Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Lạm bàn về bài thơ Phong kiều dạ bạc (Lai Quang Nam)
Lạm bàn về bài thơ Phong kiều dạ bạc (Lai Quang Nam) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/03/2009

LẠM BÀN VỀ BÀI THƠ PHONG KIỀU DẠ BẠC  CỦA TRƯƠNG KẾ

* Lai Quang Nam

Bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế ra đời cách nay trên 1200 năm, được nhiều nhà thơ tên tuổi ở Việt Nam dịch vì vậy nó được lưu truyền rộng rãi. Trương Kế quê ở Tương Châu, tỉnh Hồ Bắc nhưng khi chu du ở bến Phong Kiều, bên cạnh dòng sông phía Tây thành Cô Tô thuộc Tô Châu, tỉnh Giang Tô… thi nhân gặp cảnh trí non nước hữu tình nên hồn thơ nhập vào. Chùa Hàn San ở Tô Châu mà Tô Châu có lịch sử rất lâu đời, thành phố cổ kính và thơ mộng này được xây dựng từ thời Xuân Thu dưới triều đại nhà Ngô vào năm 514 trước Công nguyên nhưng chỉ mang cái tên như hiện nay dưới thời nhà Tùy vào năm 589 sau Công nguyên, và đã trở thành di sản của thế giới ở vùng bờ biển phía Đông Nam Trung Hoa…

Nhắc đến Tô Châu Tô Châu, phải kể đến thời đại xa xưa từ thuở Hạp Lư, vua nhà Ngô, người đã ra lệnh cho hai cận thần Ngũ Tử Tư và Tôn Võ xây dựng thành Tô Châu. Hình ảnh nàng Tây Thi, một trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa; có Ngôn Yển, một trong 10 học trò lớn của Khổng Tử; hai anh em Tôn Quyền, Tôn Sách; có Trương Húc, một trong ba nhà thư pháp Trung Hoa xuất sắc nhất của mọi thời; có thi hào Bạch Cư Dị và rất nhiều văn nhân, các nhà danh họa cổ, cận và hiện đại... Nghệ thuật thư pháp và tranh thủy mặc Tô Châu cũng nổi tiếng khắp Trung Hoa. Nơi chốn có nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt vời ở trần gian và cũng là nơi nổi tiếng về tơ lụa… Vì vậy, Trương Kế khi lạc vào nơi chốn nầy, “tức” cảnh “sinh” thơ.

Phong Kiều Dạ Bạc (Bản phiên âm)

1. Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

2. Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

3. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

4. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Trương Kế

 

Bản dịch của Tản Đà:

(Một thái sơn bắc đẩu trong làng dịch thơ Đường)

1) Trăng tà, tiếng quạ kêu sương

2) Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.

3) Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

4) Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Và  bản dịch của cụ Bùi Khánh Đản (cũng là một thái sơn bắc đẩu trong làng dịch thơ Đường)

 

1) Trăng lặn, sương mờ,nghe tiếng quạ

2) Lửa chài cây ánh giấc chưa yên

3) Cô tô bên mái Hàn San tự

4) Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền .

(Ấn bản 2006, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, nxb Văn Học )

 Khi  lấy bản dịch của cụ Tản Đà làm chuẩn, bởi lời dịch của cụ mượt mà, đôi khi hơi ẩu và cương, trong một bài khác, Chúng ta  thương yêu cụ  - bởi trong hòan cảnh của cụ vào thời điểm ấy - cơm áo gạo tiền bám lấy thi nhân,  dịch như vậy là giỏi, chỉ tiếc  một đièu là các thế hệ sau không  “retouche” lại, mà có khi dịch còn tệ hơn, thật hết biết !

“Cụ Tản Đà hãy tha cho kẻ hậu sinh vì tội phạm thượng, khi đau lòng mà nhận xét về bản dich của cụ”.  Cụ có tha thì kẻ hậu bối là dân ngoại đạo trong làng văn nghiệp báo mới dám lạm bàn, các người yêu văn nghệ xin hiểu  chuyện bất đắc dĩ này, LQN nghĩ rằng  ngày tết cụ  cũng hể hả mà  đánh bài đại xá, và thấy  cụ   cười hì hì, - bởi lúc bài thơ của cụ đăng báo thì LQN đang theo Tôn Ngộ Không, lúc “cha con chưa về với mẹ con”  thì chắc cụ  đâu có chấp nhất mần  chi ! “

Xin vào chuyện với kẻ hậu sinh nghe cụ

Bài thơ của Trương Kế là một bài tứ tuyệt, rất tuyệt. Trong quyển Giai Thoại Nhà Văn Thế Giới của Thái Doãn Liễu và Hoàng Liên, nxb Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội 1996, đề cập đến lai lịch bài thơ PKDB với dòng kết: “Bài thơ tứ tuyết rất hay đã hoàn thành và được truyền tụng mãi đến tận ngày nay, luôn nhắc nhở người nghệ sĩ muốn sáng tác tốt phải tyhâm nhập vào cuộc sống chứ không thể ngồi viết trốn ở giữa bốn bước tường trong tháp ngà nghệ thuật của mình”.

Câu 01:  Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Đây là một trong tám cảnh ước lệ, người xưa chọn  khi làm thơ hay vẽ trang

1)  chim nhạn sa bãi cát .

2)  cảnh chợ chiều ở chân núi

3)  cảnh thuyền buồm ở bãi xa về

4)  xóm thuyền chài lúc buổi chiều

5)  tiếng chuông chùa vẳng trên núi

6)  bóng trăng thu trên hồ Động đình 

7)  tuyết sa trên sông lúc gần tối

8)  Đêm mưa trên sông tương

Như thế, câu này thì cũng bình thường như “thiên hạ” – nhưng cái ngặt là thơ thất ngôn của Tàu, như là một sự thống kê, và cách ngắt câu rất dồn dập

Nguyệt lạc //  ô đề // sương mãn thiên .

Vậy chữ nào chủ đạo trong câu này  ?

Có lẽ  chữ nào cũng quan trong, nhưng thơ hơn họa chính là chữ  “ô đề”, có tiếng quạ, như vậy bản dịch không bỏ được chữ này... Ai đã ở quê, nhất là  Quảng Nam mà nghe tiếng quạ kêu thì rất buồn,

Qua ! qua !   là tiếng quạ kêu, trong một bài khác thơ  của Lý Bạch, thì Lý Bạch dùng chữ hình tượng là á  ! á ! – Tàu khác Việt là vậy?

Ở Quảng Nam, trong nhà mà có người đau nặng mà nghe tiếng quạ, ông bà mình sợ lắm .

“sương mãn thiên” cũng  là chữ  quan trọng, cụm từ được dùng hỗ trợ cho câu  cảnh chùa và tiếng chuông cảnh tỉnh ở câu 4

  Câu 02:  Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

  a) Đến câu này thì cả hai vị lão bối đã “ bỏ qua một trong các mắt thơ, PHONG – là một loai cây ở xứ hàn đới, phong là cây  báo hiệu cho mùa thu – mùa thu  lai đến , mùa thu  là mùa của thi nhân, mùa của suy tư, … Cây phong là cây biểu tượng cho đất  nước Canada, nhất là ai từng đén bắc Mỹ, vùng  phía đông bắc  của nước MỸ thì không thể nào cầm lòng khi thấy rừng phong  đổi sắc .mình thì chưa đén mỹ chỉ xem hình ! ô hô!

  Cả hai bản dịch – đều đã bỏ chữ phong,

  b) Nhưng mắt thơ trong câu này còn có  chữ quan trọng hơn đó là  chữ  “đối”

Chứ đối  dùng trong hai trường hợp tương phản nhau trong tiếng việt:

- đối  là cùng nhau  (ví dụ  đối ẩm  cùng nhau đối mặt  uống rượu, cùng vui)

- đối   còn mang ý nghĩa  tương phản nhau (ví dụ đối thủ)

Chính chữ đối này mà bao nhiêu Giáo sư Viêt văn của chúng ta  đã say sưa giảng – và ý thơ càng trở nên lung linh hơn... Vậy thì chúng ta  phải giữ nguyên chữ đối trong câu thơ dịch, chữ đối hòan tòan việt hóa rồi, và  đã hàm ý rồi ?

  03: Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

  Câu này không có gì, thuần túy chỉ là sự miêu tả, nhưng chứ Hàn San không bỏ được, bỏ địa danh này thì  khiến ta thấy thiếu thiếu..?, và chính chữ “hàn  san”  cũng khiến ta cảm thấy thêm thi vị, nếu bạn là người cầu tòan, hàn san  núi cũng lạnh vì cõi nhân gian !

  04: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

  Câu này coi bộ dữ a!

  Dạ bán / gần sáng rồi, nghĩa là sự thao thức suốt đêm, nghía là gần tàn đêm – cụ  BKĐ – không đạt  rồi

Chung thanh – tiếng chuông ! – lại là một ý tưởng lung linh mang đầy màu sắc Phật giáo Đông phương, quá đả ! 

Đáo – cũng là một  chữ hay – dịch là “viếng”, thì là trân trọng người thi nhân  trong thuyền, nhưng đã là dân xứ Quảng thì nên dùng chứ đáo hơn, bởi khi phát âm, họ lưu giữ cái dư vị rượu sau cái khề khà, hóm hỉnh của phong cách Quảng   mà đọc là “đố”, rồi để sưa sai bèn thách thức người nghe là tôi đố ông đó, ai ngủ, ai thúc nào, có bao nhiêu người thao thức !

Nửa  đêm  vẳng tiếng boong …! bu…. đáo thuyền ….

Chu choa ơi !  dân Quảng, khi ngà ngà không giữ ý dám đọc “sang” thành nữa  đêm  nghe tiếng  boong …! bu….”đố”  thuyền  .

“đố” đó – thuyền nhân, lại đụng từ “thuyền nhân” – chữ dể xúc cảm trong dòng lịch sử dân tộc !

Chữ dễ sợ, “”đố “” đó ! thuyền nhân ngủ hay thức !

Boong ! …. là tiếng chuông gần [nghe lại Boong ! …. Boong !...

Bu ! …….. là tiếng chuông ngân xa xa . [nghe lại Bu ! …. Bu! ]

Ai là dân đất Quảng, nửa đêm nghe chuông chùa Phật học ngồi đạy học bài thì mới đả ! Thật sung sướng thay được làm dân Quảng để nghe thơ Đường, do âm vị, các từ a, ê, ăn, en, ao,  ô., ua, oai…  cho nên sẽ có nhiều cái hóm hỉnh khi người Quảng đọc thơ đường do LQN  liều mạng dịch  để quên nổi buồn xa xứ. Đọc lai toàn bài

Bản phiên  âm

1.- Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

2.- Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

3.- Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

4.- Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Bản dịch của Lại Quang Nam

Qua ! qua ! sương phủ, trăng tà

Đèn thuyền phong rủ  đối già giấc thu.

Hàn San qua lớp sa mù,

Nửa đêm,  vẳng vẳng...  boong!... bu!... đáo thuyền .

Già giấc thu đúng ra là phải viết già Giấc thu – chữ già là một préfixe - già là hơn một nữa, đây chính là  chữ  miên trong chữ Tàu.

rủ: rủ rê, rủ  là  xụ xuống, cùng dấu hỏi, có chứ rũ dấu ngã là đông từ ũ rũ

qua: là trạng  từ ,  nhưng  “ qua”  còn là động từ  vươt qua

Chùa Hàn San đứng ngoài cái  u u minh minh của cõi nhân gian.

Trong một bản dịch khác  theo thể  song thất lục bát, LQN co dịch là sương âm u... để tăng thêm cái sân si nơi trần thế! Thiện tai.

Xin đọc lại  của người xưa và so sánh dùm

Đối chiếu bản dịch của  cụ Tản Đà và cụ Bùi Khánh Đản… kẻ hậu sinh LQN hơn bốn thập niên xa quê cha đất tổ nhưng hình ảnh quê hương của thủơ học trò vẫn thoáng hiện trong tâm tư nên cảm thấy bài PKDB gần gũi với mình.

Có nhiều bài viết về Phong Kiều Dạ Bạc với địa danh nơi đó để tìm về cội nguồn xuất xứ của bài thơ của Trương Kế. LQN xin trích bài viết của Nguyệt Cầm. “Hơn nghìn năm trước, Trương Kế với bài thơ Phong kiều dạ bạc viết trong một đêm trăng ở chùa Hàn San đã lưu dấu thành Cô Tô "một tên gọi khác của Tô Châu" vào thi ca. Rồi Bạch Cư Dị, một trong những thi hào lớn nhất thời Đường, người từng có thời gian trấn nhậm đất Tô Châu và yêu mến vùng đất tuyệt đẹp này nên đã viết nên nhiều vần thơ ca ngợi nó. 

Cho đến hôm nay, hơn 1.500 năm sau những bài thơ của Bạch Cư Dị (ông làm tri phủ Tô Châu từ năm 825), Tô Châu vẫn thật đáng ngợi ca: chỉ trong phạm vi khu phố cổ thôi đã có đến sáu thắng cảnh được UNESCO xếp hạng di sản thế giới (trong toàn bộ chín di sản nhân loại ở Tô Châu). Thế nhưng, ngôi chùa nổi tiếng Hàn San lại bị lọt khỏi danh sách này.

Tô Châu có tới trên 60 hoa viên cực đẹp, mỗi hoa viên cũng đủ níu chân người. Khách đến đây không chỉ chiêm ngưỡng các tác phẩm bất tử của nghệ thuật xây dựng nhà vườn Trung Hoa mà còn để lắng nghe, sống lại với người xưa, trong đó có rất nhiều danh nhân Trung Hoa từng in dấu giày qua những lối đi lát đá quanh co của các khu vườn đầy kỳ hoa dị thảo, hay trong những mê cung bằng đá ảo diệu hoặc từng ngồi vịnh nguyệt đề thơ trong những mái thủy tạ cong cong ẩn hiện dưới dáng liễu ven hồ.

Trong đông đảo các danh nhân sinh trưởng hoặc từng sống ở Tô Châu, phải kể đến Hạp Lư, vua nhà Ngô, người đã ra lệnh cho hai cận thần Ngũ Tử Tư và Tôn Võ xây dựng thành Tô Châu; có nàng Tây Thi, một trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa; có Ngôn Yển, một trong 10 học trò lớn của Khổng Tử; hai anh em Tôn Quyền, Tôn Sách; có Trương Húc, một trong ba nhà thư pháp Trung Hoa xuất sắc nhất của mọi thời; có thi hào Bạch Cư Dị và rất nhiều văn nhân, các nhà danh họa cổ, cận và hiện đại... Nghệ thuật thư pháp và tranh thủy mặc Tô Châu cũng nổi tiếng khắp Trung Hoa.

Tô Châu có lịch sử rất lâu đời, thành phố cổ kính và thơ mộng này được xây dựng từ thời Xuân Thu dưới triều đại nhà Ngô (năm 514 trước Công nguyên) nhưng chỉ mang cái tên như hiện nay dưới thời nhà Tùy (năm 589 sau Công nguyên), và đã trở thành một thủ đô của công nghiệp và thương mại ở vùng bờ biển phía Đông Nam Trung Hoa… sau khi con kênh đào nối liền Bắc Kinh với vùng Giang Nam được hoàn tất vào thế kỷ thứ 9. Chính Bạch Cư Dị khi trấn nhậm Tô Châu đã tiếp tục mở rộng hệ thống kênh đào để phát triển du lịch. Nhưng một Tô Châu đẹp đẽ và quyến rũ như du khách thấy hôm nay thật ra chỉ là bản sao của chính mình  bởi Tô Châu đã từng bị tàn phá, hủy hoại nhiều phen khi quân Mông Cổ tràn sang (thế kỷ 13, 14).

Dù sau đó đô thị này đã có một thời kỳ phát triển huy hoàng nhất dưới hai triều đại nhà Minh và nhà Thanh, với hệ thống ngự viên được xây dựng khắp nơi, nhưng lại tiếp tục gặp tai ương; đó là khi quân nổi loạn Thái Bình thiên quốc đốt phá Tô Châu (năm 1860) và kế đến là cuộc xâm lăng của quân Nhật (1937). Nhiều ngự viên bị tàn phá trong chiến tranh. Một số nhà vườn nổi tiếng chỉ bắt đầu khôi phục vào thập niên 1950, và hầu hết chỉ phản ánh phong cách kiến trúc thời nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng. Song, nhờ bàn tay con người tôn tạo quá khéo léo, quá công phu, các nhà vườn Tô Châu hôm nay vẫn khiến du khách say lòng như một câu ngạn ngữ Trung Hoa: "Không có nơi nào dưới trời này đẹp cho bằng các khu vườn ở vùng hạ lưu sông Trường Giang, thế mà vườn ở Tô Châu lại đẹp hơn tất cả". Đến Tô Châu khi mùa thu đã về, khi lá phong đã có đôi sắc vàng trên cành và trong tiết thu dịu mát, thật lý tưởng để thưởng ngoạn phong cảnh của đô thị cổ này. Thành phố không quá chộn rộn xe và người, nhịp sống thật thanh thản, nhẹ nhàng dù dân Tô Châu được xếp hạng cao về thu nhập theo đầu người tại TQ (3.680 USD/năm). Trên khắp các phố chính là những pano hình ảnh các nhà vườn đã được UNESCO xếp hạng di sản. Khu trung tâm không có nhà cao quá năm tầng. Những con đường xanh bóng cây. Và không chỉ có hoa trong các ngự viên, hoa còn ken dày trên hè phố.

Sau khi thưởng ngoạn hoa viên, chắc chắn du khách đến Tô Châu không thể bỏ qua cái thú ngồi thuyền trên các con kênh đào. Chính hệ thống kênh đào này cùng hàng nghìn chiếc cầu đá cổ kính soi bóng trên các dòng kênh khiến người ta gọi Tô Châu là một "Venice phương Đông", bên cạnh một loạt cách xưng tụng khác như "Thủ đô của tơ lụa" (lụa Tô Châu đã nổi tiếng tự nghìn xưa và nay là một thương hiệu ở tầm thế giới), "Cái nôi văn hóa thời Ngô", "Đô thị phong lưu", "Thế giới nhà vườn"...

Phong Kiều Dạ Bạc

Bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của nhà thơ Trương Kế về địa danh đã nổi danh và lưu truyền qua bao thế kỷ.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Trương Kế

Bài viết trên tờ Văn Nghệ “Nói thêm về Phong Kiều Dạ Bạc” của tác giả Nguyễn Tất Phan. Sau khi giới thiệu bản dịch của Tản Đà theo sách  Thơ Đường - Tản Đà dịch, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, NXB Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học ấn hành năm 1989, ông có lời bàn:

Đã từ lâu rồi các nhà thơ VN tốn nhiều lời bàn cãi, suy luận và diễn giải theo ý riêng mình. Đó là vì thời trước thiếu phương tiện đi lại và thiếu thông tin. Có lẽ vì thế mà cụ Tản Đà cũng nhầm?

Vì theo ông, đã có một học giả Nhật đi đến tận Hàn San tự, tìm hiểu bài thơ và được vị sư ở đây giải thích: Trước đây ở Tô Châu có một thôn là Ô Đề (Ô Đề thôn) và một ngọn núi tên là núi Sầu Miên (Sầu Miên sơn). Bởi vậy bản dịch của Tản Đà:

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương

Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.

Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Như vậy là không chính xác vì nhầm các địa danh riêng Ô Đề, Sầu Miên với các từ ô đề và sầu miên có nghĩa chung.

Sau đó trên báo Văn Nghệ, ông Nguyễn Quảng Tuân (NQT) có trao đổi lại cách hiểu cho đúng bài thơ này. Ông NQT cho rằng, không nên hiểu ô đề, sầu miên như là những địa danh vì “nếu có thôn Ô Đề thì thôn đó phải ở rất xa, tận phía chân trời và không thể ở ngay vùng Tô Châu được”. Ông NQT đã từng đến thăm chùa Hàn San, đứng ở bến Phong Kiều nhìn quanh bốn phía “không có ngọn núi nào tên là Sầu Miên cả” bởi vậy khi Trương Kế nằm trong khoang thuyền nhìn lên bên ngoài cũng chỉ thấy những cây phong và những ngọn đèn chài không thể đối mặt với Sầu Miên, “một ngọn núi không có thực ở bên bờ sông”.

Chúng tôi xin được lạm bàn đôi điều. 

Phong Kiều Dạ Bạc là một trong những bài thơ Đường nổi tiếng của Trung Quốc mà hầu hết ai đã đọc thơ Đường đều biết, bài thơ đã được nhiều nhà thơ cũng như nhiều nhà Hán học VN tuyển dịch trong nhiều công trình. Trong số đó bản dịch Tản Đà được người đọc đánh giá khá cao không chỉ vì thể thơ quen thuộc, vì ngôn ngữ uyển chuyển tinh diệu mà vì thấm được cái hồn của tác giả Trương Kế.

Ông NQT có giới thiệu hai bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, tuy có khác nhau vài từ ngữ nhưng cái mạch chính thì hai tác giả không khác nhau (câu 1, 2 bản Nguyễn Hàm Ninh: Quạ kêu, trăng lặn, trời sương / Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ), đặc biệt là cách hiểu các từ ô đề và sầu miên, đều dịch là tiếng quạ kêu và giấc ngủ sầu.

Xin được giới thiệu qua về xuất xứ bài thơ và tác giả. Trương Kế có tự là Ý Tôn, sống vào khoảng trước sau 756, đời Đường Túc Tông. Ông thi đậu tiến sĩ, từng làm quan trong triều với chức vụ Tự bộ viên ngoại lang, về sau bị đổi ra Hồng Châu coi việc tài phú và mất tại đây. Trương Kế sinh thời học rộng thích bàn bạc văn chương, thế sự và thích làm thơ. Trong số tác phẩm ông để lại có một tập thơ và bài Phong kiều dạ bạc nổi tiếng nhất.

Theo các tác giả sách Almanach những nền văn minh thế giới, nguyên tác bài thơ đã được Khang Hữu Vi đời Thanh viết ra chữ to khắc trên bia dựng trong chùa Hàn San để cho người đời sau qua đây thưởng lãm.

Phong Kiều Dạ Bạc là một bài tứ tuyệt hàm súc nhưng không khó hiểu, với nhiều địa danh đầy sức khêu gợi như Cô Tô gợi về người đẹp Tây Thi, Hàn San gợi về các vị sư nổi tiếng một thời và nhiều giai thoại gắn liền với câu chữ nên không phải không có các cách giải thích khác nhau về một vài tình tiết. Tuy nhiên vẻ đẹp thống nhất của hình tượng Thơ thì các dịch giả từ Tản Đà đến Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Ngô Tất Tố… cũng như các dịch giả Viện Văn học sau này đều không khác nhau.

Theo thiển ý chúng tôi, chưa thể vội căn cứ vào một vài dữ liệu thời nay cách lúc tác giả viết bài thơ 13 thế kỷ để mà thay đổi nguyên tác, nhất là những cứ liệu có tính chất truyền ngôn.

Nếu xét trên phương diện thực địa thì dẫu Hòa thượng Tịnh Không có kể cho một học giả Nhật và tác giả Chung Bá Kính khi ghi chú sách Hội đồ Thiên gia thi có cho rằng Sầu Miên, Ô Đề là những địa danh thì Ông NQT trong chừng mực nào vẫn có thể nói rằng “không đúng” vì ông đã từng đến bến Phong Kiều mà không thấy những thôn, những núi nào ở Tô Châu để Trương Kế tức cảnh mà đưa vào thơ. Tuy nhiên, lập luận này vẫn không hoàn toàn thuyết phục người đọc, vì người ta nghĩ rằng, ông NQT là khách phương xa tới Hàn San một lần, chỉ mới nhìn quanh quẩn sao có thể phủ nhận được ý kiến một hòa thượng sở tại và một nhà nghiên cứu bản xứ. Ngộ nhỡ những thôn Ô Đề và núi Sầu Miên kia ở bên ngoài vùng Tô Châu, hoặc chính là tên ngày xưa của một trong những ngọn núi mờ xa mà ông NQT nhác thấy nhưng chưa có điều kiện tìm hiếu kỹ thì sao?

Chúng tôi tìm hiểu nghĩa thực của các từ ô đề và sầu miên trên phương diện khác, phương diện cảm xúc thẩm mỹ mà hình tượng thơ mang lại. Nếu thay vào ô đề và sầu miên trong cách hiểu là những địa danh thì bài thơ mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ, rất ít gợi cảm vì lúc ấy hai câu thơ chỉ còn là những câu tả cảnh thị giác đơn thuần: Trăng tà thôn Ô Đề sương rơi đầy trời / Hàng cây phong bên bờ sông cùng đốm lửa thuyền chài đối diện với núi Sầu miên.  

Thế thôi, bức tranh không âm thanh, không tâm trạng. Tìm đâu ra cái nỗi buồn của Trương Kế gửi gắm trong một tiếng quạ kêu thảng thốt, lẻ loi trong đêm và cái nỗi sầu len vào giấc ngủ chập chờn của hàng cây phong đối diện với ánh lửa chài! Hai câu thơ tả thực mà không thực, nó hấp dẫn người đọc ở cái vẻ hư ảo của nó. Những ‎ý thơ có vẻ không khớp nhau vì khi trăng lặn (nguyệt lạc), tức đã gần sáng, mà gần sáng (rất khác nửa đêm, bán dạ) lúc này còn ai thức mà thỉnh chuông nữa.

Tác giả viết những câu thơ trong chập chờn nửa tỉnh nửa mơ, gần sáng mà cứ tưởng nửa đêm. Bởi vậy, Âu Dương Tu khi  bình bài thơ có viết: nhà thơ vì mê câu văn hay mà làm cho‎ ý‎ không thông! Cái nỗi buồn của một kẻ bị chuyển đi xa kinh thành này cũng giống như nỗi buồn của Bạch Cư Dị lúc về Giang Châu luôn làm tác giả chìm đi trong ảo ảnh. Tiếng chuông đi từ chùa Hàn San, nơi có hai vị sư Hàn San và Thập Đắc nổi tiếng uyên thâm đạo học thời bấy giờ, ở ngoại thành Cô Tô đến làm khách của tác giả cũng là tiếng chuông ảo vậy! Câu thơ hay trong cái mơ màng hư ảo đó quả thật không liên quan đến một thôn Ô Đề và một núi Sầu Miên thực nào cả. Lấy một cái “giả thực” của ngoại cảnh để  thể hiện một cái “đích thực” của tâm trạng là một đặc sắc nghệ thuật mà các tác giả cổ điển hay dùng (kiếu như Đạp hoa quy lai mã đề hương…)

Những tên thôn, tên núi mà các học giả Nhật giải thích và Chung Bá Kính ghi chú chắc gì đã có ở thời Trương Kế? Chúng ta thường gặp những địa danh mới thay vào tên cũ sau khi xảy ra những sự kiện nào đấy. Biết đâu vì sự nổi tiếng của bài thơ mà có những địa danh kia và những địa danh này có thể ở rất xa Tô Châu do người đời sau vận vào mà thôi!

Trương Kế là một nhà thơ, một học giả (tiến sĩ), tác phẩm viết để lại (không phải truyền miệng) không thể không cẩn thận ghi chú để người đọc muốn hiểu thế nào thì hiểu. Khi tác giả đã viết Cô Tô thành, Hàn San tự, thì không thể không viết Ô Đề thôn và Sầu Miên sơn nếu quả thật ông muốn nói về thôn Ô Đề và núi Sầu Miên… 

Cuối cùng, chúng tôi nghĩ, Phong Kiều Dạ Bạc từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là từ đời Thanh khi Khang Hữu Vi cho tạc bài thơ lên bia chùa Hàn San, người Trung Quốc chưa có đính chính gì thêm ‎về câu chữ, và bao nhiêu người dịch, người đọc VN thấy hình tượng thơ trong bài khá hoàn chỉnh, rất giàu sức truyền cảm nếu không muốn nói là tuyệt bích, thì không lẽ chỉ với một sự kiện đang ở dạng chú thích thêm lại có thể khiến ta nghi ngờ đổi thay nguyên tác. Ngay Giáo sư Vương Phương, nguời nổi tiếng về văn hóa cổ của Trung Quốc cũng cho rằng, có nhiều cách hiểu bài tứ tuyệt của Trương Kế và chính ông không khẳng định nên theo cách hiểu nào. Còn chúng ta, cách hiểu mà chúng ta nên theo là cách hiểu mang lại giá trị thẩm mỹ cao nhất của thi phẩm. Và Tản Đà tiên sinh cũng như các dịch giả VN từ trước đến nay đã dịch bài thơ theo hướng này”.

 

 Mang tâm trạng của người con xứ Quảng qua bao năm xa quê nhà, hồi tưởng lại tháng ngày xa xưa, được đi thuyển trên dòng sông Thu dưới ánh trăng mờ ảo, nghe tiếng chuông chùa ngân vang… tiếc rằng kẻ hậu sinh không phải là thi nhân để sáng tác nên mượn thơ người xưa để mường tượng hình ảnh chung quanh. Kẻ hậu bối xa quê nhà, gặp được anh em trong văn giới nói chuyện văn chương nên cao hứng lạm bàn đôi điều để gọi là “góp mặt với thế gian”.

 

Phụ Chú :

Bản chữ Hán

楓橋夜泊

月落烏啼霜滿天

江楓漁火對愁眠

姑蘇城外寒山寺

夜半鐘聲到客船

張繼

 

Bản dịch sang tiếng Anh của Witter Bynner

Zhang Ji

A NIGHT- MOORING NEAR MAPLE BRIDGE

While I watch the moon go down, a crow caws through the frost;

Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;

And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,

Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.

Cập nhật ( 16/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online