Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Bưu chính ngày xưa (Nguyễn Duy Sinh)
Bưu chính ngày xưa (Nguyễn Duy Sinh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/03/2009

BƯU CHÍNH NGÀY XƯA

* Nguyễn Sinh Duy

Nghiên cứu lịch sử cho biết : Bình Định Vưong Lê Lợi. Trong 10 năm kháng chiến chống giặc Minh, đã có lúc thả bè trên dòng nước để chuyển thư trá hàng tới quân địch và dùng chim bồ câu để liên lạc tin tức với nghĩa quân, trong những tình huống cam go nhất…

(TOÀN THƯ & CƯƠNG ,MỤC)

Bưu chính ngày nay thông thường sử dụng ba loại phương tiện giao thông: đường bộ, đường thủy và hàng không. Ngày xưa, tuy chua có máy bay, nhưng người ta đã biết dùng chim nhạn để đưa thư: Song, nhạn thư rất là hãn hữu, nếu không muốn bảo nặng tính tình sử trong thư tịch cổ.

CON ĐƯỜNG BƯU CHÍNH

Nước Việt Nam cổ đại, khi mà cương vực còn giới hạn quanh đồng bằng sông Hồng và vùng đất Aí châu phía nam, việc qua lại với lăng quốc Chiêm Thành chủ yếu đi bằng đường núi Sách Càng khôn nhất lâm của Phạm Đình hổ viết năm mậu tuất 1778, có ghi chép về hải trình nước ta ngày xưa, nhưng xét ra đường bộ thường dùng nhiều nhất. Tống sử Chiêm Thành truyện chép: Đường giao thông bằng bộ từ Kinh đô Giao Chỉ đến quốc đô Chiêm Thành mất 40 ngày (1). Thời điểm Tống sử chép ở đây cho thấy Kinh đô Giao Chỉ tức là Thăng Long và quốc đô Chiêm Thành chính là Tân Châu – Chà Bàn. Con đường sơn xuyên, cho đến lúc này, vẫn chưa đặt thành chạm dừng chân nhất định. Phải nói rằng lịch sử giao thông bưu chính Việt Nam bắt đầu tổ chức thành cung dịch  (cung đường và dịch tram) là kê từ thời Lý. Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư chép: “Tháng 3 năm tân mùi (1031), niên hiệu Thiên Thành thứ 4, vua Lý Thái Tôn xuống chiếu phát tiền thuê thợ làm đình quán ở các hương ấp, tất cả là 150 trạm. ( Chiếu phát tiền nhẫm công tạo tư quán vu hương ấp, phàm bách ngũ thập sở). Đời Lý Anh          Tôn, Chính Long Bảo Ung năm thứ 9 (1171), “ đích thân nhà vua lại đi tuần xét khắp cả núi sông, đường sá xa gần…” Sang thời Trần, sáp nhập thêm hai châu  Ô Lý của Chiêm Thành, kéo dài lãnh thổ Đại Việt đến tận bờ bắc Bành Long Loan tức sông Thu Bồn Quảng Nam (theo giáo sư Kwada), nhưng lộ trình vẫn theo lối hành dịch cũ của triều Lý.

Con đường thiên lý thời trung đại chỉ bắt đầu được vạch ra kê từ tháng 3 năm nhăm ngọ, niên hiệu Thiệu Thành thứ 2 (1402) khi Hồ Hán Thượng cho Hóa, dọc đường đặt phố xá và chạm truyền thư. Bước qua hai thời Lê, Mạc, việc giao dịch với phía nam của chính quyền trung ương Đại Việt mới chỉ giới hạn đến châu Bồ Chánh, nên sách Ô Châu cận lục ra đời năm 1553 chỉ nhắc đến 3 trạm Linh Giang, Bình Giang và trạm Nhật Lệ thuộc địa phận Quảng Bình, vì đây là đất cực bắc giáp với Ô Châu ác địa (terre mécchante). Tuy vậy, tại cửa ải xung yếu Hải Vân thuộc châu Hóa, chính quyền hai triều Lê, Mạc cũng đã đặt ở đây một cơ sở Tunầ thủ ty để khám xét việc vô ra ngang qua đèo Hải Vân. Đến khi họ Nguyên cát cứ đến dựng nghiệp Chúa ở Đàng trong, có lập ra hai đội xa nhất, xa nhị mỗi đội 50 người, cấp 37 cổ xe và 75 con trâu công để dùng vào việc giao thông vận tải binh lương cùng các hóa vật khác. Mỗi xe buộc hai trâu kéo, trọng tải 1200 bát (2) gạo (phủ biên tạp lục). Con đường bưu chính thường ngày cũng đồng thời song hành theo lối ấy. Triều đại Tây Sơn ngắn ngủi, lại thêm chinế tranh liên miên, chưa kịp tu sửa và chỉnh đốn dịch trạm, nhưng lịch sử cũng đã ghi nhận đội Sảo mã của Quang Trung chuyển đi tiền đạo để thông tin và truyền đạt sắc dụ, trát văn. Nhưng phương tiện thô thiển của hình thức quân bưu ấy không đủ ứng phó kịp với kỹ thuật máy móc của ngành quân báo và chinế tranh chính trị mà Nguyễn Ánh đã nhờ người Pháp giúp (3).

Lịch sử bưu chính Việt Nam ngang đây đánh dấu một bước ngoặc lớn với con đường cía quan (route mandarine). Năm 1802, Gia Long vừa lên ngôi, lập tức truyền sai Lê Quang Đinh sức cho các trấn quan địa phương – bắc, từ Tuyên Quang, Cao Bằng ; nam, đến Hà Tiên, gồm 31 nơi – do các đường quan, chia đặt dịch điếm, đại để lấy khoảng cách đi nửa ngày đường để vừa sức người mà đặt dịch trạm (4). Tuy nhiên, theo sách Đại Nam toàn đô lý số chí của Bùi Quý dưới thời Tự Đức, chiều dài của đất nước Việt Nam theo đường quan lộ từ Nam Quan đến Cà Mau, thật sự được đo đạt là 3866 lý, 133 trượng, 2 thước (5). Trong khi đó thì độ dài từng trạm lại được tính bằng dặm. Cách ước định đơn giản ngày xưa, hễ đi xa nôm con trâu nhỏ bằng con dê, ấy là một dặm.

PHƯƠNG THỨC BƯU CHÍNH

Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ viết : “Sách Chu Lễ nói : Phàm đường đi ở trên đồng nội trong nước, cứ 10 dặm phải có lư (nhà tạm trú), lư có chỗ ăn uống. Cứ 30 dặm có túc (nhà trọ có chỗ ngủ), nhà trọ có lộ thất, khách xá (nhà để cho khách đi đường xa ngủ) ; lộ thất có người ủy nhiệm (phụ trách trông coi). Cứ 10 dặm có chợ, có hậu quán (quán chờ đợi, canh gác) ; hậu quán có chứa lương thực để đãi các quan triều sinh (vào triều và đi sứ). Đời sau có dịch đình (nhà trạm), lữ quán, đều phỏng theo đời xưa, song việc sửa sang, song cũng tùy thời mà giảm bớt sức dân…”.

Phương tiện giao thông bưu chính của Việt Nam ngày xưa khá thô sơ. Ngoài hệ thống đường thủy với ghe thuyền lệ thuộc theo hải trình gió mùa, tất cả sự vận chuyển trên bộ đều trong vào sức trâu, ngựa và đôi vai của con người, trong đó phụ nữ nhiều khi cũng được tận dụng.

Con đường bưu chính nối liền bắc – nam phải kể từ Nguyễn sơ. Đó là con đường mòn người ta vạch, nhắm dọc theo bờ biển Việt Nam, không làn nước thủy triều là bao nhiêu. Muốn băng qua con suối, dòng sông, người ta phải đi trên những chiếc cầu cong sống lưng trâu hoặc qua đò. Nếu gặp những dãi núi xươn sườn chắn ngang ra tận mặt biển, phương pháp vượt thắng không gì hơn là nhờ vào đôi tay và đôi chân để leo trèo.

Không nói đâu xa, ngay thời Tự Đức, muốn vượt qua đèo Hải Vân, khách đi đường phải trả một giá đắt về thể lực và lòng quả cảm. Sách Hòa Vang huyện chí (6) cho biết, đương thời, đường qua đèo Hải còn rậm rạp, đá lớn như dạng người chồng chất chắn ngang lối đi, khách bộ hành phải bám vịn cây trèo lên (lộ gian đại thạch điệp đội trực lập như nâh trạng, hành giả môn thạch viên mộc nhi thượng). Đường cía quan là con đường lớn để qua đi mà còn gập ghềnh cheo leo là thế,  thì nói gì  đến những hương lộ trong các huyện, tổng, xã…? Đó là chaư kể đến những hiểm nguy dọc đường mà khách bộ hành, nhất là người lính trạm phải trải qua. Như năm 1886, hai người lính trạm đã bị cọp tấn công giữa đường rừng Thuận Khánh, một chạy thoát còn người kia bị mãnh thú xé nát thây. Nhiều đoạn đường núi ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng thiếu an ninh không kém, phu trạm ban đêm không dám đi qua. Và nếu có việc quan khẩn cấp, mã trạm phải đi thì dùng một chiếc roi tre hoặc mây cầm trên tay, quay liên hồi vun vút trong không khí để đe dọa chúa sơn lâm (7).

Ngạch hành chánh và Bộ Binh triều Nguyễn đặt ra dịch điếm nói liền con đường cái quan xuyên Việt để thông tin và truyền sức sắc chỉ từ kinh sư đến các tỉnh thành trong khắp nước. Theo G. Taboulet (8) từ Huế đi Hà Nội dưới thời Tự Đức có 36 dịch trạm và phải mất 8 ngày đối với bưu trạm thường và 3 ngày rưỡi đối với bưu trạm nhanh. Cũng thế, theo Camille Raris (9), từ Huế đi Đà Nẵng có sáu trạm dừng lại nghỉ chân.

Nhà nước phong kiến, trong việc thiết lập dịch trạm, có đặc nhượng cho cơ quan này một số ruộng đất để canh tác sinh sống, ngoài khoảng lương bổng nhất định. Mọi nhân viên của trạn tùy theo tuổi tác và sức khỏe đều lao động trồng tỉa và cày bừa ngoài ruộng vườn. Khi có tin tức công văn chuyển đến trạm, viên đội trạm hoặc dịch thừa ứng trực liền nổi trống báo hiệu và tất cả mọi người phải bỏ dở công việc chạy về trạm tập hợp nhận công tác.

Dịch điếm tùy theo cơ sở và tính cách quan trọng lớn nhỏ của dịch trạm, biên chế gồm có : dịch thừa, đội trạm, lính trạm, phu trạm và mã trạm ;

Dịch thừa có trách nhiệm ghi chép giám sát số lượng cùng dấu niêm phong các công văn và liệu lý việc thu nhập cấp phát tiền lương, thức ăn cho người và ngựa trong trạm;

. Phu trạm là những người tráng đinh khỏe mạnh được trưng tập từ các thôn xã thuộc địa bàn hoạt động của trạm, chỉ có một việc là vận chuyển tài sản quốc gia, cáng võng quan lại đi hành hạt hoặc công vụ qua trạm. Khi chuyển những công văn hoặc trát thư thông thường không khẩn cấp và độ đường không xa trạm sẽ sai phái phu trạm chạy bộ (coureurs à pied). Theo Camille Paris, sách đã dẫn, lương một phu trạm, ngoài số gạo cấp, còn lãnh mỗi tháng 5 tiền, tương đương 0,4 franc, theo thời giá triều Thiệu Trị - Tự Đức ; (9)

. Mã trạm bao gồm ngựa và người cưỡi ngựa trạm hay lính mã trạm, cũng gọi là điếm binh nai nịch gọn gàng, chân quấn xà cạp, thắt lưng hoặc cổ tay đeo lục lạc, đầu đội nón chóp, vai đeo những ống công văn được niêm phong cẩn mật. Ống công văn gọi là cán ống nhựt dạ ; thành ngữ này đã bị nhân dân kém chữ nói trại thành “cắn ống giựt nhợ” là thuật ngữ của nghề lưới đăng. Gặp việc tôi khẩn, ngựa trạm trang bị một hàng lục lạc quanh ức và đeo một chuông nhỏ dưới cổ, trên đầu ngựa cắm một túm lông gà hoặc một lá cờ nhỏ làm hiệu giành đường ưu tiên và mọi người phải tránh ra hai bên lề. Còn điếm binh tay cầm cương ngựa, tay cầm vật đựng than đỏ hoặc cây đuốc cháy, ra dấu hỏa tốc, thương mã phi đê.

Ngược dòng lịch sử, những hình thức mã trạm này được tiến hành áp dụng cho phương thức bưu chính Việt Nam, ít ra từ thế kỷ thứ IX trở đi (9). Hình luật và quân luật thời phong kiến cũng qui định rõ ràng : một khi mã trạm chậm trễ hoặc ống công văn mất dấu niêm phong, mức độ hình phạt nhẹ thì đánh roi, trượng, đồ, lưu (đày đi xa) ; nặng có thể đi tới xử chém. Như điều 277 chương quân chính của Quốc triều hình luật (đời Lê) ghi : Nếu có việc khẩn cấp phi báo, đi qua nơi nào, thì quan sở tại phải cấp tốc truyền đệ ngay, không được theo thời khắc đệ công văn thường ; nếu trái thì phải tội đồ hay lưu, theo việc nặng nhẹ (chư phi báo khẩn cấp sự vụ, kinh quá sở tại quan ty tác cấp đệ tống, bắt đắt thời khắc đình trệ, vi giả dĩ đồ lưu luận y khinh trọng).

Cho nên, nghề mã trạm trong những điều kiện đa đoan, vui buồn cũng đồng thời diễn ra không ít. Vui là cậy quyền ưu tiên, tác oai tác oái chọc gái nơi hàng quán, đò ngang, còn buồng thì thật là thấm thía khi một ngừoi một ngựa giữa đèo heo hút gió, mưa rừng nắng mãi, đeo trên mình tin tức khẩn cấp liên quan  đến vận mệnh của một hoặc bao nhiêu con người.

“Xót người hành dịch bấy nay

Dặm xa thêm mỏi, “ống” đầy lại vơi…”

(1)Xem. Léopold cadìere, Đường sở ở Annam (LeTương lai Bắc Kỳ (Avenir du Tonkin) Hanoi 1904.

            . Hoàng Xuân Hãn, Lý thường Kiệt, Sông Nhị Hà Nội 1950, chương II.

          (2) đơn vị đong lường.

(3) thí dụ như nam7 1791, một khinh khí cầu (Montgolfiere) đã được lung lên trên bầu trời Saigon, thủ phủ của đất Gia Định, làm cho dân chúng rất đổi kinh ngạc và khâm phục ! Lại năm 1793, theo đề nghị của Olivier de Puymanel, Nguyễn Ánh cho tung một khí cẩu khác có mang chất dẫn cháy rải xuống thành phố Qui Nhơn là căn cứ địa của quân đội Tây Sơn (xem L’Aéronautiaue en Indochine, tunầ san Indochine hebdomadaire ilustré số 53, 1941).

(4) xem Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống địa dư chí.

(5) theo J.F.M. Génibrel : 1 lý gần 600 mét

(1 trượng = 3m30 ; 1 thước mộc : 0m187

(6) Do Trần Nhựt Tĩnh viết năm Tự Đức 21 (1868). Bản chữ Hán chép tay.

(7) Baille, souvenirs d’ Annam, Plon 1890, H.247-248

(8) Georges Taboulet, Thú vị của việc đi cáng (Les agrémants du vyage en palanquin) trong La Geste francaise en Indochine, t.II, p.881

(9) Camille Paris, Du khảo dọc đường cía quan từ Huế vào Nam Kỳ (Voyage d’exploration de Huế en Cochinchine par la route man darine, Paris Ernest Leroux, 1889, chương I, t.11-24)./.

Cập nhật ( 16/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online