinh, cũng không ngoài ý muốn dùng nghệ thuật để tải Đạo, đưa những triết lý sâu xa của Đạo vào trong nguồn âm nhạc cải lương để mục đích cuối cùng: thanh lọc tâm hồn bằng cái Đẹp, bằng sự Thức tỉnh. Trong quá trình thực hiện, tôi nhận thấy rằng: không còn sự phân biệt, làn ranh giữa mot ngôn ngữ nghệ thuật hay ngôn ngữ triết học mà cả hai đã thật sự hài hòa, thống nhất trong nhau. Điều đó, thiết nghĩ, từ mấy mươi năm trước, chính tình yêu, lòng đam mê và trách nhiệm sáng tạo, gìn giữ vốn quý của dân tộc đã được nghiệm sinh một cách không mệt mỏi thông qua các công trình nghệ thuật có giá trị của sư Nguyệt Chiếu.

          Chúng ta đang ở thời điểm, không chỉ cư dân của cộng đồng mạng mà cả những công dân có trách nhiệm đều đang cùng nhau bình chọn cho Vịnh Hạ Long trở thành một trong những kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Còn với cả một nền văn hóa Phi vật thể - truyền khẩu như Nhạc lễ cổ truyền – âm nhạc Cải lương thì lẽ nào chúng ta không tự mình bỏ phiếu cho một Kỳ quan nghệ thuật đang được chính công chúng khán giả hiện nay bảo lưu, phát triển. Tôi nghĩ, tính chất và phạm vi của cuộc hội thảo hôm nay không chỉ và không nên đóng lại bằng những bài tham luận hay đúc kết thành một tập Kỷ yếu mà chúng ta cần kết nối (connect ) để trực tuyến ( online) đến với nhiều đối tượng những di sản nghệ thuật mà các bậc tiền nhân của Nhạc lễ đã khởi động ( Power) và tìm tòi – đặt một nền móng cơ bản cho sự phát triển bền vững của dong âm nhạc Cải lương ngày nay. 

          Nghệ sĩ Tiến sĩ BẠCH TUYẾT

 

Cập nhật ( 05/06/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online