Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Nhã nhạc cung đình Huế (Lê Văn Hảo)
Nhã nhạc cung đình Huế (Lê Văn Hảo) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
01/04/2009

NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ

* Lê Văn Hảo

Niềm hoan hỉ tự hào Phong Nha - Kẻ Bàng chưa qua thì tới cuối năm 2003 một niềm hân hoan kiêu hãnh khác ùa tới: Nhã nhạc cung đình Huế, kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Về vinh dự này mà Tổ chức văn hóa của Liên Hiệp Quốc dành cho Việt Nam, xin có vài nhận xét và ngẫm nghĩ : 1. Nhã Nhạc Cung Đình Huế (NNCĐH) là một loại âm nhạc dân tộc cổ điển, bác học, thật sự kế thừa một truyền thống ngàn năm, kể từ khi những dàn nhạc - trong đó có mặt nhiều nhạc khí cung đình - xuất hiện dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên các bệ đá kê cột chùa thời Lý, thế kỉ XI-XII, đến lúc ông vua cuối cùng triều Nguyễn thoái vị vào giữa tk. XX.

2. Chế độ chính trị qua đi nhưng văn hóa còn lại vì nó là sáng tạo của con người, sức sống của dân tộc, tự hào của nhân loại. Ngót 60 năm trôi đi từ ngày chế độ quân chủ cáo chung tới ngày UNESCO vinh danh một loại nhạc Việt là di sản văn hóa của loài người, NNCĐH vẫn sống qua biết mấy thăng trầm, và vẫn giữ được giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật của nó, bởi vì một bà mẹ vua đã thành công giữ nó sống, vì một số nhạc công cung đình, nhạc sĩ và nhà nhạc học Việt Nam trong và ngoài nước "biết người biết của" - đã muốn nó sống.

3. Có lẽ không có loại âm nhạc Việt Nam nào được ghi vào thư tịch Hán-Nôm, sách báo tiếng Việt, Pháp, Anh, Ý ... , sản phẩm nghe nhìn hiện đại nhiều và lâu dài như Âm nhạc cung đình Việt và Nhã nhạc cung đình Huế, từ An Nam chí lược đời Trần, Đại Việt Sử ký Toàn thư đời Lê, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đời Nguyễn, đĩa hát vinyl 33 vòng Âm nhạc Việt Nam truyền thống Huế năm 1969, đĩa CD Rom Nhạc khí dân tộc Việt năm 2001 đến những sách và bài viết gần đây của Trần Văn Khê, Trần Kiều Lại Thủy, Trịnh Bách, Nguyễn Đắc Xuân ...

4. Theo tin từ Bộ Văn hóa và Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, bên cạnh NNCĐH đã được công nhận, 10 loại hình văn hóa độc đáo khác của Việt Nam đã và đang được lập hồ sơ gởi tới UNESCO để được xét công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đó là Hát ả đào (Ca trù), Hát quan họ, Hát xoan Hát ghẹo, Hát chèo tàu, Hát dô, Hát văn, Sử thi Tây Nguyên, Hát sli hà lù hà lô Tày-Nùng và 32 điệu Múa Thái. Sau khi NNCĐH được vinh danh, cánh cửa hi vọng vào lâu đài Di sản văn hóa nhân loại từ nay rộng mở, nhưng có một sự thật văn hóa cần được khẳng định ngay: NNCĐH có một giá trị nghệ thuật cao. Giáo sư Trần Văn Khê giải thích: "Nhạc khí dùng trong nhạc cung đình rất đẹp trong hình thức, đóng ráp kỹ, chạm trổ khéo, đầy đủ màu âm, có tiếng kim, tiếng thổ, tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng đồng, tiếng đá, tiếng da, tiếng mộc:

- Dàn nhạc đa dạng: Đại nhạc gồm đại hồng chung, trống đại, trống võ, bồng, mõ, thanh la, chập chõa, sinh tiền, kèn nhị. Tiểu nhạc hay Nhã nhạc có đàn dây tơ: đàn nguyệt (2 dây), đàn tam (3 dây), đàn tỳ bà (4 dây), đàn nhị (2 dây có cung kéo), có 2 sáo trúc, trống bảng một mặt, tam âm la (3 thanh la nhỏ), sinh tiền; (...)

- Việc thành lập những dàn nhạc không quan tâm đến số lượng mà đặt trọng tâm vào chất lượng và sự phối hợp màu âm: trong dàn Nhã nhạc, khi các nhạc công hòa tấu ta vẫn nghe rõ tiếng của từng cây đàn: tiếng chững chạc, trang nghiêm của đàn nguyệt, tiếng chuyền tiếng phi bay bướm của tỳ bà, tiếng trong vắt, vuốt ve " nên lời dịu ngọt " của đàn nhị, tiếng đục khi vê khi gảy của đàn tam, tiếng nỉ non vi vút của hai chiếc sáo trúc, tiếng kim của tam âm la, tiếng mộc của sinh tiền, tất cả nhạc khí đồng theo tiếng nhịp của trống bảng, khi khoan khi nhặt, khi vào nội phách, khi ra ngoại phách, tấu lên 10 bài Ngự, từ nhịp điệu khoan thai của mấy bản Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, lần lần dồn dập của mấy bài Hồ quảng, Liên hoàn, Bình bán, Tây mai, Kim tiền, rộn rã từ Xuân phong qua Long hổ, đi đến nào nhiệt như tiếng vó ngựa trong bài Tẩu mã;

- Thang âm điệu thức đa dạng, tiết tấu phong phú, bài bản dồi dào;

- Công dụng, chức năng đa dạng: khi là nhạc lễ trong các tế giao, tế miếu, trong những buổi đại triều, thường triều, khi là loại thính phòng cung trung chi nhạc, đàn cho vua chúa triều thần nghe chơi, lúc lại là những điệu nhạc giúp vui trong yến tiệc, phụ họa cho các điệu múa, cho những vở tuồng hát bội;

- Nhạc công, nhạc sĩ, các nghệ sĩ đàn ca, múa, hát đều có kỹ thuật rất cao vì chỉ triều đình mới có khả năng tài chính, quyền lực chính trị để qui tụ nhiều tài năng từ khắp nơi trong đất nước, có thể tạo điều kiện cho các nghệ sĩ ấy có thời gian và phương tiện trau dồi nghệ thuật để trở nên những nghệ sĩ cao tay nghề, sáng tác dồi dào và biểu diễn tinh vi " (Trần Văn Khê tham luận tại Hội thảo quốc tế Nhã nhạc cung đình Huế , Huế, 26-27 tháng 8-2002: " Giá trị lịch sử và nghệ thuật của Nhã nhạc cung đình Huế ", tạp chí Kiến thức ngày nay, tháng 9-2002, tr. 7-11)

5. Để có được giá trị nghệ thuật lớn ấy, âm nhạc cung đình Việt và NNCĐH không những đã trải qua nhiều thế kỉ sáng tạo nghệ thuật - mà ngọn nguồn là chiếc trống đồng Việt cổ, trống đồng Đông Sơn của thời đại Văn Lang - Âu Lạc, - mà còn trải qua nhiều thế kỉ giao lưu nghệ thuật, tiếp biến văn hóa (acculturation) Việt - Chăm, Việt - Hoa, kể cả đem chuông đi đánh xứ người. Vài ví dụ: đầu thế kỉ XV thời Lê sơ, một quan hoạn đã bị động sao chép nhạc cung đình triều Minh dâng vua mà vua vẫn chấp thuận bất chấp sự phản đối của Nguyễn Trãi ; cuối thế kỉ XVIII triều đình nhà Thanh đã có dịp thưởng thức " An Nam quốc nhạc" của thời Tây Sơn; năm 1970 đoàn Ba Vũ (Huế) đã biểu diễn một số bài bản còn lại của NNCĐH tại Expo Quốc tế Osaka (Nhật Bản) để rồi 33 năm sau giới yêu chuộng âm nhạc ở năm châu bốn biển đã phát hiện lại kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu này của Việt Nam dâng cho nhân loại.

Vài niên đại, thời điểm kể trên có thể làm chứng cho một cuộc đại phiêu lưu sáng tạo nghệ thuật và giao lưu văn hóa dài mười thế kỉ của một dân tộc thương người, yêu thơ, mến nhạc, trọng nhân nghĩa, thiết tha công lý, khao khát hòa bình.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, khi thưởng thức và trân trọng NNCĐH, khi nói đến hay viết về nó, người Việt chúng ta không thể nào không nhớ ơn tất cả những ai đã góp phần tạo nó, bảo vệ, gìn giữ, phổ biến, ủng hộ, tài trợ nó để có được cuộc trung hưng xứng đáng với giá trị của nó như hôm nay.

Đó là những điều có thể thấy qua Niên biểu sau đây.

Niên biểu lịch sử Âm nhạc cung đình Việt Nam (thế kỉ X-XXI)

Thời vua Lê Đại Hành (trị vì 980-1005)

982 Vua xâm nhập lãnh thổ Chămpa, chiếm kinh đô Indrapura rồi đưa về Hoa Lư 100 " cung kỹ " (ca nhi, vũ nữ) Chăm. Kể từ ấy ảnh hưởng Chăm bắt đầu thâm nhập âm nhạc cung đình Việt. (Tham khảo Toàn thư, Cương mục, Hội điển ...)

Thế kỉ XI-XII: Đời Lý, triều đại quân chủ đầu tiên của V.N.

Trên nhiều bệ đá kê các cột chùa Vạn phúc (còn gọi là chùa Phật Tích , ở làng Phật Tích, vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh) thấy chạm nổi một dàn nhạc 10 người chơi 8 nhạc khí: thổi tiêu, địch (ống sáo), đánh phách, trống cơm, kéo nhị, gảy đàn tam, tỳ bà, đàn cầm. Như vậy dàn nhạc có 4 nhạc khí dây, 2 nhạc khí thổi, 2 nhạc khí gõ là những nhạc khí hoặc thuần Việt hoặc gốc gác từ Ấn Độ, Chămpa, Trung Quốc. (Phát hiện khảo cổ học tại chỗ của Louis Bezacier năm 1940, nghiên cứu nhạc học của Trần Văn Khê cuối thập kỷ 50).

Thời vua Lý Thái Tông (1028-1054)

1044 Vua đánh Chămpa, chiếm thành Phật Thệ, đưa về Thăng Long nhiều cung nữ Chăm giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên (khúc hát, điệu múa Chăm gốc gác từ Ấn Độ)

Thời vua Lý Thánh Tông (1054-1072)

1060 Là người giỏi văn, thích nhạc, vua đích thân phiên dịch một khúc nhạc Chămpa, ghi chép một điệu trống Chămpa (đất nước có một nền mỹ thuật, âm nhạc và vũ đạo phát triển lâu đời dưới ảnh hưởng văn minh Ấn Độ) rồi sai nhạc công ập luyện, biểu diễn.

1069 Vua đánh Chămpa, bắt được vua Chăm Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Chế Củ buộc lòng nộp 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình, bắc Quảng Trị) để chuộc lại tự do. Cuộc Nam tiến của người Việt bắt đầu.

Thời vua Lý Nhân Tông (1066-1128)

Dựa trên sử cổ, văn bia, nhà sử học - văn hóa học Trần Quốc Vượng đã " Phác họa chân dung nhạc sĩ Lý Nhân Tông (1066-1128) ": Đặc biệt giỏi về âm luật, vua đích thân sáng tác những bài ca, khúc nhạc cho nhạc công cung đình tập luyện. Văn bia chùa Đọi viết: " Vua ta tứ thơ thâu tóm thiên biến vạn hóa của Đất Trời, nhạc phổ hòa hợp âm thanh của Đường, Phạn " (Trung Hoa, Chămpa, Ấn Độ). Hiểu biết đến nơi đến chốn nhạc Đại Việt, Chămpa, Trung Quốc, vua đã sáng tác những khúc điệu mới tân kỳ như khúc nhạc " Tiên cưỡi mây xuống trần " véo von tiếng hát cung đàn ngợi ca công lớn của tiên vương " (dẫn trong Văn hóa Việt Nam, Tìm tòi và Suy ngẫm - 2000)

Thời vua Lý Cao Tông (1176-1204)

1202 Vua sai nhạc sĩ cung đình đặt ra khúc nhạc gọi là Khúc nhạc Chăm (" Chiêm Thành âm ") tiếng trong trẻo, ai oán, não nùng, người nghe phải rỏ nước mắt.

Thế kỉ XIII-XIV: Đời Trần

1306 Công chúa Trần Huyền Trân, em vua Trần Anh ông sánh duyên với vua Chămpa Chế Mân và sính lễ là hai Châu Ô, và Ri (Nam Quảng Trị, Thừa Thiên, một phần bắc Quảng Nam) tặng về cho Đại Việt. Nhân dân Đại Việt và Chămpa xích lại gần nhau hơn.

1307 Lê Tắc trong An Nam chí lược cho biết: Nhạc cung đình đời Trần có Đại nhạc, trong dân gian có Tiểu nhạc với tổng cộng 12 loại nhạc khí: đàn gáo, đàn cầm, thất huyền, tỳ bà, tranh, tam, kèn tất lật, sáo(tiêu), địch (sáo ngang), phách, tiểu bạt và trống cơm mà Lê Tắc nói rõ là có gốc gác Chăm.

Các vua Lý, Trần đều ưa thích nhạc Chăm, múa Chăm. Qua nhiều trăm năm tiếp biến văn hóa Đại Việt - Chămpa, nhạc cung đình Việt " đã nhuộm màu chàm " (Trần Văn Khê).

Đầu thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI: Đời Lê sơ

Lê Thái Tổ (Lê Lợi, 1428-1433) giao cho Nguyễn Trãi định ra qui chế triều phục và nhã nhạc. Chưa kịp triển khai thì vua mất.

Lê Thái Tông (1434-1442) lại giao việc đó cho Nguyễn Trãi và quan hoạn Lương Đăng. Vì trình độ tầm thường và tinh thần vọng ngoại của người này, Nguyễn Trãi xin trả lại công việc được giao. Vua ưng thuận và sau đó nghe theo ý kiến của Lương Đăng bất chấp sự phản đối của Nguyễn Trãi và bốn đại thần khác.

1437 Lương Đăng trình vua hai loại nhạc cung đình mới sao chép theo qui chế nhã nhạc triều Minh:

1 - Nhạc ở trên điện vua (Đường thượng chi nhạc)

2 - Nhạc ở dưới điện vua (Đường hạ chi nhạc)

Nguyễn Trãi phản đối sự sao chép, tiếp thu thụ động nhạc nước ngoài và đưa ra một quan niệm nhân văn chủ nghĩa cao quí về âm nhạc: " (...) Đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn (...) Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc (...) Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than. Như thế mới không mất cái gốc của nhạc " (Toàn thư) . Vua khen ngợi ý kiến của Nguyễn Trãi, nhưng việc Lương Đăng làm là việc đã rồi. Năm năm sau đó cả nhà Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc (19.9.1442) !

1470 Lương Thế Vinh (tác giả Hí phường phả lục), Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận lại tham khảo nhã nhạc triều Minh và trình với Lê Thánh Tông (1460-1497) - người đã chính thức tẩy oan cho Nguyễn Trãi (1464) - , hai tổ chức nhạc cung đình mới: Đồng văn (khí nhạc) và Nhã nhạc (thanh nhạc). Chung qui, sau nhiều lần tham khảo nhã nhạc triều Minh, nhạc cung đình thời Lê (tk. XV - cuối tk. XVIII) gồm 8 loại: nhạc tế Giao, nhạc tế Miếu, nhạc tế Ngũ tự (năm vị thần), nhạc cứu Mặt trời, Mặt trăng (khi có Nhật thực, Nguyệt thực) Nhạc đại triều, Nhạc thường triều, Nhạc cử 9 lần khi đại yến, Nhạc dùng trong cung. Từ khi chịu ảnh hưởng Trung Hoa, nhạc cung đình Việt (được tôn là " nhã nhạc ") đối lập với nhạc dân gian lâu đời (bấy giờ bị gọi là " tục nhạc ", thậm chí là " dâm nhạc "), bị cấm không được biểu diễn trong triều đình nữa. Sử cổ ghi: " Bãi bỏ các trò chèo hát " (trước mặt vua quan).

Thế kỉ XVI-XVII-XVIII: thời Mạc, Lê Trung hưng, Trịnh, và Lê mạt ở Thăng Long và Đàng Ngoài (lãnh thổ phía bắc sông Gianh)

Bên cạnh Đại Việt sử ký Toàn thư (XV-XVII), Lê triều hội điển (XVII-XVIII), tài liệu phong phú nhất về âm nhạc Đại Việt (Đàng Ngoài) thời kỳ bày là những ghi chép quí báu của Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút và của Lê Quí Đôn trong Kiến văn tiểu lục và Vân đài loại ngữ.

Ở ba thế kỉ sau thời Lê sơ, ngoài các loại nhạc cung đình kể trên còn có thêm Nhạc huyền, Xúy nhạc, Quân nhạc, Nhạc Bả lệnh (dùng trong phủ chúa Trịnh), nhạc Giáo phường (vừa dùng trong dân gian, vừa được đưa trở lại cung đình khi nhạc cung đình suy thái).

Ba thế kỉ ấy cũng là thời nội chiến Mạc-Lê, Trịnh-Nguyễn liên miên, phân tranh Bắc-Nam kéo dài, chúa tiếm quyền vua, xã hội loạn lạc, lầm than; hậu quả là nhạc cung đình Đàng Ngoài ngưng đọng và dần dần đình đốn.

Thế kỉ XVII-XVIII ở Phú Xuân và Đàng Trong: thời các chúa Nguyễn (1558-1777)

Từ những năm 30 của thế kỉ XVII, nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ (tác giả của Hổ trướng khu cơ, Tư Dung vãn, Ngọa Long cương vãn, của hai lũy Trường Dục và Nhật Lệ (Lũy Thầy), tương truyền là tác giả của một số bài hát, điệu múa và vở hát bội cung đình thời các chúa Nguyễn, ông tổ lớn nhất của âm nhạc Huế và hát bội Huế được thờ tại nhà thờ Thanh Bình ở Huế (1572-1634) đã tiếp thu nhạc Đàng Ngoài, và đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1623-1634) lập ra một hệ thống lễ nhạc, triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc cung đình lớn của Đàng Trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo (Đại Nam thực lục tiên biên).

Cuối thế kỉ XVII-đầu thế kỉ XVIII, nhạc cung đình Đàng Trong đã khá hoàn chỉnh, phong phú, hấp dẫn, theo những ghi chép và đánh giá của nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán, thượng khách của chúa Nguyễn Phúc Chu (1692-1725) sau chuyến đi thăm Đàng Trong và Phú Xuân của ông. Được mời xem ca múa nhạc và hát bội tại phủ chúa, nhà sư cho biết điệu múa nổi tiếng thời đó là điệu múa Thái liên diễn tả dáng dấp đài các, trang nhã, tình tứ của các cô " tiểu hầu " của đô thành Phú Xuân vừa chèo thuyền vừa tươi cười hái sen. Các ca nhi vũ nữ ấy " đội mão vàng, áo hoa xanh dài phết đất, thoa son dồi phấn rất mực diễm lệ, làm nao lòng người xem " (hồi ký Hải ngoại kỷ sự, bản dịch, 1963).

Cuối thế kỉ XVIII: thời Tây sơn (1788-1802)

1790, (năm sau đại thắng Đống Đa ở Thăng Long), một vua Quang Trung (giả) cầm đầu một đoàn ngoại gia sang thăm hữu nghị triều đình nhà Thanh, cầu hòa, và chúc thọ hoàng đế Càn Long 80 tuổi . Càn Long ý phong cho vua Đại Việt là " An Nam quốc vương " và vui lòng thưởng thức đoàn " An Nam quốc nhạc " biểu diễn chúc thọ. Nhờ những ghi chép cụ thể của Đại Thanh hội điển sự lệ và tập văn kiện ngoại giao Đại Việt quốc thư của ta mà âm nhạc cung đình thời Tây Sơn hiện ra khá rõ nét. Hội điển triều Thanh đã mô tả chính xác trang phục các nhạc công, ca công và vũ công Việt Nam. Nghệ nhân cung đình Tây Sơn chơi 8 loại nhạc khí mà Hội điển triều Thanh đã ghi lại bằng chữ nôm: " một cái cổ (kai kou: trống), một cái phách (kai p’o), hai cái sáo (kai chao), một cái đàn huyền tử (kai t’an hien tse, có thể là đàn tam), một cái đàn hồ cầm (kai t’an hou k’in), một cái đàn song vận (kai t’an choang wen , có thể là đàn nguyệt) một cái đàn tỳ bà (kai t’an p’i p’a), một cái tam âm la (kai san in lo).

Đó là phần nhạc khí. Về phần hát, Đại Việt quốc thư cho biết bổ sung như sau: Nhân dịp lễ thượng thọ của Càn Long 80 tuổi, đoàn quốc nhạc của ta gồm 6 nhạc công và 6 ca công cung đình đã biểu diễn cho hoàng đế nhà Thanh nghe " nhạc phủ từ khúc thập điệu ". Rất có thể đây là liên khúc 10 bản " Thập thủ liên hoàn " nổi tiếng trong nhã nhạc cung đình Huế, cũng gọi là 10 bản Tấu, hay 10 bài Ngự, thậm chí có nghệ nhân gọi là mười bản Tàu (?) (mà khi được nghe chúng, người Trung Quốc chính hiệu đã cho rằng không có gì là " Tàu " cả). (Đại Thanh HĐSL, bản in 1908, Quyển 528, Thư viện Hội Châu Á Paris; Đại Việt quốc thư, TT Học liệu (Bộ Giáo dục) xb., Sài gòn 1972).

Thế kỉ XIX: Thời thịnh của triều Nguyễn (1802-1885)

Theo những tài liệu tham khảo hiện có, thời kỳ vàng son của âm nhạc cung đình Đại Việt - Việt Nam - Đại Nam là thịnh thời triều Nguyễn trước khi kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. Hai tài liệu chủ yếu là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (đầu thế kỉ XIX) và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Quốc sử quán (giữa thế kỉ XIX) cho biết: Từ sau khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức mất (1883) âm nhạc cung đình Phú Xuân bây giờ quen gọi là NNCĐH đã được phục hồi, chấn chỉnh và phát triển mạnh. Các loại Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại nhiều với nhạc cổ điển thính phòng (ca Huế, đờn Huế) và nhạc tuống cổ điển, cung đình (thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế).

Đáng chú ý là nhiều nhà hát rạp hát lớn nhỏ của vua, đại thần và dân thường được xây dựng làm nơi biểu diễn nhạc cung đình, nhạc cổ điển, hát bội hay nhạc dân gian: Duyệt thị đường trong hoàng thành, Minh Khiêm đường trong lăng Tự Đức, Cửu tư đài trong cung Ninh Thọ, rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên tại tư dinh thượng thư Đào Tấn, đã không loại trừ sự tấp nập của những rạp hát ông Sáu Ớt (Nguyễn Nhơn Từ), rạp hát gia đình họ Đoàn (ở An Cựu), rạp hát bà Tuần (tồn tại đến 1975), v.v...

1802-1819 Thời Gia Long, Việt tương đội, một tổ chức âm nhạc cung đình lớn được thành lập với 200 nghệ nhân. Vua lại cho dựng đài Thông minh, một sân khấu ca múa nhạc và hát bội trong cung Ninh Thọ.

1820-1840 Minh Mạng cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt thị đường (1824), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một Đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh bình từ đường (1825). Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc. Văn bia cho biết vào đời Minh Mạng, nghệ thuật âm nhạc và sân khấu đã phát triển tốt đẹp: " Vũ đài xuân rạng hàng ngũ chỉnh tề, sân khấu mây lồng âm thanh dìu dặt (...) Khánh chuông ra lệnh xướng hòa, kèn trống nhịp nhàng đánh thổi (...) Trải mấy triều vương đều khuyến khích, Biết bao âm nhạc thảy dồi dào (...) Giữa điện đình ca múa, tỏ điềm thái vận nước nhà; Trên lăng miếu xướng hòa, ngưỡng đức cao thâm biển núi ... (bản dịch của Ưng Dự).

1841-1883 Đời Tự Đức, âm nhạc cổ điển, nhã nhạc cung đình và hát bội cung đình đạt tới đỉnh cao. Nhà hát Minh khiêm đường được xây dựng (1864) trong Khiêm cung (sau khi vua mất sẽ gọi là Khiêm lăng). Tương truyền chính Tự Đức đã sáng tác bản nhạc Tứ đại cảnh nổi tiếng. Say mê thơ, nhạc và hát bội hơn chính trị, vua lập nên Hiệu thơ phòng để cùng các danh nho trong triều đình xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác hay nhuận sắc các vở hát bội. Nhà thơ và nhà soạn tuồng lỗi lạc thời Tự Đức là Đào Tấn (1845-1907)

Thế kỉ XIX: Thời suy của triều Nguyễn (1885-1945)

1858-1885 Thực dân Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược nước ta từ Đà Nẵng, rồi chiếm dần Nam Bộ, Bắc Bộ. Tháng 8 năm 1885 kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ. Các vua Nguyễn sau Tự Đức đều được Pháp đưa ra làm vì, mất hết quyền bính. Đời sống cung đình tẻ nhạt, âm nhạc cung đình ngày càng sa sút.

1889-1925 Thành Thái lập Võ can đội, rồi thêm một đội Đồng ấu (nghệ nhân thiếu niên, làm dự bị cho Võ can đội). Tất cả đều hoạt động cầm chừng.

1914-1944 Tập san Những người Bạn của Huế cổ kính (B.A.V.H.) (bằng tiếng Pháp) ra đời và sẽ xuáát bản tổng cộng 120 tập (dày nhiều vạn trang) trong suốt 30 năm dưới sự điều khiển của nhà Việt Nam học lỗi lạc L.m. Léopold Cadière. Nhiều bài nghiên cứu có giá trị về nhạc Huế được công bố trên tập san, nổi bật nhất là công trình của nhạc sĩ cổ điển Hoàng Yến (1919): Âm nhạc ở Huế, đàn nguyệt và tranh.

1925-1945 Dưới thời Bảo Đại, Võ can đội đổi thành Ba vũ đội gồm cả một đội Đại nhạc và một đội Tiểu nhạc tổng cộng khoảng 100 nghệ nhân hoạt động rời rạc, trong lúc chờ đợi làm nhiệm vụ chính: tham gia phục vụ lễ Tế Nam giao (3 năm một lần) (theo lời kể của cụ Lữ Hữu Thi).

1942 là năm cuối cùng triều Nguyễn cử hành lễ Tế Nam giao, cũng là lần cuối cùng NNCĐH được biểu diễn trọng thể trước công chúng.

31-8-1945 Trên Ngọ Môn, hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn vương quốc Đại Nam thoái vị. NNCĐH tạm thời rã đám.

Nửa thế kỉ cố gắng phục hồi: 1945-1993

1946-1975 Một ít lâu sau ngày Bảo Đại thoái vị, cựu hoàng thái hậu Từ Cung thật sự là người có công cứu NNCĐH thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Với tiền của riêng, bà ủy nhiệm ông đội Hòa (Nguyễn Hữu Hòa, con trai ông đội Thức, một cựu chỉ huy NNCĐH nổi tiếng một thời) gom góp các cựu nhạc công cung đình thất nghiệp (Lữ Hữu Thi, Lê Văn Lương, Lữ Hữu Cứ, Nguyễn Mạnh Cẩm, La Cháu, Nguyễn Kế, Trần Kích ...) và tái lập một ban triều nhạc gồm khoảng chừng 15 người và một số con cháu thạo nhạc, để thỉnh thoảng phục vụ các lễ tế, kị lạp do bà và Tôn nhơn phủ tiến hành. Các nghệ nhân ấy và con cháu của họ là hạt nhân của đoàn Ba Vũ còn hoạt động cầm chừng tại Huế cho đến trước 1975 (theo lời kể của cụ Lữ Hữu Thi).

1962 Luận án tiến sĩ của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê được Viện Bảo tàng QG Nghệ thuật Á đông và nxb Đại học Pháp (P.U.F.) công bố tại Paris. Lần đầu tiên hơn 100 trang nghiên cứu nhạc học được dành cho nhạc khí, dàn nhạc và lịch sử nhạc cung đình V.N. Sau khi tác phẩm La Musique Vietnamienne Traditionnelle này được xb, Trần Văn Khê được mời viết về nhạc V.N. và nhạc châu Á trên nhiều Bách khoa thư Âu-Mỹ trong những năm 60-90.

1963-1968 Hai nhà nhạc học Việt Nam Giáo sư Nguyễn Hữu Ba (Tỳ Bà trang, Trường Quốc Gia Âm nhạc và Kịch nghệ Huế và Sài Gòn) và Giáo sư Trần Văn Khê (CNRS, CEMO Paris) - được sự ủng hộ của nhà nhạc học Alain Daniélou và sự tài trợ của Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc Đối chiếu (Tây Bá Linh) mà ông Daniélou là Viện trưởng, đã tiến hành ghi âm, chụp ảnh, nghiên cứu nhạc cổ điển và NNCĐH nhằm thực hiện một đĩa hát do UNESCO bảo trợ và xuất bản trong bộ Hợp tuyển Âm nhạc phương Đông. Tại Huế, ns. Nguyễn Hữu Ba , người trực tiếp phụ trách ghi âm, chụp ảnh... đã nhiều lần làm việc với ông đội Hòa và các lão nghệ nhân trong và ngoài Đoàn Ba Vũ để ghi âm nhiều bài bản ca nhạc Huế cổ điển và cung đình.

1967 Nhà xuất bản Buchet-Chastel tại Paris ấn hành cuốn Musique du Việt Nam của Trần Văn Khê. Trong tác phẩm cập nhật hóa này (lại được tái bản và bổ sung năm 1996), tác giả đã dành hơn 50 tr. để nói về nhạc khí, nhạc cung đình và nhạc cổ điển Huế.

1969 UNESCO công bố đĩa hát Việt Nam I: Âm nhạc Huế, do Nguyễn Hữu Ba và Trần Văn Khê chỉ đạo nghệ thuật, Trần Văn Khê viết bài giới thiệu (tiếng Pháp, Anh, Đức) (Barenreiter Musicaphon, BM-30-L 2022).

1969-1970 Đĩa hát Việt Nam I: Âm nhạc Huế (trong bộ Hợp tuyển Âm nhạc phương Đông của UNESCO) này liên tiếp được 2 giải thưởng lớn về âm nhạc và dân tộc nhạc học: Giải Schallplatten Preis của Cộng hòa Liên bang Đức 1969 và Giải thưởng Viện Hàn lâm Đĩa hát Pháp 1970.

Sự thành công rực rỡ của Đĩa hát Việt Nam I (chứa đựng nhiều tác phẩm NNCĐH) đã đánh dấu sự sống lại và phục hồi một di sản văn hóa Việt Nam: từ nay cả thế giới biết Việt Nam và cố đô Huế có một nền nhã nhạc cung đình xứng đáng sánh vai với Ya yue của Trung Quốc, Gagaku của Nhật Bản, Ah Ak của Triều Tiên ...

1970 Một đoàn nghệ thuật truyền thống Việt Nam do gs Nguyễn Hữu Ba dẫn đầu đã tham dự và biểu diễn trên sân khấu lớn của Expo Quốc tế Osaka 1970. Một số bài bản nhạc cung đình, tiết mục múa cung đình được khán giả Nhật Bản và quốc tế thưởng thức. Đây là lần thứ hai Nhã Nhạc Cung Đình Phú Xuân - Huế được biểu diễn tại nước ngoài (lần thứ nhất cuối thế kỷ XVIII, tại triều đình nhà Thanh, dưới tên gọi " An Nam Quốc Nhạc " như đã nêu trên).

1981 Tổng giám đốc UNESCO A.M. M’BOW đến Hà Nội và Huế phát động cuộc vận động quốc tế giúp V.N. bảo vệ trùng tu di tích lịch sử - văn hóa Huế. Nhân buổi biểu diễn ca múa nhạc cung đình Huế chào mừng đoàn thượng khách UNESCO, gs Trần Văn Khê đã đặt vấn đề với ông Tổng giám đốc: "Chúng tôi vô cùng cám ơn Ngài đã lên tiếng kêu gọi thế giới giúp Việt Nam bảo vệ và trùng tu những di tích lịch sử - văn hóa ở Huế. Nhưng cung điện lăng tẩm chỉ là cái xác, còn cái hồn của Huế là thi ca, âm nhạc, vũ điệu, kịch nghệ. Ngài có nghĩ đến việc bảo tồn những di sản văn hóa phi vật thể đó không ?

- Chưa, nhưng sẽ phải nghĩ đến . " Một thời gian sau đó, ông M’Bow về hưu.

Sự phục hưng của di sản văn hóa Huế: 1993-2003

1993 Lần đầu tiên UNESCO công nhận một di sản nghệ thuật kiến trúc Việt Nam là di sản văn hóa thế giới: Tổng thể di tích lịch sử văn hóa cố đô Huế (11-12-1993).

1993 Trung Tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế (TTBTDTCĐH) được thành lập, đảm trách một lúc hai chức năng: bảo tồn trùng tu di tích kiến trúc, bảo tồn khôi phục di sản văn hóa phi vật thể của cố đô. Trả lời phỏng vấn tạp chí Sông Hương (Huế), Phó giám đốc TTBTDTCĐH Phùng Phu cho biết: Trong những năm qua, Trung tâm đã kết hợp với các trường Đại học, các nghệ nhân lão thành, các chuyên gia Nhật Bản ... để đào tạo diễn viên, xây dựng nội dung biểu diễn và thành lập Nhà hát Nghệ thuật cung đình Huế mà trụ sở là Nhà hát Duyệt thị đường cổ kính. Sau 9 năm thành lập (1994-2003) Nhà hát đã:

- Sưu tầm nghiên cứu bảo tồn 10 nhạc chương trong lễ Tế giao, 9 nhạc chương trong lễ Tế miếu, 5 nhạc khúc trong các lễ Đoan Dương, Vạn Thọ và Tết Nguyên đán, 40 nhạc khúc của Tiểu nhạc, 14 nhạc khúc kèn của Đại nhạc, 10 nhạc khúc nhạc ngự triều, 15 nhạc khúc của hệ thống múa cung đình, khôi phục 7 điệu múa cung đình, dàn dựng 13 điệu múa mới, tuyển chọn 13 trích đoạn tuồng cổ phục vụ cho lễ hội và giao lưu nghệ thuật, ghi băng hình tư liệu về các nghệ nhân lão thành của âm nhạc Huế và hát bội Huế , lập hồ sơ khoa học về hai điệu múa cung đình, nghiên cứu phục hồi các lễ Truyền lô, Tế giao, Tế Xã tắc. Đoàn nghệ nhân của Nhà hát đã tham gia nhiều Liên hoan Nghệ thuật âm nhạc và sân khấu trong nước, đoạt nhiều huy chương vàng trong các kỳ Hội diễn, đã đi biểu diễn tại một số nước châu Á, châu Âu, chạu Mỹ.

TTBTDTCĐH đã tham gia nhiều cuộc triển lãm di sản văn hóa Việt Nam và di sản văn hóa Huế tại nhiều nước Á, Âu, Lỹ, đặc biệt Trung tâm đã

- Lập dự án Qui hoạch, bảo tồn và Phát huy Giá trị Di tích Cố đô Huế 1996-2010 đã được Chính phủ VN phê duyệt ;

- Lập hồ sơ về NNCĐH trình UNESCO, với kết quả tốt đẹp đã biết.

Ngoài ra Trung tâm đã:

- Lập các Dự án chỉnh trang nội thất các cung điện, lăng miếu, phục chế đồ sứ, y phục cung đình v.v...

- Xuất bản nhiều sách nghiên cứu, sách giới thiệu du lịch, tập san, tạp chí, tuyển tập về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cố đô Huế.

- Cán bộ nghiên cứu khoa học của Trung tâm đã có những công trình được in trong nước và ngoài nước, ví dụ các sách, bài viết của Phan Thuận An, Mai Khắc Ứng, v.v...

1993 Nhà xuất bản Âm nhạc và Nhạc viện Hà Nội công bố công trình của nhà nhạc học Nguyễn Thụy Loan " Lược sử Âm nhạc Việt Nam" trong đó tác giả đã dành một chỗ xứng đáng cho NNCĐH.

6/1993 Tại trụ sở UNESCO ở Paris Hội thảo quốc tế Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại lần đầu tiên được tổ chức, mà hệ quả là UNESCO từ đó sẽ công nhận một số di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại hai năm một lần. 2001 (đợt I) và2003 (đợt II) ... Tại Hội thảo, đại biểu Việt Nam Đào Việt Trung (UBQG UNESCO Việt Nam) đưa ra dự án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của cố đô Huế và của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Hai gs G. Condominas và Trần Văn Khê đọc tham luận sôi nổi bênh vực dự án của Việt Nam và đề nghị UNESCO đứng ra tổ chức Hội thảo quốc tế tại Việt Nam để thảo luận rộng rãi vấn đề đặt ra. Hình như hai nhà bác học Việt và Pháp đã thành công thuyết phục ban lãnh đạo UNESCO như sẽ thấy trong năm sau.

Mùa xuân 1994, UNESCO tiến hành tổ chức hai Hội thảo quốc tế một tại Hà Nội về Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Tây Nguyên và một tại Huế về Di sản văn hóa phi vật thể cố đô Huế. Riêng tại Huế, nhiều chuyên gia Nhật Bản, Philippin, Pháp, Hoa Kỳ, Việt Nam ... phát biểu nhiệt tình ủng hộ dự án của Việt Nam đã trình bày tại UNESCO năm trước. Đặc biệt các giáo sư Nhật Bản Tokumaru Yoshihiko và Yamakuti Osamu đã đưa ra một dự án yểm trợ rất cụ thể, khẩn trương và khả thi mà toàn thể cử tọa cuộc Hội thảo và nhất là một số cơ quan ngoại giao và văn hóa của Nhật Bản nhiệt tình hưởng ứng một cách đầy hiệu quả như sẽ thấy sau đây.

Tháng 7-1994 Cơ quan văn hóa Nhật Bản Arion Edo chính thức mời một đoàn nghệ thuật âm nhạc và múa cung đình Huế sang tham dự và biểu diễn tại Đại nhạc hội quốc tế mùa hè ở Tokyo. Đoàn do nghệ sĩ La Cẩm Vân, trưởng đoàn Ba Vũ Huế, (Con gái lão nghệ nhân La Cháu và cũng là nữ nghệ nhân trẻ nhất đã tham gia biểu diễn nhạc và múa cung đình tại Expo quốc tế Osaka 24 năm trước) dẫn đầu. Đoàn đã biểu diễn thành công ở Tokyo, Kyoto và một số địa điểm khác ở Nhật Bản, đã cho phép Đài Truyền hình NHK thu hình toàn bộ chương trình biểu diễn của mình được đánh giá là đặc sắc và sau đó phát lại rộng rãi trên sóng để phục vụ quần chúng cả nước Nhật Bản.

1995 Sau chuyến đi của đoàn nghệ thuật cung đình Huế do La Cẩm Vân dẫn đầu, hai gs Yamakuti và Tokumara đã dễ dàng vận động và thành công thuyết phục Toyota Foundation tài trợ một đoàn nhà nghiên cứu nhạc học và chuyên viên kỹ thuật Nhật Bản, với sự cố vấn của nhà nhạc học VN Trần Văn Jhê, đến Huế vào mùa xuân 1995 để nghiên cứu NNCĐH và trong nhiều ngày đã ghi âm ghi hình tất cả những gì các lão nghệ nhân cung đình trên dưới 80 tuổi còn nhớ được, làm được ... bằng những phương tiện kỹ thuật nghe nhìn hiện đại nhất để làm nên một bộ hồ sơ Tài liệu nhạc học dùng vào việc nghiên cứu, giảng dạy, đối chiếu ..., bản chính lưu trữ tại Đại học Tokyo và Đại học Osaka, một bản sao tặng Việt Nam.

1997-2001 Việc thứ ba mà hai Giáo sư Yamakuti và Tokumaru đã vận động thành công là việc Japan Foundation đồng ý tài trợ cho việc mở một lớp Đại học Nhã nhạc (mỗi khóa 4 năm) nhằm đạo tạo nghệ nhân, nhạc sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc cung đình, trong khuôn khổ Trường Đại học Nghệ thuật Huế. Lớp Đại học Nhã nhạc ấy đã khai mạc với 11 sinh viên dưới sự dìu dắt truyền nghề của ba nghệ nhân cung đình lão thành vào mùa thu 1996 và đã kết thúc khóa học đầu tiên vào mùa hè 2000 với 11 cử nhân âm nhạc cung đình thuộc lứa tuổi trên dưới 30.

1997 Ghi ơn hai giáo sư âm nhạc học Nhật Bản về kiệt tác giao lưu văn hóa mà họ đã tạo nên trong những năm 90 vừa qua, không thể không nhắc đến lời giới thiệu của gs Trần Văn Khê dành cho cuốn Âm nhạc cung đình triều Nguyễn của Trần Kiều Lại Thủy, (Nhà xb Thuận Hóa - Huế , 1997, 268 tr., 22 ảnh tư liệu, 33 ví dụ âm nhạc): " (...) Đến nay chưa có quyển sách nào bằng tiếng Việt viết về đề tài này (...) công trình Âm nhạc cung đình triều Nguyễn có rất nhiều tư liệu, dẫn chứng từ các sách sử, đặc khảo về nhạc cung đình Huế, và những nhận xét của tác giả vể mặt nhạc sử cũng như về nhạc học rất bổ ích cho những ai muốn biết về âm nhạc cung đình Huế dưới thời Nguyễn (...) Tôi rất mong công trình của Trần Kiều Lại Thủy được in ra để cho các nhà nghiên cứu âm nhạc có dịp đọc và bổ sung về một loại nhạc được các nhà nhạc học Nhật Bản đánh giá cao, rất độc đáo của dân tộc Việt Nam mà đến nay còn ít người được biết ".

2000, 2002, 2004 Tại các Festival Huế tổ chức vào mùa hè, ba Festivals quốc tế lớn đối với Việt Nam và Đông Nam Á bởi vì chúng đã và sẽ huy động nhiều nước Á-Âu-Mỹ (Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc, các nước ASEAN, Pháp, ga, Argentine ...) - nhã nhạc cung đình Huế đã và sẽ giữ một vị trí đáng kể, chiếu theo chương trình các hoạt động văn hóa - nghệ thuật - lễ hội - du lịch đã được công bố .

2001 Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã trao giải nhất chuyên đề Nghiên cứu - Lý luận của Hội năm 2001 cho công trình của Võ Thanh Tùng (Nhà xb Âm nhạc, Hà Nội, 440 tr.): Nhạc khí dân tộc Việt kèm theo CD-Rom Nhạc khí Dân tộc Việt là một tập hợp 700 tr. chứa gọn trong một CD-Rom giới thiệu bằng hình ảnh và âm thanh 45 nhạc khí của người Việt. CD-Rom cũng như quyển sách đã được đánh giá cao: " (...) Tác giả đã bỏ nhiều công sức để sưu tầm tư liệu, sáp xếp hình ảnh và nhờ có đủ kiến thức về kỹ thuật hiện đại của Tin học và phương pháp luận, đã hoàn thành một công trình độc đáo đến nay chưa thấy trên đất nước Việt Nam.

Lượng thông tin rất cao, lời giới thiệu ngắn gọn mà đầy đủ, hình ảnh rõ ràng. Với đĩa CD-Rom, người xem không chỉ thấy hình dáng nhạc khí và tư thế nhạc công lúc đánh đàn thổi sáo ... mà còn nghe được âm thanh của mỗi nhạc khí. Có rất nhiều chi tiết của 45 nhạc khí (mà số lớn là nhạc khí cung đình) mà việc tham khảo của người nghiên cứu dễ dàng nhanh chóng hơn lật một quyển sách " (Trần Văn Khê, trích lời giới thiệu)

CD-Rom Nhạc khí dân tộc Việt này của Võ Thanh Tùng đưộc đánh giá là công trình đầu tiên về nhạc khí truyền thống được số hóa (numérisé) khởi đầu của các nước trong khu vực.

Mùa thu tháng 8-2002 Căn cứ vào thông báo trên, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức Hội thảo Quốc tế về NNCĐH tại cố đô của hai triều Tây Sơn, Nguyễn trong hai ngày 26-27, qui tụ đông đảo nghệ nhân già trẻ, các nhà nghiên cứu, quản lý và nhiều chuyên gia đến từ các châu Á, Âu, Mỹ, Úc. Tại Hội Thảo này giá trị lịch sử và nghệ thuật lớn của NNCĐH đã được xác nhận, và toàn thể cử tọa chờ đợi mong mỏi một công nhận quốc tế kiên quyết, dứt khoát.

Tháng 9-2002 Sau khi Hồ sơ NNCĐH được gởi đến UNESCO, bà Noriko Aikawa một nhà văn hóa Nhật Bản, Trưởng phòng Văn hóa và Sáng tạo Nghệ thuật của UNESCO, một trong những nhân vật có tiếng nói quan trọng trong lãnh vực văn hóa tại tổ chức này của LHQ đã cùng gs Trần Văn Khê, ủy viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc, nguyên phó chủ tịch Hội đồng, đã dành nhiều thì giờ, công sức để giúp Việt Nam hoàn thiện hồ sơ nói trên phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

Cuối 2002 - đầu 2003 Nhà văn hóa Việt kiều Trịnh Bách vốn là một nghệ sĩ đàn ghi ta tài hoa - môn đệ của Andrés Segovia lỗi lạc (1893-1987) bậc thầy đã cách tân kỹ thuật ghi ta - sau một thời gian say mê tìm hiểu và phục chế thành công trang phục hoàng gia triều Nguyễn, được tổng thống Mỹ Bill Clinton khen ngợi, đã đến Huế bắt đầu tìm hiểu NNCĐH, làm việc nhiều ngày (ghi âm, quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn) với những nghệ sĩ cung đình lão thành nay đã trên dưới 90 tuổi: Lữ Hữu Thi, Lữ Hữu Cử, Lê Văn Lương... Kết quả là loạt bài Nhã nhạc Việt Nam trong cung đình triều Nguyễn đăng trên tạp chí Xưa và Nay (Hà Nội), các số 134-136 (tháng 2-3/2003) chứa đựng nhiều thông tin nhạc học sâu sắc, ngẫm nghĩ mới mẻ. Đặc biệt đáng chú ý là những dòng kết luận của nhà văn hóa Việt kiều đầy tâm huyết: " Lâu nay người ta nhắc nhiều đến các danh từ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Chúng ta cũng đã từng đề nghị UNESCO đưa nhã nhạc triều Nguyễn vào danh sách Di sản văn hóa nhân loại. Trong khi đó thì một di sản văn hóa sống như cụ Lữ Hữu thi (sinh năm 1909) cần phải được bảo tồn và khai thác để duy trì những tinh hoa văn hóa dân tộc. Nhưng tiếc thay chỉ mới có người nước ngoài (người Nhật bản) quan tâm đến việc khai thác kiến thức (và tài năng) của cụ, còn trong nước thì mấy ai biết đến (di sản văn hóa sống này) ".

7-11-2003 Một tin lớn đã đến với Việt Nam: tại buổi lễ trọng thể công bố kết quả hội thẩm quốc tế về các kiệt tác được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (đợt một đã diễn ra cuối năm 2001 mà không có V.N.) diễn ra tại trụ sở của UNESCO tại Paris, ông Tổng giám đốc Koichiro Matsura đã tuyên bố Nhã nhạc Cung đình Huế (NNCĐH) cùng với 27 kiệt tác các nước khác được công nhận tại đợt 2 này. Như vậy NNCĐH là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của VN được quốc tế công nhận.

Từ giữa tháng 11-2003 đến trước Tết 2004, nhiều buổi phát thanh truyền hình trong và ngoài nước (Đài Tiếng nói Việt Nam, các Đài Truyền hình của Việt Nam, Đài RFI Pháp, đài BBC Anh, đài VOA Hoa Kỳ, đài SBS Úc ... đưa tin, phát bài phỏng vấn gs Trần Văn Khê và những nhà văn hóa Việt Nam khác, nhiều bài viết xuất hiện trên báo chí cuối năm, nhất là trên các báo Xuân-Tết.

Tối 12-1, Mười ngày trước Tết Giáp Thân, Đoàn Nghệ thuật Phú Xuân (Huế) gồm 16 nghệ sĩ đã biểu diễn NNCĐH trước một cử tọa đông đảo tại Văn Miếu - Quốc tử Giám Hà Nội gồm các đại sứ, các nhà ngoại giao, đại diện các Tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa Việt Nam. Chín tác phẩm cung đình như khúc nhạc Tam luân cửu chuyển (cầu cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình), Đăng Đàn cung (nhạc đón khách) Mã vũ, Mang (nhạc hội cung đình), Tương tư khúc (nỗi lòng cô đơn của người cung nữ cấm cung), Phạt ô lâm, Lân mẹ đẻ lân con (điệu múa của tình mẫu tử, phụ tử V.N.) và điệu hát hoành tráng Lục cúng hoa đăng đã được hoan nghênh.

- Một đoàn NNCĐH gồm 20 nghệ sĩ trong đó có nghệ nhân ưu tú và lão thành Trần Kích ngoài 90 tuổi đã đến Paris để biểu diễn tại Hội trường lớn của UNESCO đêm 31/1/2004 nhân buổi lễ trao bằng Di sản văn hóa phi vật thể là NNCĐH cho Việt Nam. Sau đó Đoàn đã biểu diễn một số nơi tại Pháp, Bỉ.

Âu lo Nhã nhạc

Cuối tháng 12-2003 đầu năm 2004 báo Tuổi Trẻ và một số báo khác công bố bài viết và ý kiến của những người quan tâm đến vấn đề hiện trạng Nhã nhạc cung đình Huế " được bảo tồn thì ít, bị cải biên thì nhiều ".

Đáng kể là:

- Hồ sơ chuyên đề Âu lo Nhã nhạc (báo Tuổi Trẻ số ra ngày 27-12-03) đã phản ảnh:

- Ý kiến của lão nghệ nhân cung đình Lữ Hữu Thi " bất bình với lối tấu nhạc cung đình cắm đầu mà đánh, quá nhanh, các nữ vũ công thì vừa múa vừa cười. Trước mặt vua mà như vậy thì chắc chắn đã bị ăn đòn. Lối biểu diễn đó bộc lộ sự bất cập trong nhận thức về bảo tồn di sản " ...

- Ý kiến lão nghệ nhân cung đình Trần Kích, nghệ sĩ ưu tú, giảng viên lớp Đại học Nhã nhạc tại Đại học Nghệ thuật Huế: " Những cung điện, đền đài của vua bị sụp đổ đang được làm lại đúng như nguyên gốc ngày xưa, thì với âm nhạc cung đình cũng phải vậy. Cái kiểu phối khí như nhạc Tây đó chỉ hợp với các đoàn nghệ thuật hoặc ở trường nhạc. Còn nếu Nhà hát Cung đình Huế muốn biến tấu như vậy thì xin đừng làm ở trong Duyệt thị đường".

- Nhân có tình trạng nhạc công, vũ công nỗ lực làm vừa lòng khách du lịch (bằng cách đánh say sưa và những nụ cười tình) chứ không phải cho du khách thấy âm nhạc cung đình đúng như ngày xưa, tình trạng nhạc lễ cung đình mà hòa âm phối khí như kiểu hòa tấu của âm nhạc phương Tây, còn trang phục của nhạc công vũ công cũng được sáng tạo để trở nên hoành tráng, rực rỡ hơn, mà khi hỏi: Có đúng là của Triều Nguyễn không thì không ai trả lời được, nhạc sĩ - nghệ nhân Trịnh Bách, người đã và đang phục chế trang phục triều Nguyễn đã cho biết "chiếc khăn vành nữ nhạc công đội là kiểu khăn vành của cô dâu thời 1960, còn trang phục của vũ công múa Lục cúng hoa đăng thì " giống như của tuồng chèo".

- Giáo sư Tô Ngọc Thanh, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật, Tổng thư ký Hội Văn nghệ Dân gian đã phản ứng mạnh mẽ:

"Lâu nay một số người có thói quen xem mọi thứ của cha ông để lại đều là lạc hậu, cần phải nâng cao, phải phát triển, mà thực ra là lấy mẫu hình của các nước phát triển làm khuôn vàng thước ngọc...”.

"Không ai phá mái cong Ngọ Môn và đổ mái bằng cho nó " hiện đại" và" phát triển". Vì vậy, không thể biến dàn nhã nhạc thành dàn giao hưởng để gọi là phát triển nhã nhạc”.

"Việc nghiên cứu kỹ những giá trị triết học, nghệ thuật, âm nhạc của nhã nhạc, rồi đem của cải xưa chỉ dành cho vua chúa ra phục vụ nhân dân và bạn bè năm châu, đó chính là phát triển vị thế của nhã nhạc”.

"Khi nhã nhạc được công nhận là "kiệt tác của nhân loại", tức là thêm một bước phát triển mới nữa".

- Bài viết của Nguyễn Đắc Xuân có kèm ảnh minh họa: "Nhã nhạc cung đình Huế: khắc khoải một lời đề nghị " (Tuổi Trẻ, ngày 5-1-2004), cũng đã là một tiếng gọi thống thiết: " (...) Duyệt thị Đường đã được cải tiến thành Nhà hát Nghệ thuật cung đình Huế để hàng ngày diễn bốn suất " Ca múa nhạc mang màu sắc Huế xưa " (...) Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế có quyền làm việc đó (...) Tuy nhiên, với tư cách một người nghiên cứu Huế là cháu nội của một nhạc công (Nguyên Đắc Tiêu) đội Nhạc chánh Nam triều (tức đội Tiểu nhạc) trải qua 4 đời vua cuối cùng của nhà Nguyễn, tôi (Nguyễn Đắc Xuân) xin có lời đề nghị: Để tránh ngộ nhận, trong thời gian chờ sự thẩm định của một hội thảo khoa học dưới sự chủ trì của Bộ Văn hóa.

 - Thông tin, chương trình biểu diễn của Nhà hát Nghệ thuật cung đình Huế đang diễn trong Duyệt thị đường hiện nay không nên giới thiệu là nhã nhạc cung đình Huế, nhất là khi giới thiệu với người nước ngoài ".

Tháng giêng 2004 - Từ Paris Giáo sư Trần Văn Khê, một trong những người đã đóng góp nhiều nhất cho sự phục hồi và trung hưng của NNCĐH cũng đã tham gia vào cuộc thảo luận vấn đề bảo tồn và cải biên nóng hổi vừa nêu trẹn: " Chúng ta rất vui mừng, phấn khởi khi được thế giới công nhận nhạc cung đình Việt Nam là một kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Đúng như lời ông Phan Tiến Dũng đã nói: "Giữ gìn danh hiệu cao quí đó còn gian nan hơn" . Riêng chúng tôi, từ lâu đã lên tiếng bảo tồn vốn cổ, không phải chỉ trong truyền thống âm nhạc Việt Nam mà của nhiều nước trên thế giới. Bảo tồn vốn cổ không phải là nệ cổ. Phát triển vốn cổ không phải cùng nghĩa với công việc đổi mới một cách vô ý thức.

Chúng tôi đã thường nói: "Di sản văn hoá của ông cha ta để lại có bề dày của lịch sử, bề sâu của nghệ thuật. Chúng ta nên vô cùng thận trọng trong việc giữ gìn và nhất là trong công việc phát triển. Đừng để cho nhiệt tình của chúng ta bị danh từ hiện đại đưa chúng ta đến chỗ lòng muốn làm cho đẹp, cho hay hơn xưa, làm giàu cho vốn cổ, mà thật sự làm biến chất cái hay của truyền thống, có khi đi đến chỗ phá tan truyền thống, làm mất bản sắc dân tộc và rơi vào mảnh đất ngoại lai".

Chúng ta sẽ cùng nhau lo công việc giữ gìn danh hiệu cao quí mà Âm nhạc cung đình Huế vừa nhận được " (Tập san Đoàn Kết (Paris) số 492-193, tháng 1-04). Những dòng tâm huyết trích dẫn trên đây xứng giúp cho chúng ta, những người làm văn hóa - và nhất là các nhà quản lý văn hóa ở Việt Nam - suy ngẫm kĩ càng để hành động đúng đắn hữu hiệu./.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online