Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Dấu ấn sông rạch (Trần Phỏng Diều)
Dấu ấn sông rạch (Trần Phỏng Diều) PDF In E-mail
Người viết: Administrator   
04/06/2008

DẤU ẤN SÔNG RẠCH TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ

* Thạc sĩ Trần Phỏng Diều

Nam bộ được mệnh danh là xứ sở của những dòng sông. Nơi có khoảng 54.000 km chiều dài sông, rạch. Chính yếu tố sông rạch này đã góp phần quan trọng vào cuộc sống của người dân nơi đây.

 

        1. Trước tiên là việc xác định địa bàn cư trú. Trong quá trình mỡ cõi vào phương Nam, các lưu dân đã nhận thấy tầm quan trọng của sông rạch trong việc ổn định cuộc sống của họ sau này. Cho nên, việc chọn địa bàn cư trú ven sông rạch không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, mà đó là tất cả những kinh nghiệm thực tiễn từ việc tương tác với môi trường tự nhiên. Như đã trình bày, Nam bộ có một hệ thống sông rạch chằng chịt, vì vậy việc cư trú ven sông đã tạo thuận lợi cho việc di chuyển bằng đường thủy, phù sa sông rạch bồi đắp quanh năm thuận lợi cho việc dẫn thủy nhập điền, tưới tiêu ruộng đồng, hoa màu, nơi ở thoáng mát cùng bao tiện ích của cuộc sống sinh hoạt thường nhật. Như: tắm giặt, đánh bắt thủy hải sản, giao lưu trao đổi hàng hóa, bán buôn…

            Mô hình nhà ở mà ta thường thấy nhất là, trước sông sau ruộng. Loại hình cư trú này rất phổ biến ở Nam bộ. Người ta sống tập trung nhau thành một dải dài theo dòng chảy của con sông. Mỗi nhà cách nhau bằng một khoảnh đất trống, một bụi chuối, hay hàng cây nào đó. Nhà ở chính giữa, phía trước là một con lộ đất nhỏ rồi mới tới con sông. Ở bến sông, người ta bắt một cây cầu ván de ra mé sông để làm nơi giặt giũ, tắm gội, rửa chén bát cũng như mọi sinh hoạt khác cần đến nguồn nước. Có khi người ta chỉ để một hoặc hai thân cây dừa nằm lài từ trên bờ đến mé sông để làm cầu. Trên thân dừa, người ta dùng dao đẽo một vài miếng tạo thành bậc thang phòng khi chơn chợt khi cây dừa ngâm dưới nước lâu ngày. Kế bên cầu thường là chỗ đậu ghe, xuồng để thuận tiện mỗi khi di chuyển. Có khi, người ta cất một mái lá de ra sông để ghe xuồng đậu nhằm tránh nắng mưa. Dọc theo triền sông thường là những hàng cây so đũa, điên điển, bần, dừa… Mô hình này rất thuận lợi cho người nông dân ở vùng sông nước. Sáng ra sau nhà làm đồng, mò cua, bắt ốc; trưa, chiều ra bờ sông phía trước tắm, giặt giũ, câu cá, đặt vó, kéo lưới… Nếu không có việc phải đi xa, người nông dân ở đây chỉ quẩn quanh từ trước tới sau nhà thì nhu cầu cơ bản của cuộc sống cũng tạm đáp ứng được.

            Mô hình cư trú thứ hai mà ta cũng thường thấy, đó là địa bàn cư trú ở vùng giáp nước. Nơi đây thường diễn ra các buổi họp chợ, buôn bán, trao đổi hàng hóa và cũng là một cái “chợ thông tin” cho mọi người. Giáp nước là nơi đổi con nước, ghe xuồng ngược xuôi thường hay ghé lại nghỉ ngơi, vào hàng quán để ăn uống đợi con nước sau. Điều này rất thuận tiện cho họ, vì cả hai chuyến đi về họ đều đi con nước xuôi, chèo chống đỡ mệt, khỏi phải tốn nhiều công sức. “Đi trên kinh rạch Nam Việt, gặp chỗ giáp nước thì luôn luôn ta thấy một cái chợ hoặc lớn hoặc nhỏ, ít nhất cũng là một xóm có vài quán bán hàng, vì chỗ giáp nước là chỗ đổi con nước; mười ghe thì chín ghe đậu lại đợi con nước sau. Trong khi nghỉ, người ta lên bờ mua thức ăn, đồ dùng, uống trà, cà phê, thế là tự nhiên nổi lên cái chợ. Tóm lại, chỗ giáp nước cũng tựa như một nhà ga có chỗ tránh trên đường thủy vậy”.<!--[if !supportFootnotes]-->[1]<!--[endif]--> Ngoài việc mở hàng quán bán đồ ăn, thức uống, những nhà cư trú nơi giáp nước cũng mở các cửa tiệm như: nhà may, sửa máy xuồng, máy ghe, vá soong, vá chảo, tiệm tạp hóa… Giáp nước là nơi làm ăn được, nên càng ngày người ta kéo đến ở càng đông, rồi cửa tiệm thi nhau mọc lên, tạo nên một “xóm chợ” đông đúc và vui nhộn. Lần lần hình thành nên những khu, những xóm dân cư sinh sống cùng một nghề, cùng chia sẻ những hoạn nạn, khó khăn, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau.

            Mô hình nhà ở kế tiếp là, trước đường sau sông. Đặc điểm cư trú này hình thành sau hai mô hình kia. Mô hình nhà ở này hình thành khi công cuộc khai phá đất hoang đã hoàn tất, cuộc sống xã hội phát triển, nhu cầu giao thương đã cao. Mô hình nhà ở này thường tập trung ở nơi dân cư đông đúc, đường sá thuận tiện. Phía trước nhà là một con đường đất, hoặc đã được lót đan, có khi tráng xi măng. Đường tương đối lớn, đối diện bên kia đường thường là một dãy nhà, tạo nên thế đối diện và tâm điểm là con đường này. Phía sau nhà thường là con sông lớn, người ta cho bắt cầu để tiện việc sinh hoạt. Nhà kiểu này thường có đặc điểm trước là nền đất sau là nhà sàn. Phía nhà sàn này dùng cho sinh hoạt cá nhân của các thành viên trong gia đình, như: nấu bếp, đặt vài cái lu chứa nước, làm nhà tắm, nhà vệ sinh. Đôi khi người ta cất thêm một cái chái bên nhà để làm chỗ đậu ghe xuồng. Nhà ở kiểu này ngoài việc tiện cho cho việc sinh hoạt vì ở gần nguồn nước còn được cái thuận lợi khác là được cả hai mặt tiền. Mặt trước, mặt sau đều có thể buôn bán được, hoặc có việc đi lại khi cần.

            2. Về ăn uống, điều dễ nhận thấy nhất là người Nam bộ thích ăn và ăn rất nhiều các loại thủy hải sản. Do cảnh quan địa lý kinh rạch chằng chịt đã tạo cho vùng đất Nam bộ trở thành một vùng đa sinh thái nên vùng đất này rất giàu thủy hải sản: tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, cá, lươn… Từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên này, người Nam bộ chế biến ra các món ăn khác nhau. Chế biến món ăn là một khâu vô cùng quan trọng quyết định đến sự thành bại của món ăn. Trong đó, loại rau nào ăn với món gì, món ăn đó chấm với nước chấm nào… là một công thức không thể nào không tính đến khi tạo tác món ăn. Và qua dòng thời gian, con người càng ngày càng phát kiến thêm nhiều cách kết hợp món ăn khác nhau đã làm cho kho tàng văn hóa ẩm thực của dân tộc không ngừng phong phú lên. Về phần này, người Nam bộ cũng không chịu nhường ai với một thực đơn vô cùng đa dạng của mình. Nào kho, nào luộc, nào xào, nào là khô, nào là mắm… và món nào chiên, món nào xào, thứ nào làm khô, thứ nào làm mắm… là những kinh nghiệm đã được tích lũy hàng trăm năm mới có được, chứ không phải một sớm một chiều. Với một nguồn thủy hải sản dồi dào dường như bất tận này mà người Nam bộ đã chế biến ra nhiều món ăn vô cùng phong phú, như: canh chua cá kèo, tép đất luộc gói với lá tằm duột, lươn um lá nhào, ốc bươu luộc hèm, chuột đồng xào sả ớt… Đặc biệt, lẩu mắm được xem là một món ăn đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Nam bộ. Chỉ riêng một lọai mắm mà người Nam bộ đã có một danh sách thực đơn dài đáng nể: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc… và chỉ một món mắm, người Nam bộ đã có những cách ăn khác nhau: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm…

Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,

Về bưng ăn cá, về đồng ăn cua.

Bắt cua làm mắm cho chua,

Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền.

            Tác giả sách Gia Định thành thông chí cũng đã từng đề cập đến thói quen ăn mắm của người Nam bộ như sau: “ Đất Gia Định (hiểu là cả Nam bộ) nhiều sông suối cù lao, nên 10 người đã có người quen việc chèo thuyền, bơi nước, ưa ăn mắm; có người trong 1 bữa ăn, ăn hết 2 ống mắm, độ hơn 20 cân, để làm trò vui trong khi đố cuộc nhau”.<!--[if !supportFootnotes]-->[2]<!--[endif]-->

            Như vậy ta thấy, trong cơ cấu bữa ăn của người Nam bộ, các nguyên liệu dùng để chế biến món ăn bắt nguồn từ sông rạch không phải là nhỏ. Đó là còn chưa kể đến các loại thực vật, hoa màu sinh sống ở sông rạch như: kèo nèo, bông súng, rau muống, lục bình, môn nước… Không phải ngẫu nhiên người Nam bộ gọi cái lẩu là cái cù lao. Bởi hình dạng nó tương thích với địa hình Nam bộ . Người Nam bộ thấy cái lẩu có hình dạng như cù lao nên mới gọi cái lẩu là cái cù lao. Ngẫm nghĩ, ta thấy điều này cũng có lý. Giữa cái lẩu có một phần nhô lên dùng để thang, xung quanh nó là nước, và trong nước có cá tôm, rau cải… thật không khác hình dạng cù lao của vùng sông nước Nam bộ.

            3. Về trang phục, cơ bản trang phục của người Nam bộ không mấy khác biệt so với các vùng khác trong cả nước. Nhưng do sống trong môi trường sông nước mà người Nam bộ đã có những lựa chọn trang phục cho riêng mình để thích ứng với thiên nhiên ở đây. Có thể nói, áo bà ba và chiếc khăn rằng là trang phục tiêu biểu của cả nam lẫn nữ nông dân Nam bộ- những người gắn bó trực tiếp công việc của mình với sông nước. Do người nông dân Nam bộ suốt ngày phải chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu giăng lưới… nên áo quần rất mau mục. Để thích ứng, người Nam bộ đã chọn những loại vải dày hơn, nhuộm đen để mặc được bền hơn. Và chiếc áo bà ba với chiếc khăn rằn đã tỏ ra thích hợp với môi sinh ở đây. Vừa bền vừa tiện lại thích hợp với điều kiện sông nước. Chiếc áo bà ba rất thuận tiện cho việc ra đồng: gọn, nhẹ, bền, có túi để đựng một vài vật dụng cần thiết. Còn chiếc khăn rằn thì có thể dùng để lao mồ hôi, quấn cổ và có thể dùng quấn ngang người để thay quần.

4. Về phương tiện đi lại, do điều kiện sông ngòi chằng chịt đã làm cho việc đi lại của con người ở đây đã gặp phải nhiều khó khăn và nguy hiểm. Nhưng để ứng xử với môi tự nhiên và thích nghi với địa hình sông nước, cư dân ở Nam bộ thời khẩn hoang đã nghĩ đến việc dùng ghe xuồng để làm phương tiện đi lại. Thật ra thì, giao thông đường thủy là phương tiện đi lại đã có từ lâu đời của người Việt Nam. Nhưng do ở Nam bộ có nhiều sông, rạch nên loại hình này mới phát triển đa dạng và phong phú. Tác giả sách Gia Định thành thông chí cho ta biết rằng: “Ở Gia- định chỗ nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng thuyền làm nhà ở hoặc để đi chợ, hay để đi thăm người thân thích, hoặc chở gạo củi đi buôn bán, rất tiện lợi, mà ghe thuyền chật sông ngày đêm qua lại,…”<!--[if !supportFootnotes]-->[3]<!--[endif]-->

            Khoảng cuối thế kỷ thứ 17, những lưu dân từ miền Trung, miền Bắc đã lợi dụng sức gió mà xuôi thuyền vào phương Nam bằng loại ghe bầu. Nhưng đến địa hình sông nước của Nam bộ thì loại ghe này tỏ ra không phù hợp. Vì vậy, những lưu dân mới sáng tạo ra nhiều loại ghe xuồng mới, phù hợp với địa hình sông nước của vùng Nam bộ hơn. Ghe xuồng ở Nam bộ phát triển nhiều kiểu đa dạng, phong phú. Từ những chiếc ghe xuồng bơi, chèo, chống, luồng lách trong kênh, rạch nhỏ đến những chiếc ghe, tàu vài chục tấn, vài trăm tấn bằng động cơ máy nổ được sử dụng đan xen với nhau tạo nên nét đặc trưng riêng của vùng sông nước Nam bộ.

Ghe ai đỏ mũi, xanh lườn

Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?

Ghe xuồng đối với cư dân Nam bộ là một vật dụng thiết yếu phục vụ việc đi lại và chuyên chở của con người. Ngoài ra, nó còn là phương tiện đánh bắt thủy hải sản của người dân nơi đây. Cư dân Nam bộ có tập quán sống ven sông rạch, mà sông rạch ở Nam bộ thì có nguồn cá tôm rất dồi dào và phong phú, nên người ta dùng chiếc ghe, chiếc xuồng của mình để đánh bắt cá tôm. Như: câu tôm, câu cá, giăng lưới, cất vó, đặt lọp, xây nò, đóng đáy cọc, chài lưới, thả câu… Và hình tượng về con sông, dòng nước, chiếc xuồng, chiếc ghe, con đò ở Nam bộ đan xen chằng chịt kết thành điểm chợ buôn bán, trao đổi hàng hóa trên sông, rồi từ đó hình thành nên khu chợ nổi. Chợ nổi chính là nơi hội tụ đủ các loại người tứ xứ đến buôn bán, làm ăn. Từ những người dân bình thường đến những kẻ tứ cố vô thân, rời bỏ quê hương tha phương kiếm sống. Với một chiếc ghe chất đầy hàng hóa, nay họ ở chỗ này, mai chỗ khác. Có khi len lỏi vào tận những con kinh, con rạch, những đường nước hẹp đem hàng hóa phục vụ đến tận nhà, góp phần làm nên nét đặc trưng của chợ trên sông.

            5. Sống giữa sông ngòi chằng chịt, tự bao đời nay con người đã gắn bó với sông rạch trong các sinh hoạt thường nhật của mình. Cho nên, trong cách nói năng hằng ngày, cũng như khi định danh cho các sự vật, hiện tượng, con người Nam bộ đã sáng tạo ra vô số từ ngữ có liên quan đến sông nước như: Các từ định danh cho dòng nước gồm có: sông, ngòi, mương, máng, lạch, kinh, ao, hồ, rạch, xẻo, ngọn, rọc, dớn, láng, lung, bưng, biền, đưng, đầm, đìa, trấp vũng, trũng, tắc, gành, xáng, doi, vịnh, bàu… rồi các từ miêu tả sự vận động của dòng nước: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước trồi, nước sụt, nước dềnh, nước giựt, nước bò, nước chảy, nước đứng, nước nằm, nước chừng, nước nhửng, nước ương, nước chết, nước sát, nước rặc, nước cường, nước ghẻ, nước nhảy, nước thả, nước ngựa, nước trốt, nước xuôi, nước rằm

Nước rằm chảy thấu Nam Vang

Mù u chín rụng sao chàng biệt ly.

            Trong giao tiếp hàng ngày, người Nam bộ cũng dùng những từ ngữ đầy ấn tượng về văn hóa sông nước, như: chìm xuồng, câu tôm, mò tôm, vác cần tôm, quá giang, lặn lội, lội bộ, lội, tắm nắng

            6. Cuối cùng, sông nước Nam bộ mênh mông, chằng chịt đã để lại một dấu ấn mạnh mẽ trong nghệ thuật ngữ văn dân gian, mà tiêu biểu là trong ca dao, dân ca, hò, vè…

            Ngày xưa, trên các dòng sông, kinh rạch ở Nam bộ, đêm đêm vẳng lên tiếng hò man mác của những người chèo ghe, những khách thương hồ, những cô gái chở hàng bông đi chợ, những anh chàng giăng câu, thả lưới. Môi trường sông nước cũng chính là nơi giao lưu, gặp gỡ, trao đổi, ướm hỏi, tỏ tình:

Sông sâu sóng bủa láng cò

Thương em vì bởi câu hò có duyên.

            “Hình ảnh sông nước là cái khung làm tôn thêm vẻ đẹp cho những bức tranh về hạnh phúc lứa đôi, làm nhân chứng cho các cuộc thề bồi hẹn ước, đóng vai trò “gạch nối” giữa những mối tình. Sông nước cũng là nơi chứng kiến những biệt ly đổ vỡ, những đợi chờ thất vọng, những đổi thay giữa bến và thuyền.

Mồ cha đứa đốn cây bần,

Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm”.<!--[if !supportFootnotes]-->[4]<!--[endif]-->

            Hay cụ thể hơn:

Ghe lui khỏi bến còn dầm,

Người thương đâu vắng chỗ nằm còn đây?

Không kể những khó khăn do sông rạch mang đến, sông rạch ở Nam bộ đã có những mặt tích cực đáng kể đối với cuộc sống của người dân nơi đây. Và chính sông rạch đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng hình thành nên tính cách, lối sống, quan niệm, tập quán… của con người Nam bộ.

 

<!--[if !supportFootnotes]-->


<!--[endif]-->

<!--[if !supportFootnotes]-->[1]<!--[endif]--> Nguyễn Hiến Lê: Bảy ngày trong Đồng tháp mười. NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội- 2002. Tr. 34.

<!--[if !supportFootnotes]-->[2]<!--[endif]--> Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, tập hạ. Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo. Nha Văn Hóa- Phủ- Quốc- Vụ- Khanh- Đặc- Trách  Văn- Hóa xuất bản- 1972. Tr. 14.

<!--[if !supportFootnotes]-->[3]<!--[endif]--> Trịnh Hoài Đức: Sđd. Tr.15.

<!--[if !supportFootnotes]-->[4]<!--[endif]--> Thạch Phương- Hồ Lê- Huỳnh Lứa- Nguyễn Quang Vinh: Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ. NXBKHXH, Hà Nội- 1992. Tr. 64-65.

Cập nhật ( 01/12/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online