Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Voi trong lịch sử Việt Nam (TS Nguyễn Phúc Nghiệp)
Voi trong lịch sử Việt Nam (TS Nguyễn Phúc Nghiệp) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/03/2009

VOI TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

* Tiến sĩ Nguyễn Phúc Nghiệp

Trong năm 1993 có sáu con voi rừng đã bị các tay săn voi Việt – Thái bắt được ở vùng thượng Đồng Nai và chúng đã được đưa về bản đôn (DAKLAK) để thuần hóa. Nhưng bốn con đã chết, hai con còn lai bị bệnh, không biết có qua khỏi hay không. Theo tin tức báo chí, các đàn voi rừng ở khu vực này lại xuất hiện và tiếp tục hoành hành, đe dọa tính mạng và tài sản dân chúng. Có phải, đó là hành động trả thù của một loài thú đã bị dồn vào con đường cùng và đang bị thu hẹp dần phạm vi sinh sống ? thiết nghĩ, lúc này, có một cái nhìn tổng quát về loài voi ở Việt Nam là hết sức cần thiết.

VOI TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN HIỆN THỰC.

Cũng như ở nhiều nước Đông Nam Á, từ rất sớm, voi đã được thuần dưỡng ở Việt Nam. Hình ảnh con voi đã được khắc họa trong truyền thuyết có liên quan về vua Hùng và nước Văn Lang (1): “vua Hùng mở nước Văn Lang, đóng đô ở thành  Phong Châu, đặt cung ở núi Nghĩa Lĩnh, có một trăm con voi từ khắp các nơi trong nước cùng rủ nhau về chầu mừng. Tất cả đàng voi đều phủ phục quanh núi Nghĩa Lĩnh, như đàng con cùng vây quanh mẹ, tỏ ý thuần phục nhà vua. Vua Hùng rất đẹp lòng. Nhưng trong đàn voi ấy có một con bước ra khỏi bầy, quay đuôi lại nhà vua, đầu ngoảnh về phương khác. Vua bèn đùng đùng nổi giận, gọi con gái là công chúa Bầu, trao cho kiếm báo hạ lệnh chém đầu con voi bất nghĩa”. (2)

Để có voi sử dụng, người ta phải săn bắt voi rừng mang về thuần dưỡng. Công việc này, nhiều khi, thu hút luôn cả sự tham gia của các vua chúa phong kiến. Sử củ ghi “năm 1101, vua Lý Nhân Tông ngự đến làng Tượng Sách xem bắt voi” (3). Có thể, làng Tượng Sách, lúc đó, đã là một làng săn bắt và thuần dưỡng voi chuyên nghiệp; cũng giống như bản Đôn ở Tây Nguyên sau này. Khi săn bắt voi, các tay săn voi phải nắm rõ đặc điểm sinh- tâm lý của loài voi. Kinh nghiệm của các tay săn voi lão luyện ở bản Đôn cho biết: “Đến thời kỳ động dục voi rất để nổi cáo và rất hung dữ. Trong thời kỳ này ở voi cái, khoảng cách nằm giữa mắt và tay voi xuất hiện những điểm bài tiết màu đen, kéo dài gần ba tuần lễ. Khác với các loài thú khác, khi giao phối con đực trèo lên lưng con cái. Còn ở voi chúng giao phối như con người. Sau khi thụ thai bào thai nằm trong bụng mẹ từ 20 tháng đến 20 tháng rưỡi. Người săn voi chú trọng bắt voi con từ 5,7 tuổi đến 20 tuổi vì dể thuần hóa thành voi lao động thuần thục. Voi già khó bắt và thuần dưỡng voi, trong lịch sử đã xuất hiện những nhà săn voi nổi tiến, như nữ tướng Tây Sơn Bùi Thị Xuân, ông Ma-krong Ney R’Leo, người dân tộc Mrong ở bản Đôn (Daklak) (5)…

Sau khi săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, người ta cho voi sinh sản, nhằm làm gia tăng thêm đàng voi. Năm 1712, chúa Trịnh đã có chỉ thị về việc ấy “… hạ lệnh kén kỹ voi công. Hễ con voi nào rất dữ mà được nuôi quen đã thuần tính thì cho lưu lại kinh đô, sẽ dùng vào việc chầu hầu, còn  thì đưa về chỗ rộng vắng ở rừng, núi và chằm bãi mà thả ra để chăn nuôi khiến cho voi được sống thoải mái theo tính nó và để sinh đẻ ngày thêm đông nhiều, đến kỳ duyệt binh trọng thể, sẻ lụa tuyển dụng để dùng”. (6)

VOI NGOẠI GIAO

Số lượng voi, nhất là voi chiến, ở nước ta cũng được bổ sung bằng con đường tiến cống của các quốc gia láng giềng. Champa, theo định lệ, thường tiến cống voi tốt, nhất là voi trắng được xem là quý hơn hết; tiêu biểu là năm 1105, công chúa Champa đã tặng Đại Việt một lúc hai con voi trắng (7); năm 1110, Champa lại tặn tiếp một con voi lạ và hễ khi “nó ở chỗ nào là chỗ ấy có ánh sáng hiện ra” (80… Còn Cao Miên có lần tặng chúa Nguyễn đến 50 con voi đực, mỗi con cao tới 7 thước ta, như năm 1690 (9). Các tù trưởng các dân tộc thiểu số trấn trị ở vùng núi biên cương nước ta cũng hay nộp voi về cho triều đình để lập đội tượng binh như năm 1425, tri phủ châu Ngọc Ma là Cầm Qúy đem hơn 10 con voi về giúp Lê Lợi đánh quân Minh (10) năm 1427, Lê Khả Tham hiến ba con voi chiến cho nghĩa quân Lam Sơn (11). Đặc biệt, năm 1069 các châu đã dâng lên vua Lý Thánh Tông một lúc đến 4 con voi trắng bắt từ núi rừng nước ta (12). Theo quan niệm lúc bấy giờ, voi trắng là loại voi rất quý hiếm. Năm 1186, vua Lý Cao Tông đi săn, bắt được một con voi trắng. Nhà vua đặt tên cho voi là Thiên Tư (của trời); và cho đổi niên hiệu là Thiên Tư Gia Thụy(13). Bảo Đại- vị vua cuối cùng của triều Nguyễn- cũng được một tù trưởng người Mnông dâng tặng một con voi trắng. Ông quý con voi này vô cùng, cho làm một chiếc khánh nặng 2kg vàng ròng đeo vao cổ voi và cho nuôi ở Đà Lạt để đi săn bắn. Sau đó con voi này sổng về rừng; và từ đó, xung quanh nó có không biết bao nhiêu huyền thoại.

Ngoài ra, việc tịch thu voi chiến từ các nước khác từ những cuộc những cuộc chiến tranh cũng là cách làm để đàn voi của nước ta được nhiều hơn. Năm 1044, vua Lý Thái Tông, trong lần thân chinh đánh dẹp Champa quấy nhiễu biên giới, đã tịch thu được 30 con voi (14). Năm 1421, nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi đích thân chỉ huy đã đánh bại cuộc đánh úp của quân Ai Lao ở vùng thượng Nghệ An, bắt được 14 con voi… (15)

Các vương triều phong kiến ở nước ta đã sử dụng voi vào nhiều mục đích khác nhau. Các vị vua chúa thường lập tại kinh đô đấu trường giữa voi và hổ để giải trí. Sử cũ ghi: “…Tháng 9 năm Quý Tỵ (1293) vua Trần Nhân Tông xem voi và hổ đấu nhau ở Long Trì. Con voi bổng nhiên sổng, xông tới định lên điện, tả hữu, quân sĩ đều chạy” (16). Dưới thời nhà Nguyễn cùng hoàng tộc và triều thần đều đến xem voi và hổ đánh nhau; thường là voi đều thắng.

Đồng thời, các vương triều phong kiến cũng xem voi là quà tặng của quốc gia nhằm góp phần củng cố mối bang giao giữa nước ta với nước láng giềng phương bắc là Trung Hoa. Tháng 2 năm Mậu Ngọ (1078), vua Lý Nhân Tông cho sứ mạng 5 con voi sang tặng nhà tống; đổi lại nhà Tống trao trả cho nước ta các châu Quảng Nguyên, Tô Châu và Mậu Châu, mà họ đã chiếm của nước ta trong lần xâm lược năm 1075. Về sau, người Tống biết Châu Quãng Nguyên có vàng mới hối tiếc, làm hai câu thơ:

Nhân tham Giao Chỉ tượng

Khước thất Quảng Nguyên kim.

(Vì tham voi Giao Chỉ

Mà mất vàng Quảng Nguyên) (17)

Sau đó, liên tiếp trong các năm 1123, 1173; nhà Lý vẫn cho sứ mang voi sang biếu nhà Tống. Những lần tặng voi như thế, hoàn toàn không phải là sự lệ thuộc ngoại giao. Trên thực tế, mỗi lần biếu tặng của Đại Việt đều cò thư của vua Tống gửi sang xin “mua” voi (18). Và đặc biệt hơn, không phải lúc nào Đại Việt cũng thỏa mãn yêu cầu về voi của các vua phong kiến Trung Hoa. Năm 1395, nhà Minh “nhờ” nhà Trần giúp 50 con voi để đánh người Man ở châu Phụng Nghi và châu Long ( Quảng Tây); và nhà Trần đã kiên quyết từ chối việc ấy (19).

VOI CHINH CHIẾN

Thế nhưng, việc sử dụng voi mang tính phổ biến và hiệu quả nhất, là nhàm vào việc vận tải và tác chiến. Nếu các nước phong kiến châu Au6 và Trung Hoa thời cổ- trung đại có kỵ binh trong quân đội của họ; thì ở nước ta có tượng binh. Có thể, ở Việt Nam, tượng binh đã xuất hiện vào th61 kỷ đầu Công nguyên: năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống nhà Hán; và mỗi khi ra trận, hai Bà đề cỡi voi, xông vào giữa làng tên, mũi đạn. năm 248, Bà Triệu đã mộ nghĩa sĩ, lập căn cứ ở núi Nưa (ThanhHóa), chống ách đô hộ của nhà Ngô (Trung Quốc). Sử cữ ghi về bà như sau: “Ở quận Cửu Chân, trong núi có người con gái họ Triệu thường mặc áo gai vàng, đi guốc, ngồi ở đầu voi mà chiến đấu” (20). Nhân dân ở đây thường tụng câu ca dao:

Ru con ngủ cho lành,

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.

Muốn coi lên núi mà coi,

Xem bà Triệu tướng cỡi voi đánh cồng.

Ở thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập (từ thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 19) tượng binh là binh chủng được biên ch61 trong quân đội của nhà nước phong kiến. Dưới thời chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, số lượng voi chiến và voi vận tải đã lên đến hàng trăm con. Trong lần hành quân đánh Đàng Trong năm 1627, chúa Trịnh huy động đến 300 thớt coi vận tải; trong lần đánh nhau năm 1643, số voi củ quân Đàng Ngoài là 720 con, trong đó có 130 voi chiến (21). Còn chúa Nguyễn thì lúc nào cũng có 400 thớt voi chiến trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu (22). Số lượng voi dưới thời nhà Tây Sơn chắc hẳn có rất nhiều; bởi vì, một số được tịch thu của quân Trịnh- Nguyễn và số khác là voi của nghĩa quân được bắt và thuần dưỡng từ núi rừng Tây Nguyên- vốn là địa bàn quần tụ chủ yếu của loài voi ở Việt Nam. Các thành lũy quan trọng đều được bố trí đội tượng binh để bảo vệ. Thành Thăng Long ở Đàng Ngoài và thành Phú Xuân ở Đàng Trong có hàng trăm voi chiến và voi vận tải. Thành Đà Nẵng có 45 thớt voi chiến (23). Thành Điện Biên ở vùng núi Tây Bắc cũng có voi chiến. Một bài dân ca 73 địa phương đã nói lên điều đó:

“ Tiếng voi rống, tiếng người nói ầm ầm

Tiếng gà gáy, tiếng người hò hẹn rơm rã

Con gái, con trai dập dìu họp mặt…

… Ba vạn cái cối tròn, sáu vạn cái cối dài

 Át cả tiếng voi…” (24)

Riêng thành Gia Định dưới triều Nguyễn có xưởng voi để tập luyện và nuôi dưỡng voi. Năm 1819, John White- một sĩ quan hải quân người Mỹ- khi viến thăm thành này đã: “Quản tượng ngồi trên đầu voi đang gặm cở bên bờ thành; có những con to hơn voi Ấn Độ nhiều”. (25)

Đối với voi chiến và voi vận tải, thì khâu huấn luyện rất công phu. Để cho voi quen với chiến trường, người ta phải tập luyện cho voi quen với khói lửa, tên đạn, bầu không khí nóng bỏng của chiến trận, tiếng hò reo của chiến binh và có khả năng dùng vòi, chân đạp đối phương.

Những chiến sĩ điều khiển voi, được gọi là quản tượng, phải là những người gan dạ, có nhiều kinh nghiệm trong việc huấn luyện voi và phải hết lòng chăm sóc, thương mến voi, bỏi vì voi là loài thú sống có “tình nghĩa” và trung thành. Các vương triều phong kiến đều có chính sách đặc biệt đối với tượng binh. Dưới thời Trịnh nhà nước quy định: “các thớt voi cao từ 6 thướt (ta) trở lên, mỗi tháng được cấp lương 4 phương, cao từ 4 thước trở lên và voi lái (voi tải) thì mỗi thớt, mỗi tháng được cấp lương 3 phương”. “26”

Voi là lực lượng tác chiến quan trọng, góp phần tạo nên thắng lợi trong chiến đấu. Chúa Nguyễn Phúc Chu (chúa Hiển Tông hay chúa Quốc: 1691- 1725) đã từng nói: “ Mấy nâm gần dây, chống chọi với Đông Kinh ( quân Đàng Ngoài ) và Chiêm Thành, quân ta thắng trận phần lớn là nhờ sức voi”. ( 27) Tuy nhiên, tượng binh không phải là không có ngược điễm. Trong lịch sử, tượng binh đã có lúc không phát huy được sức mạnh của mình. Năm 436, quân nhà Đường chiếm đóng nước ta đánh nhau với quân Champa, quân nhà Đường đã chế tạo hình đầu su tử trùm lên đầu ngựa xông vào giáp chiến với tượng binh Champa. Kết cuộc “voi thấy sư tử quả nhiên bỏ chạy”. (28) Năm 605, quan cai trị nhà Tùy tại nước ta là Lưu Phương mang quân di đánh Champa. Để chống tượng binh Champa, Lưu Phương đã cho “đào hầm nhỏ, có phủ cỏ lên trên; rồi cho binh đi khiêu chiến. Khi lâm trận, giả vờ thua chạy, quân Champa đuỗi theo, thì voi phần nhiều bị sụp hầm vấp ngã, rồi chuyễn thành kinh hãi; sau đó, lại lấy nỏ bắn voi, voi thối lui làm kinh trận địa Champa”. (29)

Do đó, để tạo nên chiế thắng, tượng binh phải được tổ chức chặt chẽ, phối hợp tác chiến nhịp nhàng với bộ binh, có tính kỷ luật cao và quan trọng là phải có sự chỉ huy tài giỏi. Điều này đã được thể hiện rõ nét qua các chiến thắng liên tiếp của nghĩa quân Lam Sơn từ năm 1425 đến năm 1427: năm 1425, nghĩa quân với 500 quân và 2 thớt voi đánh thành Tây Đô (Thanh Hóa); diệt hơn 500 quân nhà Minh. Tháng 8/1426, nghĩa quân với 3.000 quân và 2 thớt voi làm nên chiến thắng Tốt Động- Chúc Động vang dội. Tháng 10/1426, đại quân Lam Sơn do Lê Lợi chỉ huy từ Thanh Hóa tiến về Đông Quan (Thăng Long), có 20 thớt voi chiến đi cùng. Năm 1427, Lê Lợi sai các tướng lĩnh dưới quyền mang binh tượng mai phục ở ải Chi Lăng và ải Lê Hoa để đón đánh các đạo viện binh của nhà Minh từ Trung quốc sang. Kết quả, tướng giặc Liễu Thăng bỏ mạng ở ải Chi Lăng; còn ở ải Lê Hoa, khi nghe tin đại binh của Liễu Thăng đại bại, chủ tướng Mộc Thạnh vội vã ra lệnh rút lui.

Dưới thời Tây Sơn, dưới sự chỉ huy tài ba củ nhà quân sự kiệt xuất Nguyễn Huệ, tượng binh đã được sử dụng đạt hiệu quả cao nhất. Đó là việc biến voi chiến thành một lực lượng hỏa lực mạnh mẽ khi voi được kéo theo pháo hoặc được trang bị pháo trên lưng hoặc trở chở các chiến sĩ và từ trên lưng voi, họ sẽ ném hỏa cầu lưu hoàng- có công dụng như lựu đạn ngày nay- nhằm sát thương đối phương.

Vì thế, khi mang quân sang xâm lược nước ta, Tôn Sĩ Nghị đã ra hẳn một điều quân luật để chống lại voi chiến của Tây Sơn. Thế nhưng, mọi cách đề phòng của quân Thanh đều bị thất bại. Ngày 1/2/1789, trong trận đánh đồn Ngọc Hồi (đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy ),hơn 100 con voi chiến của nghĩa quân xông vào tiến công. Đội kị binh thiện chiến của quân Thanh ra nghênh chiến. Lúc đó,: trên lưng mỗi con voi có ba, bốn người lính chít khăn đỏ, ngồi ném tung hỏa cầu lưu hoàn ra khắp nơi, đốt cháy cả người nữa”.(30) Trước hỏa lực tiến công dữ dội, quân Thanh bị tan vỡ nhanh chóng. Đội tượng binh Tây Sơn lập tức giày xéo quân giặc, phá nát doanh trại địch, tạo nên nỗi kinh hoàng cho đội quân xâm lược. Đàn voi chiến Tây Sơn đã thực hiện trọn vẹn và liên tục từ khâu cận chiến đến khâu giáp chiến, và cuối cùng đạt kết quả mỹ mãn. Ngày 3/2/1789, Quang Trung- Nguyễn Huệ, trong bộ áo bào sạm đen thuốc súng dân đầu đội quân chiến thắng và hơn 80 thớt voi tiến vào Thăng Long trong sự hân hoan của dân chúng kinh đô.

Trong lịch sử nước ta, voi là loài thú dược dân tộc ta thuần dưỡng và sử dụng vào nhiều việc khác nhau, nhất là trong sản xuất (kéo gổ, tải đồ, và trong chiến đấu. Vì thế, ông cha ta đã có những việc làm cụ thể nhằm khắc ghi công lao của voi, chẳng hạn như lập “Điện voire” ở Huế, để thờ những con voi có thành tích. Tại đây, có những bài vị sơn son thếp vàng, ghi tên và công lao của voi; và có hai ngôi mộ lớn chôn hai con voi, trong đó một ngôi mộ còn bia đá, ghi tên voi là “mã long”. (31) Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), chống Mỹ (1954-1975 voi được s73 dụng tải vủ khí và lương thực ở Trường Sơn; trong đó có con được tặng thưởng “Huân chương kháng chiến”và được đưa vào Vườn bách thú Hà Nội cho đến lúc chết. (32) Điều đó phản ảnh ý thức của nhân dân ta là, bên cạnh việc săn bắn và thuần dưỡng voi, thì cần phải ra sức bảo vệ đàn voi nhằm nhu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và nhu cầu vận chuyển vốn rất cần sức voi ở vùng rừng núi.

Cập nhật ( 16/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online