Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Văn chuông chùa Đà Quận – Viên Minh Tự (Cung Văn Lược, Chu Quang Trứ)
Văn chuông chùa Đà Quận – Viên Minh Tự (Cung Văn Lược, Chu Quang Trứ) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/03/2009

VĂN CHUÔNG CHÙA ĐÀ QUẬN - VIÊN MINH TỰ - MỘT TƯ LIỆU QUÝ VỀ THỜI MẠC Ở CAO BẰNG

* Cung Văn Lược – Chu Quang Trứ

Chùa Đà Quận tên chữ là Viên Minh tự, hiện thuộc xã Hưng Đạo huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng, nay đã tan hoang, nhưng trong khu đất nền chùa còn có hai quán nhỏ rêu phong, bên trong treo hai quả chuông lớn. Trong cuộc Hội thảo về văn hóa Dân gian Cao Bằng tiến hành vào các ngày 21-23/2/1993, họa sĩ Phan Ngọc Khuê(1) cho rằng: chuông đã mờ hết chữ, không miêu tả, nhưng thuộc “phong cách nghệ thuật cuối Trần đầu Lê”(2). Để xác minh rõ giá trị hai quả chuông này, ông Triệu Đình Vương Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng và ông Y Phương, Giám đốc Sở VHTT tỉnh Cao Bằng, đã tổ chức ngay một cuộc khảo sát điền dã giữa hai buổi họp sáng và chiều ngày 23-2-1993, trực tiếp đưa GS. Trần Quốc Vượng cùng hai chúng tôi đến thăm chùa Đà Quận.

 Với thời gian eo hẹp, đoàn chúng tôi đã khẩn trương tìm hiện vật và thu được một số tư liệu để bước đầu có thể tạm gợi ra vài nhận xét nhỏ bé. Sau khi trở lại Hà Nội, chúng tôi đã tra xét các văn bản cổ của người xưa để lại, mà trong đó có đề cập đến danh vật, danh nhân, chùa chiền và lịch sử - văn hóa Cao Bằng, nhằm hiểu sâu hơn về giá trị hai quả chuông này.

Ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu, miêu tả lại đôi nét về hai quả chuông chùa Đà Quận và qua đó mạnh dạn nêu nên một vài nhận xét sơ bộ.

- Hai quả chuông chùa Đà Quận vào loại những chuông lớn ở nước ta. Quả chuông to: cao 1,75 m, miệng rộng 1,07m. Quả chuông nhỏ: cao 1m55, miệng rộng 0m95. Cả hai đều đúc bằng hợp kim đồng, lâu ngày đã ngả sang màu gang. Quả chuông to ở bồ lao treo bị cưa mất một chân rồng. Quả chuông nhỏ ở thân thủng một lỗ (Dân địa phương kể rằng: tiếng chuông kêu vang to quá làm mọi người trong bản mường mất ngủ, do đó họ đục đi cho bớt vang).

- Hai quả chuông như vậy, nhưng quai treo thì lại rất ngắn và chỉ cao chừng hơn 20cm, khiến cho dáng chuông như lùn xuống và bè ra. Cả hai quả chuông đều có dáng rất mập khỏe, hình khối căng bầu. Trang trí đơn giản với miệng loe nhưng để trơn. Chủ yếu là bốn nhóm gờ dọc và một nhóm gờ ngang ở chừng 1/3 thân chuông (tính từ dưới lên). Nơi gặp nhau của các nhóm gờ ngang và dọc ấy tạo thành núm đánh. Ngoài ra ở cuối của hai nhóm gờ dọc, đối nhau cũng có núm đánh. Tất cả có 6 núm đánh nổi to, rõ. Các núm này cấu tạo giống nhau: trong là một hình tròn, bao ngoài là một bông sen nổi cao, gồm 12 cánh vuông. Quanh vai chuông cũng có một nhóm gờ ngang để phân ra phía trên là đỉnh chuông bẹt, ở đó có bồ lao treo là đôi rồng gắn nối ngược chiều nhau ở khoảng ngực. Những con rồng này đều có mào dài, sừng ngắn và mập, tóc chải mượt, thân mập.

Nhìn chung dáng dấp chuông và trang trí chuông mang chất điêu khắc nối khối, chân chất, thoáng đãng, mộc mạc. Hình khối và đường nét đều rõ ràng. Do vậy, vừa thoáng nhìn, chúng tôi đã có thể liên hệ với lịch sử và cảm nhận cả hai quả chuông này đều thể hiện nhiều khả năng đặc điểm là những di vật của hậu kỳ thời Mạc.

- Về văn tự ngay đến tên chuông, mà thông thường vẫn thấy được đúc bằng đại tự nổi cao, thì ở cả hai chuông đều không có. Thoạt nhìn, mặt chuông không thấy Minh văn, nhưng quan sát kỹ sẽ thấy mặt quả chuông nhỏ có khắc chữ vuông ở tất cả các ô. Trong đó, những ô thuộc nửa trên đã mờ gần hết chữ, những ô thuộc nửa dưới còn rõ hơn. Ở đó có khắc phần đầu của bài văn đã đọc được hầu hết các chữ vuông là chữ Hán.

Phiên âm Hán Việt như sau: “Viên Minh tự chung, minh Tán viết: Thiên khi Nam Việt, Địa tịch Cao Bằng. Trung cư bản Phủ, Để khống Đế thành. Thạch Châu lặc [?], Đà Quận địa linh. Thanh Sơn(3) Thủy tú, Mãng(4) Thủy nhiễu oanh. Tổ danh thắng tích, Tự hiệu Viên Minh. Cao đồng chú thạch, Nhật dương tương hành. Thượng huyền lâu các, Thạch trí vu thinh. Phong lịch ngồi ngỗi, Kim ngọc khanh hạnh. Bồ xao nguyệt động, Khí động phong thanh. Thần từ đối diện, Cung điện tranh vanh. Thời canh trú dạ. Tịch chung minh. Thế tình biến hoán, Nhân vật hoành sinh. Nhân do [?] [?], Trí lực kinh dinh. Tá Mạc thánh chúa, Phù Tộ hiền khanh. Kim đồng bị thạch, Phật tự mô hoành. Tưu công tạo tác, Lưu đại Phan Hình. Y thời cẩn tốt, Hội chủ cáo thành. Hoàn viên như nguyện, Viễn cận tri danh. Âm công ký hiển, Dương báo tất vinh!”.

Tạm dịch “Văn khắc chuông chùa Viên Minh. Lời tán rằng: Trời mở Nam Việt, Đất lập Cao Bằng. Ở giữa bản Phủ, Vững đất thành Vua. Thạch Châu kiên [cố?], Đà Quận đất thiêng. Non xanh nước biếc, sông Mãng uốn quanh. Cổ danh thắng tích, Chùa gọi Viên Minh. Chế đồng đục đá. Sống cùng trời trăng, chuông treo lầu gác. Chuông đặt trong sảnh. Gió thổi vang vang, tiếng ngọc rung rinh, chuông động vầng nguyệt, Mỗ động gió âm. Đền Thần đối diện, Cung điện chênh vênh, Giờ giấc sớm tối, Tiếng chuông u huyền. Thế tình biến đổi, người vật nảy sinh. Nhân do [?] [?], ra sức sửa trị. Giúp thánh chúa Mạc, Tôi hiền phù vận. Chuông đồng bia đá, Chùa Phật lớn lao. Đón thợ dựng xây, Giữ mãi hình Phật. Đúng hạn hoàn thành, Hội chủ báo công. Lòng thành trọn vẹn. Gần xa biết tiếng. Âm công rạng tỏ, Dương báo vẻ vang!”

Rõ ràng tác giả bài minh rất tự hào với mảnh đất Cao Bằng của nước Nam Việt, nơi đây cảnh thú thanh lịch, có chùa Viên Minh, đền thần và cung điện lầu cao gác đẹp, có chuông chùa hàng ngày đánh lên vang động không trung. Tác giả cũng đề cao nhà Mạc hội tụ được nhân tài. Như vậy, rất có thể chuông chùa Viên Minh được đúc khi nhà Mạc đang chiếm giữ Cao Bằng và đóng đô ngay tại đây.

Ở một ô khác trên chuông có ghi tên người hưng công. Phần nhiều tên bị mờ, song còn rõ hơn cả là dòng tên một người vợ là Phạm Thị Ngọc Yến, tức phải thuộc vào dòng dõi quyền quý.

- Kiểm tra lại dự đoán niên đại ở trên, chúng tôi tìm được trong sách Đại Nam Nhất thống chí, mục Chùa quán thuộc tỉnh Cao Bằng (Tập IV, tr.404, bản dịch, Nxb. KHXH, 1971) có ghi: “Chùa Minh Viên: ở xã Xuân Lĩnh huyện Thạch An, nay trong chùa có một quả chuông, khắc chữ Kiền thống thập cửu niên Tân Hợi chú”. Và “Chùa Đông Lân”: ở xã Vu Thủy huyện Thạch Lâm Tương truyền chùa này cùng chùa Minh Viên đều do nhà Mạc dựng”.

Chúng tôi nghĩ rằng: chùa Minh Viêng trong đoạn trích trên rất có thể là chùa Viên Minh ở Đà Quận mà chúng tôi đã được mục kích và tìm hiểu. Và nếu như vậy, thì quả chuông chùa Viên Minh với bài minh, chẳng những sẽ có niên đại tương đối vào thời Mạc mà còn có niên đại tuyệt đối là năm Kiền Thống 19, tức năm 1611.

Cũng cần nêu thêm rằng: Chuông thời Mạc đến nay còn rất hiếm. Những áng văn thơ hay của thờ mạc cũng chẳng còn được bao nhiêu. Và ngay cả những nhận thức về thời Mạc cũng chưa thống nhất. Dầu sao đi nữa quả chuông với bài Minh trên kia vẫn là những tư liệu rất quý. Còn quả chuông to không có chữ hiện ở chùa Viên Minh ở Đà Quận, liệu có thể là quả chuông chùa Đông Lân chuyển về không ? Chúng tôi chờ lời đáp trong sự phối hợp nghiên cứu của các nhà khoa học với tỉnh Cao Bằng.

 

CHÚ THÍCH

(1) Viện bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội).

(2) Xem bài Truyền thống văn hóa trong cuộc sông dân gian Cao Bằng, của họa sĩ Phan Ngọc Khuê, trong sách Văn học dân gian Cao Bằng, Hội Văn nghệ Cao Bằng, 1993, trang 279-197.

(3) Do quan hệ kết luận đối, nên có lẽ là: “Sơn thanh thủy tú” thì phải.

(4) Chữ Hán vốn đọc Mang, đồng bào địa phương đọc Mãng chỉ sông Mãng. Đây là hiện tượng mượn chữ, không mượn âm trong văn bản Tày

Cập nhật ( 16/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online